Tác giả : Tamandieungo
CHƯƠNG V:NHỮNG CÂU CHUYỆN CỦA MÁ
Nhà tôi cũng làm nghề gói bánh tét. Tính đến tôi tổng cộng là bốn đời. Cái gánh bánh tét ấy đã đưa gia đình tôi qua những chặng đường gian khổ nhất, nuôi ba tôi vào trường Petrus Ký rồi đi du học nước ngoài (xin nói thêm, ngày xưa được du học là hoàn toàn miễn phí, lạI còn được cấp học bổng nữa). Cũng nhờ cái gánh bánh tét này mà chúng tôi được trưởng thành. Nhiệm vụ của mấy anh em tôi là mỗI sáng thức dậy lúc 5 giờ để phụ cột bánh, xâu bánh lạI theo chục và chất bánh vào nồI để nấu. Trẻ con thức dậy sớm thường hay buồn ngủ. Thằng em tôi ngồI cột bánh mà nó mổ như gà. Còn tôi, bà nộI kêu châm nước thêm vào thùng nấu bánh, tôi bưng luôn nguyên thùng trấu đổ vô nồi… báo hạI bữa đó bị mấy roi cháy đít..
Những lúc biết tụI tôi quá buồn ngủ, nộI tôi thường kể chuyện đờI xưa. Có những câu chuyện nghe đi nghe lạI mãi mà không biết chán: chuyện Thạch Sanh chém Chằn, chuyện Chàng nhái Kiểng Tiên, chuyện Đứa con trờI đánh… Cho đến giờ, tôi vẫn nhớ in những câu thơ nộI đọc:
“Đờn kêu trách bấy Lý Thông
Nỡ quên hiền đệ đem lòng bạc phai
Đờn kêu ai bắn chim bay
ĐạI bàng gãy cánh chạy dài xuống hang
Đờn kêu tích tịch tình tang
Ai đem công chúa lên thang mà về…”
Có khi nộI mệt, tôi xung phong kể chuyện cho nộI nghe. Quẩn quanh vẫn là các chuyện tiếu lâm, chuyện xe cán chó … mà tôi nhặt nhạnh được trong những lúc lê la trong xóm. Đặc biệt, mấy câu chuyện ma tôi kể tạo cảm hứng cho mọI người. Chỉ có cô Ba tôi bị lãng tai không nghe, còn lạI đều im lặng một cách tôn trọng làm tôi rất cao hứng. Các câu chuyện ma tôi kể làm má tôi nhớ về những năm tháng còn ở vớI ngoại. Và đây, hồI ức và những câu chuyện ma của má tôi…
Quê ngoạI của tôi ở Củ Chi, quê hương của địa đạo, nơi từng được khen tặng danh hiệu “Đất thép thành đồng”. Suốt hai trào Pháp Mỹ, gần phân nửa số dân ở đây đã về vớI đất. Từ những ngườI dân thường vô tộI cho đến những ngườI cầm súng… đạn bom không chừa một ai. HồI chín năm (bà con có thói quen gọI thờI kì chống Pháp giai đoạn 1945 – 1954 như thế), vùng quê ngoạI tôi nằm giữa hai chiến tuyến – một bên là quân độI giáo phái Cao Đài thân Pháp và một bên là Việt Minh. NgườI dân vì không nỡ rờI bỏ mảnh đất tổ tiên, nên trở thành nạn nhân của cả hai phía. Ban ngày, lính Cao Đài vào nhà yêu cầu gia đình phảI dán cờ đạo để được bảo hộ. Ban đêm, Việt Minh đến gõ cửa những căn nhà có dán cờ, đưa chủ nhà đi biệt tích. NgườI dân luôn sống trong cảm giác thấp thỏm lo âu, sợ hãi không biết khi nào sẽ tớI mình…. Vậy là, bà con phảI sống theo “con nước”. Lính đến, cờ dán lên. Lính đi, cờ hạ xuống… Chỉ một giai đoạn chín năm, không biết bao nhiêu ngườI đã trở thành cô hồn dã quỉ theo cách như thế.
CHƯƠNG V:NHỮNG CÂU CHUYỆN CỦA MÁ
Nhà tôi cũng làm nghề gói bánh tét. Tính đến tôi tổng cộng là bốn đời. Cái gánh bánh tét ấy đã đưa gia đình tôi qua những chặng đường gian khổ nhất, nuôi ba tôi vào trường Petrus Ký rồi đi du học nước ngoài (xin nói thêm, ngày xưa được du học là hoàn toàn miễn phí, lạI còn được cấp học bổng nữa). Cũng nhờ cái gánh bánh tét này mà chúng tôi được trưởng thành. Nhiệm vụ của mấy anh em tôi là mỗI sáng thức dậy lúc 5 giờ để phụ cột bánh, xâu bánh lạI theo chục và chất bánh vào nồI để nấu. Trẻ con thức dậy sớm thường hay buồn ngủ. Thằng em tôi ngồI cột bánh mà nó mổ như gà. Còn tôi, bà nộI kêu châm nước thêm vào thùng nấu bánh, tôi bưng luôn nguyên thùng trấu đổ vô nồi… báo hạI bữa đó bị mấy roi cháy đít..
Những lúc biết tụI tôi quá buồn ngủ, nộI tôi thường kể chuyện đờI xưa. Có những câu chuyện nghe đi nghe lạI mãi mà không biết chán: chuyện Thạch Sanh chém Chằn, chuyện Chàng nhái Kiểng Tiên, chuyện Đứa con trờI đánh… Cho đến giờ, tôi vẫn nhớ in những câu thơ nộI đọc:
“Đờn kêu trách bấy Lý Thông
Nỡ quên hiền đệ đem lòng bạc phai
Đờn kêu ai bắn chim bay
ĐạI bàng gãy cánh chạy dài xuống hang
Đờn kêu tích tịch tình tang
Ai đem công chúa lên thang mà về…”
Có khi nộI mệt, tôi xung phong kể chuyện cho nộI nghe. Quẩn quanh vẫn là các chuyện tiếu lâm, chuyện xe cán chó … mà tôi nhặt nhạnh được trong những lúc lê la trong xóm. Đặc biệt, mấy câu chuyện ma tôi kể tạo cảm hứng cho mọI người. Chỉ có cô Ba tôi bị lãng tai không nghe, còn lạI đều im lặng một cách tôn trọng làm tôi rất cao hứng. Các câu chuyện ma tôi kể làm má tôi nhớ về những năm tháng còn ở vớI ngoại. Và đây, hồI ức và những câu chuyện ma của má tôi…
Quê ngoạI của tôi ở Củ Chi, quê hương của địa đạo, nơi từng được khen tặng danh hiệu “Đất thép thành đồng”. Suốt hai trào Pháp Mỹ, gần phân nửa số dân ở đây đã về vớI đất. Từ những ngườI dân thường vô tộI cho đến những ngườI cầm súng… đạn bom không chừa một ai. HồI chín năm (bà con có thói quen gọI thờI kì chống Pháp giai đoạn 1945 – 1954 như thế), vùng quê ngoạI tôi nằm giữa hai chiến tuyến – một bên là quân độI giáo phái Cao Đài thân Pháp và một bên là Việt Minh. NgườI dân vì không nỡ rờI bỏ mảnh đất tổ tiên, nên trở thành nạn nhân của cả hai phía. Ban ngày, lính Cao Đài vào nhà yêu cầu gia đình phảI dán cờ đạo để được bảo hộ. Ban đêm, Việt Minh đến gõ cửa những căn nhà có dán cờ, đưa chủ nhà đi biệt tích. NgườI dân luôn sống trong cảm giác thấp thỏm lo âu, sợ hãi không biết khi nào sẽ tớI mình…. Vậy là, bà con phảI sống theo “con nước”. Lính đến, cờ dán lên. Lính đi, cờ hạ xuống… Chỉ một giai đoạn chín năm, không biết bao nhiêu ngườI đã trở thành cô hồn dã quỉ theo cách như thế.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét