Thứ Ba, 27 tháng 4, 2010

Đi tìm lời giải về địa đạo huyền bí cách Hồ Tây 1 km

(VTC News) - Thời gian gần đây, người dân Hà Nội cũng như cả nước khá xôn xao về việc phát hiện một địa đạo mà cửa chui xuống bắt đầu từ làng Quán La (Xuân La, Tây Hồ). Người dân ở ngôi làng này xì xào bàn tán không ngớt. Từ những câu chuyện đầu làng góc phố, rất nhiều huyền thoại đã được thêu dệt, khiến địa đạo mỗi ngày lại phần huyền bí.

Ông Nguyễn Văn Chinh trong lòng "địa đạo". 

Sự thật và huyền thoại về ngôi đình và hệ thống hang động
Vòng vèo một hồi qua những con ngõ nhỏ, người ra người vào, chợ búa đông đúc như nêm, rồi tôi cũng tìm thấy đình Quán La, cách Hồ Tây chừng hơn km.
Đình Quán La mới được quét vôi trắng xóa, nằm cạnh cây đa khổng lồ và cây thị ngàn tuổi. Đình nằm trọn trên một gò đất cao ráo. Áng chừng gò đất này cao vượt tầng 2 của những tòa nhà bên cạnh.
Hỏi chuyện ngôi đình cổ và địa đạo dưới lòng gò, các cụ già sinh hoạt trong đình sôi nổi hẳn lên. Mỗi người vài câu góp chuyện, khiến ngôi đình và địa đạo trở nên bí hiểm vô cùng.
Đình Quán La nằm trọn trên gò Thất Diệu. 

Cụ Nguyễn Văn Chinh, nguyên trưởng ban quản lý di tích đình Quán La, từng là thủ từ đầu tiên và lâu nhất, rất hào hứng khi kể về ngôi đình và địa đạo huyền bí. Câu chuyện về địa đạo bắt đầu từ ngôi đình cổ.
Quán La là ngôi đình cổ đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1984. Xung quanh sự ra đời của ngôi đình này còn nhiều tranh cãi. Căn cứ vào 18 đạo sắc phong, mà sắc phong sớm nhất còn giữ được vào năm Thịnh Đức (1653), thì nhiều người phỏng đoán, ngôi đình được xây dựng vào khoảng thế kỷ 16-17.

Thứ Hai, 26 tháng 4, 2010

Những bài học về giữ nước

KTS Trần Thanh Vân
Xin hãy nhìn vào hình Con Rồng Việt Nam do Tiến sĩ Phạm Gia Minh cung cấp. Nếu dự án Khu đô thị Tây Hồ Tây và Dự án Nhà hát Thăng Long ở đầu con Rồng nước Việt, thì dự án Bauxite lại ở phần đuôi Rồng.
Con Rồng nước Việt. Phạm Gia Minh vẽ
Trước tiên xin hãy bảo vệ cái đầu. Nếu một cơ thể có cái đầu sáng suốt, lành mạnh, thì các bộ phận khác cũng sẽ lành mạnh, thậm chí khi đuôi Rồng quẫy một cái thì những kẻ bám theo ở phần đuôi, ở phần ngoài rìa như biên giới, hải đảo sẽ rơi rụng. Nhưng nếu cái đầu bị rỗng nát, LONG MẠCH bị triệt thì nước mất nhà tan.
VNLời giới thiệu.
Thần núi Tản Viên là một trong những huyền thoại in đậm trong ký ức người Việt từ rất nhiều đời. Đó là cả một chùm sự tích xâu chuỗi với nhau, từ câu chuyện một chàng trai trẻ khởi đầu cắm gậy ở núi Tản Viên, trải qua việc chàng cưới con gái vua Hùng, rồi cuộc tranh tài cao thấp “năm năm báo oán đời đời đánh ghen” giữa hai vị thần Sơn Tinh và Thủy Tinh, cho đến những hệ quả của trận thư hùng chưa bao giờ dứt ấy đưa đến sự hình thành địa mạo một quốc gia Việt Nam uốn lượn như con Rồng ngày nay mà mắt Rồng là Hồ Tây với bao nhiêu kỳ tích còn để lại trong địa danh và truyền thuyết: Đầm Xác Cáo, Đầm Trâu Vàng…
Trong vòng mấy thập niên lại đây, Hồ Tây đã và đang bị con người xâm hại bằng nhiều cách, làm cho mặt Hồ bị co dần lại từng tháng từng ngày. Rừng đào Nhật Tân đỏ thắm hàng năm gần ngay ven hồ đã không còn dấu vết, thay vào đấy là những dãy nhà cao tầng Made in In Đô lạnh lùng sừng sững. Giờ đây, lại đang có nguy cơ rừng hồng xiêm Xuân Đỉnh sẽ bị triệt hạ để cho phía Tây Hồ Tây dựng lên một bức tường bê tông kiểu Hàn còn trơ tráo hơn thế, ngang nhiên che khuất Tản Lĩnh hàng nghìn năm luôn soi bóng xuống lòng Hồ như một sự chiếu ứng linh thiêng mà nhà thơ nổi tiếng đời Trần Phạm Sư Mạnh đã nhắc tới trong thơ. Những việc ấy sẽ để lại hậu quả gì? Chúng có liên quan gì đến cái cơ thể con Rồng đang ngày một lở loét đau nhức vì mọi sự chặt phá, bới đào… mà kẻ hưởng lợi quyết không phải là dân tộc này, một dân tộc không ngu xuẩn cũng không hám lợi?
Và khi bị đâm thọc vào lưng – vào tử huyệt – thì Rồng có cam lòng chịu chết không hay là sẽ quẫy? Và quẫy như thế nào? Bằng kiến thức nhiều mặt của một nhà kiến trúc am hiểu sâu môi trường học (environnement), cùng với cái học về phong thủy, về Kinh Dịch, và với bản lĩnh của một người hàng chục năm nay quyết dấn thân bảo vệ bằng được sự nguyên vẹn của Hồ Tây, Kiến trúc sư Trần Thanh Vân đưa ra vài lời giải đáp với chúng ta về những “động loạn trái lẽ trời” do ai đó gây ra mà lịch sử đất nước từng chứng kiến hoặc đang hứng chịu. Trang mạng bauxite xin giới thiệu ý kiến của chị, để bạn đọc cùng thử suy ngẫm về ý nghĩa thực tiễn nằm phía sau những lời giải đoán tưởng như rất huyền vi này.
Nguyễn Huệ Chi
Từ truyền thuyết xa xưa…
Dân tộc nào cũng có những câu chuyện truyền thuyết và truyền thuyết nào cũng xuất phát từ một hiện tượng có thật xảy ra ở đâu đó, được nhân dân lưu truyền và kiểm chứng. Có những câu chuyện rất xác thực, được kể lại với những tình tiết rất xúc động, được nhân dân truyền tụng râm ran, nhưng chỉ một thời gian sau, chuyện đó bị lãng quên. Không ai phê phán, không ai nghi ngờ, nhưng có lẽ do tính tiêu biểu của câu chuyện không cao, kể cả thời gian lẫn phạm vi ảnh hưởng, nên mọi người tự cho phép mình được quên đi. Ngược lại có những chuyện nghe ra thật phi lý, nhưng không ai thắc mắc về những điều phi lý đó, câu chuyện luôn luôn được nhắc lại, được bổ sung nhiều tình tiết diệu kỳ và được sống mãi trong lòng dân.

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2010

Có bao nhiêu đời vua Hùng?

Theo truyền thuyết, vua đầu tiên của nước ta là Kinh Dương Vương (Lộc Tục), lên ngôi năm Nhâm Tuất (2879 TCN). Các sử sách đều lấy đây là dấu mốc khởi đầu của triều đại các vua Hùng và tính đến năm Quý Mão (258 TCN) thì kết thúc với 18 đời vua Hùng nối nhau trị vì trong 2.622 năm.

Những nghi vấn, băn khoăn
Nếu xét theo thời gian trị vì kéo dài hơn 2000 năm mà chỉ có 18 đời vua thì đây là những con số rất khó thuyết phục; mặc dù ghi chép như vậy để “nêu rõ quốc thống” nhưng các sử gia đều tỏ ý nghi ngờ điều này.
Nhà sử học Ngô Thì Sĩ viết: “Người ta không phải là vàng đá, sao lại sống lâu được như thế ? Điều ấy càng không thể hiểu được” (Việt sử tiêu án).
Còn trong cuốn Việt Nam sử lược, nhà sử học Trần Trọng Kim cũng viết: “…Cứ tính hơn bù kém, mỗi ông vua trị vì được non 150 năm. Dẫu là người đời thượng cổ nữa thì cũng khó lòng mà có nhiều người sống lâu được như vậy”.
f
Lăng vua Hùng. Ảnh IE
Khác với ghi chép của sử sách và truyền thuyết dã sử, các nhà nghiên cứu cho rằng nước Văn Lang của các vua Hùng chỉ tồn tại trong khoảng 300 – 400 năm và niên đại kết thúc là khoảng năm 208 TCN chứ không phải là năm 258 TCN.
Cuốn Đại Việt sử lược, bộ sử xưa nhất của nước ta còn giữ được đến nay chép rằng: “Đến đời Trang Vương nhà Chu (696 – 681 TCN) ở bộ Gia Ninh có người lạ dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, phong tục thuần hậu, chất phác, chính sự dùng lối kết nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương”.

Dòng họ Lê Hữu Trác: Chuyện ngôi mộ phát tích

Vùng đất xã Liêu Xá, huyện Đường Hào xưa, nay là thôn Liêu Xá, xã Liêu Xá, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên nổi tiếng "địa linh nhân kiệt". Nơi đây đã sinh ra và nuôi dưỡng dòng họ Lê Hữu nổi tiếng với 6 tiến sĩ khoa bảng và đại y tôn Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.

Ngôi mộ thiên táng


Theo gia phả dòng họ Lê  Hữu, Lê Hữu Dụng là đời thứ bảy, làm tư trưởng có quen với một người ở xã  Bình Lao, huyện Cẩm Giàng, hiệu là Đồ Cẩm, có hiểu biết về địa lý.

Nhân một lần Đồ Cẩm đến nhà bạn chơi, thấy cảnh nhà bần bạc liền hỏi nguyên cớ. Lê Hữu Dụng tỏ vẻ băn khoăn: "Dòng họ nhà tôi mấy đời nay học hành cũng khá nhưng đi thi lại không đỗ đạt. Không biết có phải do mồ mả?". Nghe thế, Đồ Cẩm nhận lời: "Sẽ tìm đất cải táng ngôi mộ tổ, sau này tất sẽ phú quý". 
a
 Ngôi mộ thiên táng phát tích của dòng họ Lê Hữu.

Y hẹn, Đồ Cẩm quay trở lại nhà bạn. Vì chưa mua được tiểu sành, Đồ Cẩm bảo chỉ cần lấy cái nồi đất miệng rộng ("thổ oa đại khẩu") thay cho tiểu sành cũng được, rồi cùng nhau ra đồng cải táng ngôi mộ cho cụ Vũ Thị Yêm, vợ cụ tổ đời thứ sáu Lê Tất Thắng. Khi mọi người chuẩn bị mang hài cốt đến nơi cải táng thì trời bắt đầu nổi gió, mây đen kéo đến, mưa như trút nước nên không thể đi chôn được. Mọi người bèn bàn với nhau sẽ để tạm hài cốt ở ria lũy tre làng để sớm mai đem chôn.

Kỳ bí câu chú chữa hóc xương

- 60 năm qua, hễ người nào  đó trong vùng không may bị hóc xương, phụ nữ sinh con bị tróc vú con không bú được... đều tìm đến nhờ cụ. Người dân cho rằng, cụ chỉ cần đọc "thần chú" và xướng tên người đó, xin cho họ khỏi bệnh, về nhà ắt khỏi ngay... KH&ĐS đã tìm gặp cụ Nguyễn Huy Giang ở huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc.
 

Cựu chiến binh

Năm nay cụ Giang vừa tròn 90 tuổi nhưng vẫn còn rất nhanh nhẹn, minh mẫn. Nâng chén nước chè nóng trên tay, cụ Giang kể, trước cụ từng là xã đội trưởng, chỉ huy dân quân tự vệ của huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc, tham gia chiến đấu chống pháp từ những năm 1945.
"Tôi chỉ huy 3 đội tự vệ ngày đêm đào đồn bốt để đánh địch, bọn lính vào làng săn lùng bắt tôi không được, chúng đến dỡ nhà, bắt vợ con tôi tra tấn dã man...", cụ Giang nhớ lại.
Cụ Giang nhặt các que ở sân để đọc
Cụ Giang nhặt các que ở sân để đọc "thần chú" chữa hóc xương.
Trong căn phòng nhỏ, lụp xụp cụ chỉ tay về phía góc tường: Các loại huân huy chương, bằng khen, giấy khen... chỉ để làm kỷ niệm thôi cháu ạ. Nhiều lần phòng Chính sách xã hội của huyện đến nhà khuyên tôi khai báo thời gian công tác và những chiến công để hưởng chế độ, nhưng tôi đều khước từ.
Ở gần tuổi bách niên, cụ Giang vẫn đầy nhiệt huyết khi kể lại chuyện quá khứ. Trong một trận càn quét của địch năm 1950, cụ cùng đồng đội bị bao vây 7 ngày, 7 đêm trong đồn địch. Đội quân này đã phải mở con đường máu và hành quân lên đèo Kháng Nhật để ẩn náu (nay là huyện Sơn Dương, Tuyên Quang).

Thứ Bảy, 24 tháng 4, 2010

PHONG THỦY HỌC - Phần IV

SINH TÀI VƯỢNG VỊ VÀ VIỆC ĐẶT THẦN TÀI
Hôm nay NCD tôi muốn bàn về vấn đề mà có lẽ từ nhà thường cho đến cơ sở kinh doanh mua bán đều quan tâm: Đó là phương Sinh Vượng và cách đặt Tài Thần.
Phương vị này còn được gọi là "TÀI VỊ", nó khác với phương Chính Thần trong Huyền Không học. Có ba thuyết nói về phương vị này khác nhau:
_ Thuyết thứ nhất là theo trường phái Huyền Không, chọn phương Chính Thần làm phương của TÀI VỊ.
_ Thuyết thứ hai là theo Phi Tinh của Huyền Không, cho rằng phương của Tam Bạch phi đến mới là phương của TÀI VỊ. Tam Bạch chính là: Nhất Bạch, Lục Bạch và Bát Bạch.
_ Thuyết thứ ba là chọn phương chéo với cửa ra vào làm phương TÀI VỊ.
Riêng bản thân NCD thì chọn theo thuyết thứ ba. Hai thuyết trên nói cũng có lý nhưng không thích hợp lắm. Nếu một lúc nào đó Vượng Khí Chính Thần hay Tam Bạch Tinh phi đến phương vị Cửa, chẳng lẽ đem Tài Thần ra đặt ở đấy à? Huyền Không Phi Tinh có nhiều điểm rất hay, nó có thể giải thích các hiện tượng động đất, sụp lỡ, hỏa hoạn, trộm cướp, chết người, đau bệnh, làm ăn thua lỗ...vv... mà các trường phái Bát Trạch Minh Cảnh và Dương Trạch Tam Yếu không thể giải thích thỏa đáng. Vì các trường phái kia thuộc TĨNH, các phương vị, an sao đều cố định nên gặp nạn tai thì không thể nói được, khi nhà và Sao đều vẫn tốt so với mạng gia chủ như lúc đầu. Còn trường phái Huyền Không thì các Phi Tinh luân chuyển, khó có được năm tháng ngày giờ trùng Sao lại như nhau (năm và tháng còn có thể nhưng thêm ngày và giờ thì rất hiếm hoi). Lại thêm khi các sao đi đơn lẻ thì khác, đi kèm với Sao khác thì có thể ý nghĩa biến đổi, hoặc còn ảnh hưởng với Sao của Trạch Vận khác nhau mà cho kết quả khác nhau, Thiên hình Vạn trạng. Sự huyền diệu của Phi Tinh là vậy, nhưng không phải lúc nào cũng cứng nhắc các Vượng Khí, Phi Tinh vào Dương Trạch, phải biết lúc nào áp dụng phương pháp nào cho thích hợp. Không phải vô tình mà người ta bố trí bàn làm việc nơi góc chéo với cửa ra vào, bởi nó là nơi tập trung Quyền lực trong một căn phòng, là nơi Tàng Phong Tụ Khí.
Theo khoa Phong Thuỷ thì tại phương TÀI VỊ này, người ta thường đặt các cây xanh lá to hay các tượng Tài Thần. Phương TÀI VỊ này có một số điều nên và không nên như sau:

PHONG THUỶ DÀNH CHO DOANH NGHIỆP, CƠ SỞ KINH DOANH (Phong Thủy học-Phần 3

PHONG THUỶ DÀNH CHO DOANH NGHIỆP, CƠ SỞ KINH DOANH

Hôm nay NCD xin tiếp tục các bài Phong Thuỷ với chuyên đề dành cho doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh. Thế Phong Thuỷ làm gì được cho doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh? Ngoài chức năng kiến trúc hợp lý và thẩm mỹ, Phong Thuỷ còn giúp ta có một sự sắp xếp ngăn nắp, hợp lý nơi làm việc, tạo ra nguồn năng lượng Dương mạnh mẽ chứa đầy Sinh khí, đem lại vận may cho doanh nghiệp. Phong Thuỷ giúp cho việc bố trí các chỗ ngồi cho nhân viên, giúp cho các nhân viên làm việc tốt hơn, hăng say hơn, và dĩ nhiên như vậy sẽ mang lại hiệu quả cao hơn, đem lại lợi ích cho doanh nghiệp nhiều hơn. Phong Thuỷ giúp cho doanh nghiệp tăng thêm đối tác, giúp cho việc ký kết hợp đồng thuận lợi hơn, giúp cho các lãnh đạo doanh nghiệp luôn đưa ra những quyết sách hữu ích kịp thời. Với một cơ sở buôn bán, kinh doanh, Phong Thuỷ giúp tăng lượng khách hàng, tăng doanh thu, chống thất thoát.....

Nói đến Phong Thuỷ dành cho doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh, trước tiên phải nói đến địa thế. Bởi Phong Thuỷ không thể nào tách rời cá thể một ngôi nhà, một doanh nghiệp, một cơ sở kinh doanh ra khỏi cái tổng thể của khu vực đó được.
Thí dụ cho dễ hiểu vậy: Tỷ như cơ sở kinh doanh của ta là... một quán bán nước giải khát đi. Như vậy, Ngũ Hành của cơ sở chúng ta là hành Thủy. Nếu bây giờ, xung quanh chỗ đó toàn là các nhà biệt thự tường vây vuông vức thuộc Thổ, hay các công ty, cơ sở thuộc Thổ như công ty kinh doanh địa ốc, công ty xây dựng... thì quán nước của chúng ta trước sau cũng sập tiệm thôi, vì bị Hành xung quanh tương khắc. Do đó, điểm đầu tiên khi ta muốn tìm một mặt bằng để mở doanh nghiệp, hay mở ra kinh doanh, hãy chịu khó đến đó rảo một vòng quan sát thật kỹ, xem xung quanh đó Ngũ Hành chung của khu vực là gì, có tương khắc với Ngũ Hành của ngành nghề mà ta làm hay không. Hãy lưu ý các kiến trúc của xung quanh, không nhất thiết phải là Ngũ Hành của ngành nghề, mà kiến trúc cũng có thể xung khắc.

Thứ Sáu, 23 tháng 4, 2010

PHONG THỦY HỌC - Phần II

HOÀNG TUYỀN

Nói đến HOÀNG TUYỀN là nói đến một phương vị gần như bất khả xâm phạm trong Phong Thuỷ vậy. Bởi các Hung Phương như Thái Tuế, Ngũ Hoàng Sát, Tam Sát thì chỉ theo năm mà di chuyển đi, còn HOÀNG TUYỀN là phương vị cố định. Khi nhà, mộ mà xác định hướng nào đó là đã có một vài phương hướng không thể phạm. Chữ "phạm" ở đây ý nói ở nhưỡng nơi ấy có thể kiêng kỵ: phóng thủy (thãi nước ra), đường đi, nước chầu lại, lạch nước...vv... thậm chí ngay cả trổ cửa, chọn ngày giờ khởi công cũng phải tránh nó nữa đấy!.
Trước tiên, NCD tôi xin giới thiệu với các anh chị, các bạn hai loại HOÀNG TUYỀN thường được nói đến nhiều nhất trong khoa Phong Thuỷ. Đó là: TỨ LỘ HOÀNG TUYỀN và BÁT SÁT HOÀNG TUYỀN.

TỨ LỘ HOÀNG TUYỀN
Canh, Đinh KHÔN thượng thị HOÀNG TUYỀN
Ất, Bính tu phòng TỐN thủy tiên
Giáp, Quý hướng trung ưu kiến CẤN
Tân, Nhâm thủy lộ phạ đương KIỀN.

Tức là làm nhà lập hướng CANH- ĐINH nên cẩn thận với nước phương KHÔN.
CANH hướng mà thấy ở phương KHÔN có nước thì nên chảy đến, chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.
ĐINH hướng mà làm nhà thì nước phương KHÔN nên chảy đi, chảy đến là phạm HOÀNG TUYỀN.

ẤT hướng thì phương TỐN nước nên chảy đi, chảy lại là phạm HOÀNG TUYỀN.
BÍNH hướng thì nước phương TỐN nên chảy chầu lại, chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.

GIÁP hướng thì nước phương CẤN nên chảy lại , nếu chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.
QUÝ hướng thì nước phương CẤN nên chảy đi, nếu chảy lại là phạm HOÀNG TUYỀN.

TÂN hướng thì nước ở KIỀN ( CÀN ) nên chảy đi , nếu chảy đến là phạm HOÀNG TUYỀN.
NHÂM hướng thì nước ở KIỀN nên chảy đến , chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.

BÁT SÁT HOÀNG TUYỀN
Khảm Long, Khôn Thố, Chấn sơn Hầu.
Tốn Kê, Kiền Mã, Đoài Xà đầu.
Cấn Hổ, Ly Trư vi SÁT diệu.
Phạm chi MỘ-TRẠCH nhất tề hưu.

Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010

Lục tự đại minh chú

Tôi muốn thảo luận chút ít về ý nghĩa của thần chú OM MANI PADME HUM.
Mani tượng trưng cho phương tiện và padme tượng trưng cho trí tuệ. Nói cách khác, hai từ này gồm chứa toàn bộ con đường được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khám phá; toàn bộ con đường tiệm thứ dẫn tới giác ngộ.
Hai từ này bao gồm toàn bộ con đường dẫn tới Niết bàn – sự giải thoát khỏi đau khổ và nguyên nhân đích thực của đau khổ. Tất cả những con đường của các thừa thấp được bao gồm trong phương tiện và trí tuệ; do đó, chúng được bao hàm bởi mani và padme. Toàn bộ con đường Ba La Mật thừa và con đường Bồ đề tâm đưa tới sự giác ngộ cũng được hoàn thiện bởi phương tiện và trí tuệ; vì thế nó cũng hoàn toàn được bao hàm trong mani và padme. Cuối cùng, toàn bộ con đường Kim Cương thừa – con đường của thừa (cỗ xe) bất khả phân, mantra, hay mật chú cũng được bao hàm bởi những phạm vi này.
Mantra có bốn phần, hay cấp độ. 

Thứ Tư, 21 tháng 4, 2010

PHÁT HIỆN LẠI VỀ VIỆT NHÂN CA (越人歌)

Việt nhân ca quá nổi tiếng. Sau khi được đưa vào phim và hát thì nổi lên phong trào tìm hiểu Việt nhân ca trong dân gian chứ không còn là chuyện của các chuyên gia nghiên cứu văn hóa. Nổi tiếng vì có thể nói đó là bài thơ tình đầu tiên, bài dân ca xuất hiện sớm nhất được ghi nhận trọn vẹn, cách nay khoảng 2800 năm…

Tóm tắt về bối cảnh ra đời của Việt nhân ca: Lưu Hướng (刘向) là cháu bốn đời của Lưu Giao  (刘交). Lưu Giao là em của Lưu Bang (刘邦) cao tổ của nhà Hán. Lưu Hướng là tác giả của sách Thuyết uyển (说苑). Sách có chương kể chuyện  “Tương Thành Quân Thủy phong chi nhật” (襄 成君始封之日). Tương Thành Quân là Sở Tương Vương (楚襄王) tên hiệu là Hùng Hoành (熊橫). Trong câu chuyện có nhắc đến Ngạc Quân Tử Tích  (鄂君子皙) là vua Sở Hùng Ngạc (楚熊咢) dùng thuyền dạo mát ngoạn cảnh thì có người chèo thuyền hát bài dân ca Việt. Ngạc Quân Tử Tích nhờ người ghi lại và phiên dịch ra tiếng "Sở" là bài "Việt nhân ca".
Nguyên văn đoạn đó như sau:

"襄成君始封之日,衣翠衣,带玉剑,履缟舄(舄:xi4,古代一种双层底加有木垫的鞋;缟舄:白色细生绢做的鞋),立于游水之上,大夫拥钟锤(钟锤: 敲击乐鼓的锤子),县令执桴(桴:鼓槌)号令,呼:“谁能渡王者于是也?”楚大夫庄辛,过而说之,遂造托(造托:上前求见)而拜谒,起立曰: “臣愿把君之手,其可乎?”襄 成君忿然作色而不言。庄辛迁延(迁延:退却貌)沓手(沓:盥之误 字,盥手即洗手)而称曰:“君独不闻夫鄂君子皙之泛舟于新波之中也?乘青翰之舟(青翰:舟名,刻成鸟形的黑色的船),极(:man2,上艹下两;芘:bi4芘:不详为何物,疑为船上帐幔之类),张翠盖而检 (检:插上)犀尾,班(班,同“斑”)丽袿(袿:gui1,衣服后襟,指上衣)衽(衽:ren4,下裳),会钟鼓之音,毕榜枻(榜:船;枻,yi4,桨。榜枻:这里指代船工)越人拥楫而歌,歌 辞曰:‘滥兮抃草滥予,昌枑泽予昌州州,饣甚州州焉乎秦胥胥,缦予乎昭,澶秦踰渗,惿随河湖。’鄂君子皙曰:‘吾不知越歌,子试为我楚说之。’于是乃召越译,乃楚说之曰:‘今 夕何夕兮,搴中洲流。今日何日兮,得与王子同舟。蒙羞被好兮,不訾诟耻。心几顽而不绝兮,知得王子。山有木兮木有枝,心说君兮君不知。’ 于 是鄂君子皙乃揄修袂,行而拥之,举绣被而覆之。鄂君子皙,亲 楚王母弟也。官为令尹,爵为执圭,一榜枻越人犹得交欢尽意焉。今君何以踰于鄂君子皙,臣何以独不若榜枻之人,愿把君之手,其不可何也?”襄成君乃奉手而进之,曰:“吾少之时,亦尝以色称于长者矣。未尝过僇(僇:lu4,羞辱)如此之卒也。自今以后,愿以壮少之礼谨 命。”

Dịch nghĩa:
“Ngày đầu tiên Tương Thành Quân được phong quan tước, mặc áo đẹp, đeo kiếm ngọc, mang cao guốc, đứng phía trên dòng nước, đại phu gõ nhạc, đánh trống. Lệnh rằng: "Ai có thể đưa bổn vương lên đò?" Sở đại phu Trang Tân bước lên phía trước bái kiến, đứng thẳng nói rằng: "Thần nguyện nắm tay của quân vương, có được không ?"

PHONG THỦY HỌC-Phần I


Như chúng ta đã biêt Phong Thủy đã có lịch sử hàng nghìn năm nay rồi, tự bản thân nó là một bộ môn khoa học, chứ không phải mang đậm màu sắc mê tín như một số người cố tình tạo ra. Trước đây, vì lợi ích riêng tư cá nhân mà các triều đại Vua chúa không cho phổ biến rộng rãi bộ môn này, cũng như các thầy Địa lý cố tình tạo nên sự huyền hoặc nhằm trục lợi những người nhẹ dạ cả tin. Ngày nay, khoa học hiện đại đã vén tấm màn bí mật của Phong Thủy, cho chúng ta thấy đó là tập hợp những kinh nghiệm của ngươi xưa về môi trường sống chung quanh, sao cho đạt sự hài hòa, thẩm mỹ. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có một số vấn đề mà khoa học cũng chỉ lý giải được một cách khiên cưỡng. Do đó, chúng ta mới gọi Phong Thủy là bộ môn Khoa Học...Huyền bí!
Trong cuộc sống chúng ta thường nghe nói:"Nhất thời, nhì vận, tam phong thủy ".
Thời ở đây thời cơ, là vận may. Có người suốt đời luôn gặp vận may nhưng không biết nắm bắt, có người cả đời chỉ có một vận may duy nhất nhưng biết nắm bắt nên thành công, cũng có người cả đời không gặp vận may nhưng họ biết tạo ra thời cơ để thắng lợi. Vận may, thời cơ của một người còn tùy thuộc vào đức độ của người đó thể hiện trong cuộc sống. Nếu người ấy sống có đạo đức thì dễ dàng nhận được sự tưởng thưởng của những người xung quanh, và tất nhiên sẽ có thêm nhiều người ủng hộ.
Vận ở đây chính là Mệnh vận của một người , nó phụ thuộc vào năm, tháng, ngày, giờ sinh của người ấy. Bản thân mỗi người trong chúng ta đều có một từ trường riêng, không ai giống ai cả, đó là do năm tháng ngày giờ sinh của chúng ta khác nhau. Thế những người có cùng năm tháng ngày giờ sinh thì sao? Xin thưa cũng không thể có từ trường giống y nhau được, vì nó còn phụ thuộc bởi 1 số yếu tố khác như:
_Cha mẹ, anh chị em có năm tháng ngày giờ sinh khác nhau. Vì từ trường của những người xung quanh sẽ ảnh hưởng đến từ trường của người ấy
_ Người sinh ở miền Nam, miền Bắc khác nhau. Tỷ như cái cây trái ngọt vùng Xích đạo mà đem lên vùng Bắc Cực trồng sao tốt được?
........
Phong Thủy là yếu tố thứ ba trong đó, cũng là một yếu tố mà người ta có thể thay đổi được. Do đó, nghành địa lý ngày xưa rất được xem trọng. Ba yếu tố này tượng trưng cho Tam Tài: THIÊN- ĐỊA- NHÂN trong vũ trụ, cả 3 tương hỗ cho nhau.
Nói đến Phong thủy là nói đến sự hài hòa- hợp lý- thẩm mỹ, thực hành trọn vẹn, Phong Thủy sẽ thể hiện tính CHÂN-THIỆN-MỸ. Nói CHÂN là vì thực hành Phong Thủy phải thật sự chính xác, chỉ cần "sai 1 ly đi 1 dặm" ngay. Nói đến THIỆN là nói đến người thực hành Phopng Thủy phải có cái TÂM của nghề nghiệp, không nên vì lợi ích cá nhân mà làm ảnh hưởng đến Phong Thủy của những người xung quanh, cũng như làm hư hoại Phong Thủy tốt đẹp của vùng đất ấy. Nói đến MỸ là nói đến sự hài hòa, hợp lý, thẩm mỹ trong việc trang trí nội- ngoại thất cũng như trong việc sắp xếp, bài trí đồ đạc trong nhà.
Tóm lại, nghiên cứu & thực hành Phong Thủy chúng ta có thể cải thiện phần nào cuộc sống của chúng ta, làm cho "cuộc sống tốt đẹp hơn". Chưa biết kết quả thế nào, nhưng trước mắt, về mặt tâm lý nó giúp chúng ta có thêm sự tự tin, lạc quan hơn. Thế thì tại sao ta không thử nhỉ ?

Thứ Ba, 20 tháng 4, 2010

NGUỒN GỐC CHỮ NÔM


OZ-Tôi không phải nhà nghiên cứu ngôn ngữ nên không phản đối hay phủ nhận những lập luận của Tác giả, xin post lại để mọi người cùng có cái nhìn rộng mở hơn và như một tư liệu để ai đó nghiên cứu có cái mà dùng. Tuy nhiên nếu quả là Chữ Nôm có trước chữ Hán thì không những thú vị mà lịch sử cũng còn có nhiều điều đáng bàn tới nữa.

Có rất nhiều và đủ bằng chứng hiển nhiên là chữ Nôm có trước chữ Hoa và Hán-Việt.
2800 năm trước có bài hát của người Việt khi chèo ghe, là bài “Việt nhân ca” được truyền đến ngày nay, là chữ Nôm.
2500 trước có “Duy giáp lệnh” của Việt Vương Câu-Tiễn nằm trong sách Việt Chép, là chữ Nôm.
Các  truyền thuyết, cổ sử, cổ thư và cổ thi từ dân gian cho đến sách của Khổng Tử biên soạn, và “từ điển” thời xưa v v... đều sẽ chứng minh được là “hiển nhiên” rằng: chữ Nôm có trước!
Tôi xin trình bài khảo cứu nguồn gốc chữ Nôm và Chữ Nôm có trước chữ Hoa và Hán-Việt với nhiều bằng chứng rỏ ràng được xét từ giáp cốt văn, cổ thư-cổ sử.
 Xin lần lượt xem qua từng bằng chứng:
  Sách “Thuyết-Văn” còn gọi là “Thuyết văn giải tự”do Hứa Thận thời Đông Hán biên soạn, bao gồm 2 phần là Thuyết văn và Trọng Văn.
     - Phần Thuyết văn gồm 9.353 chữ, chia theo 540 bộ chữ.
     - Phần Trọng Văn gồm 1,163 chữ, chỉ ra những chữ cùng âm cùng nghĩa nhưng mà cách viết khác nhau.
       Sách Thuyết Văn gồm 14 chương chính và 1 chương mục lục, tổng cộng có 133.441 chữ trong lời ghi chú để giải thích chữ nghĩa. Năm Vĩnh Nguyên thứ 12 (Công nguyên, năm 100), sách Thuyết-văn được hoàn tất nhưng mãi đến năm Kiến Quang thứ nhất (Công nguyên, năm 121 ), Hứa Thận mới giao cho con là Hứa Xung dâng lên triều đình Hán .
         Nguyên bản của Thuyết văn đã thất lạc, cũng là nhờ các thư tịch khác thời Hán và các đời sau đã dùng Thuyết văn để dẫn chứng nhiều, cho nên, sau nầy người ta có tài liệu biên soạn lại sách Thuyết văn. Thời Bắc Tống , rồi đến thời Mãn Thanh đều có người nghiên cứu và hiệu đính.
          Sách Thuyết văn dùng 2 phương pháp “Phản” và “Thiết” để tra chữ, rồi giải thích nghĩa, tạo ra tiền lệ và trở thành quyển từ điển đầu tiên. Các từ điển sau nầy là phỏng theo phương cách của Thuyết văn.
          -“Phản” là cách nói phản-nghịch (nói lái): dùng từ phản (nói lái) để đọc ra phát âm của chữ cần tra cứu. Ví dụ:
          Phát âm chữ “Thiên ” là theo cách nói lái của “Tha-Tiền 他前”, là “Thiên Tà”, thì sẽ biết “Thiên” là phát âm của chữ  “Thiên ”: = 他前.
         -“Thiết” là nhất thiết, là tất cả: chữ đầu lại dùng luôn âm vần của chữ thứ 2 để phiên âm ra giọng đọc của chữ cần tra cứu. Ví dụ:
          Phát âm chữ “Thiên ” là dùng chữ “Tha-Tiền 他前”. Với cách đánh vần chữ “Tha ” dùng luôn âm “iên” của chữ “tiền” thì sẽ được Tha-iên-Thiên: =他前.
         Hai phương pháp “phản” và “thiết” có cách dùng trái ngược nhau, nhưng nhập chung lại thì cách nào cũng được, và gọi chung là “phương pháp phản-thiết” để phiên âm.

Thứ Năm, 15 tháng 4, 2010

NHỮNG VẦN THƠ CỦA CÁC VỊ TIÊN

100 năm trước: Thương nòi giống - Thần tiên giáng bút

Nguyễn Xuân Diện
Trong các nghi lễ của người Việt thời trước, có một không gian nghi lễ khá đặc biệt rất đáng để ý là thiện đàn. Ở đấy diễn ra một hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh độc đáo là giáng bút - một hiện tượng văn hoá tâm linh có thực trong xã hội Việt Nam, tức là cầu Thánh - Thần - Tiên - Phật cho mình những bài thơ, thông qua một người có năng lực đặc biệt. Song vì nhiều lý do mà giới nghiên cứu đã coi đó là một vùng cấm và không dành cho nó một sự quan tâm thích đáng, ngoại trừ hai học giả là Nguyễn Văn Huyên (Tục thờ cúng thần tiên ở Việt Nam, 1944) và Đào Duy Anh (Hồi ký Nhớ nghĩ chiều hôm, 1989).


Giáng bút là hiện tượng “nhập thần” trong đó thực hiện nghi lễ cầu cúng để mong muốn có sự phán truyền dạy dỗ của thần linh thông qua văn tự (Hán Nôm) mà thư viện Viện Hán Nôm hiện đang lưu trữ 254 cuốn thơ văn giáng bút, với hàng vạn bài thơ, bài văn.
.
Tài liệu có niên đại sớm nhất là năm 1825 được in tại đền Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, nay là di tích Việt Đông hội quán, số nhà 22 Hàng Buồm, Hà Nội. Về niên đại xuất hiện nhiều bản giáng bút nhất là các năm 1870 - 1898 và 1906 - 1911.


Năm 1825 là niên đại của tài liệu sớm nhất hiện biết trong kho sách Hán Nôm. Thế nhưng, Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) một danh sĩ, nhà khảo cứu nổi tiếng thời cuối Lê đầu Nguyễn, trong Đường An Đan Loan Phạm gia thế phả (A.909) có thuật chuyện ông ngoại của mình như sau: “Cụ có thuật bói tiên, thường lấy cành đào làm thành hình mỏ hạc treo lên một cần trúc, lấy một cái sọt tre đựng đầy ắp cát sạch, đặt cần trúc bên cạnh rồi đốt bùa đọc phép, cái mỏ hạc tự nhiên chuyển động, vạch thành chữ trên cát”. Lời thuật này rõ ràng cho biết ông ngoại của Phạm Đình Hổ là người thực hiện nghi lễ giáng bút cầu văn tự. Qua đây cho thấy, chúng ta có thể vẫn tìm thấy các văn bản giáng bút có niên đại sớm hơn năm 1825 là bản xưa nhất có trong thư viện Viện Hán Nôm.

Các Hiện tướng của ngài Quán Thế Âm Bồ Tát


1.Nam mô hắt ra đát na đá ra dạ da.
Chính là bản thân của ngài Quán Thế Âm Bồ tát hiện tướng hành giả cầm chuỗi lễ tụng cầu Bồ tát, Linh, Cảm, Ứng. Khi đọc chớ nên quá to và vội vã.


2.Nam mô a rị da,
Chính là bản thân của ngài Quán Thế Âm Bồ tát hiện tướng tay bê Như Ý Luân. Hành giả y giáo phụng hành.


3.Bà lô yết đế thước bát ra da,
Chính là bản thân của ngài Quán Thế Âm Bồ tát hiện tướng Quán Tự Tại Trì Bát. Nếu muốn lấy được ngọc xá lợi, đọc bài này và suy ngẫm Bồ tát cầm bát. Hành giả quán tưởng đến chúng sanh được trường thọ.

Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2010

TỬ THƯ TÂY TẠNG (Phần V)

NHỮNG CẦU NGUYỆN
Những “khấn cầu” này được lấy từ sưu tập những bản văn terma liên hệ với Bardo Thoštrošl. Chúng đều được đề cập đến như những thực hành sùng mộ trong bản thân Bardo Thoštrošl, và một số câu được trích ra như là một phần của những giáo huấn cho người chết. Từ ngữ thường được dịch đơn giản là cầu nguyện nghĩa đen có nghĩa là “con đường ước nguyện” (Tây Tạng smon-lam). Nó không phải là một cầu xin đến một bổn tôn hóa thần ở bên ngoài, mà là một phương pháp tịnh hóa và hướng dẫn tâm thức. Nó hoạt động như sự gây cảm hứng bằng cách khởi lên lòng mong muốn nội tại trong tâm về cái thiện, mong ước về cái thiện này lôi cuốn sự thành tựu mục đích của nó.
Cầu Nguyện chư Phật
và chư Bồ tát Cứu Thoát

Vào lúc chết của một người nào, người ta nên luôn luôn kêu cầu chư Phật và chư Bồ tát cứu thoát cho. Người ta cần có những cúng dường vật chất và tâm thức lên Tam Bảo, và cầm hương trong tay, nói lên những lời này với năng lực tập trung mạnh mẽ 
Chư Phật và chư Bồ tát ở trong mười phương, bi mẫn, toàn tri, với năm nhãn, từ ái, những bậc bảo vệ cho tất cả chúng sanh, xin đến chỗ này bằng thần lực đại bi và chấp nhận những phẩm vật cúng dường bằng vật chất và tâm thức.
Hỡi các Bậc Bi Mẫn, các ngài có trí huệ thấu suốt, lòng từ bi, hoạt động hiệu quả và năng lực che chở bất khả tư nghì. Hỡi các Bậc Bi Mẫn, con người này (tên) đang đi từ thế giới này qua bờ bên kia, nó đang từ bỏ thế giới này, nó đang chết không có quyền lựa chọn, nó không có bạn bè, nó đang khổ đau cực kỳ, nó không có nơi nương tựa, nó không có người bảo vệ, không có đồng minh, ánh sáng của đời này sắp lặn, nó đang đi qua thế giới khác, nó đang vào trong bóng tối dày đặc, nó đang rớt vào một hố thẳm sâu, nó đang đi vào rừng rậm, nó đang bị nghiệp lực đuổi theo, nó đang vào nơi hoang dã bao la, nó đang chìm trong một biển lớn, nó đang bị thổi đi bởi gió nghiệp, nó đang đi đến nơi không có đất cứng, nó đang vào trong một trận chiến lớn, nó bị những hồn linh nắm lấy, nó đang bị khủng khiếp bởi những sứ giả của Thần Chết, nó đang đi vào đời này sau đời khác vì nghiệp của mình, nó vô vọng, thời gian đã đến khi nó phải ra đi một mình không một người bạn.

Tuyển trạch cầu chân-Quyển 2

Quyển 2 :
SÁCH CHỌN NGÀY GIỜ DỰNG NHÀ – CHÔN NGƯỜI CHẾT, NAM NỮ HỢP HÔN
BÀN VỀ BỔ LONG
(Làm nhà, để mộ như nhau)
Khâu bình Phủ nói: “ Trước hết xem gió nước để quyết định dấu vết, sau xem năm, tháng nên đồng nhau, Cát, Hung hợp lý xen lẽ huyền diệu, nên quay tới Sơn đầu tìm vượng Long.”
Phàm vào làng nào mà thấy Sao, Ngọn núi lạ lùng khác hẳn, Long Thần tốt đẹp trội hẳn lên, làng ấy giàu sang không nghi ngờ gì. Làng nào mà thấy sườn núi quanh co rối loạn, Long Thần thấp yếu, làng ấy nghèo hèn không nghi ngờ gì. Gốc họa phúc đều thuộc về Long, chọn ngày mà không bổ Long, thì hà tất chọn. Biết thuyết bổ Long, thì đã nắm được cái then chốt huyền bí của đạo ấy.
(Sách có nói: “Phú Long nên tìm phú niên, nguyệt. Quý Long thì tìm Quý kỳ Quý cách. Tìm Sơn gia biết được chân phú quý, nên kén phú quý cả hai tình tin thực”, cho nên người xưa đều lấy bổ Long làm trọng).
Phàm Long ở xa không bàn, chỉ đơn độc lấy Mạch tới Huyệt là chủ, lấy Chính lý Ngũ Hành bàn sinh khắc, Tứ Trụ Bát tự sinh giúp vào thì Cát, khắc tiết thì Hung.
Tịch mậu nói: Long thì có Long vào đằng đầu, có Long ở chính thần. Long vào đằng đầu, là chí khí tới đằng đầu một tiết nhỏ. Long chính thân, hoặc quanh bên tả, quanh bên hữu, mà tiết ấy nhiều ; hoặc cao, thấp, dầy, mập, mà tiết ấy dài, nên bảo rằng Long đi thấp đại mới thành Long vậy. Bổ Long vào đằng đầu phát phúc chóng, Bổ Long chính thân phát phúc chậm mà được khá lâu . Nhưng Bổ Long chính thân chỉ bàn thế lớn, như Long Càn Hợi, Nhâm Tý, đều đến bản vị để phân ngũ hành, mà mưu toan chọn để bổ. Bổ Long vào đằng đầu thì lấy bình phân 60 mà xét khí thuộc Giáp Tý nào, cho nên người xưa có dùng Tứ trụ Nạp Âm, để bổ Long Nạp Âm.
Như Trường Trưởng lão làm cho Hoàng thị ở Uyển cương, Phong thành, khóa táng đó. Xét bổ Long thân ấy là vu khoát xa xôi. Bổ Long vào đằng đầu tất lấy bình phân 60 là câu nệ vậy. Người xưa dù có dùng, mà xét lấy Mạch vào đằng đầu xem 24 phương vị, nắm được ngũ hành là chánh tông.
Không cần hỏi Âm trạch Dương trạch, đến chỗ kết huyệt, tất có một dây Mạch nhỏ, tử tế mà xét định, tức lấy La Kinh xét cho đúng ngôi chữ gì, nếu thuộc Mộc thì dùng cục Hợi Mão Mùi, thuộc Kim thì dùng cục Tỵ Dậu Sửu, thuộc Hỏa thì dùng cục Dần Ngọ Tuất, thuộc Thủy thì dùng cục Thân Tí Thìn, đó là cục Vượng vậy. Hoặc dùng cục Ấn mà Sinh (như Hỏa long dùng cục Mộc, Mộc Long dùng cục Thủy, Thủy long dùng cục Kim ..v…v…) cũng được. Nhưng Long hùng mà đới Sát, nên dùng cục Tài (như Hỏa long thì dùng cục Kim …v…v…). Nếu trong hang núi đất âm u, trội lên mở ra cái lỗ trũng, gần huyệt chỉ có vòng tròn không mạch nhỏ, vòng tròn nếu rộng không phải là mạch, nên ở sau núi, chỗ thắt đáy lưng ong, xét mà bổ vào. Phàm chỗ Tỉnh, Thành, Quận, Huyện, phải hướng Ngọ thì hướng Bính Đinh. Hướng Ngọ tất Long Nhâm Tý; hướng Bính Đinh tất Long Hợi Cấn đều lấy cục Thân Tí Thìn, nhưng Mạch chính đã kết vào Nha Thự (nơi công sở các quan). Dân cư hoặc Đông, hoặc Tây, đều là trên Mạch chia ra từng chi mà tới ngang, chẳng biết thuộc Ngũ Hành nào, chỉ lấy bổ Toa Sơn là chủ. Từ đây trở ra ngoài đều bổ Mạch, mà chỗ đất âm u càng khẩn yếu, vì táng là nhân một sợi dây sinh khí. Khí Long suy hay vượng, hoàn toàn xem Nguyệt lệnh (lấy chính lệnh đã chép để làm trong 12 tháng). Cho nên bổ Long tất ở tháng Tam Hợp, hoặc tháng Lâm Quan, thì tháng Mộ cũng là tháng Vượng, không phải là lệ suy, bệnh vậy. Vì cung Sửu có Tân Kim, cung Thìn có Quý Thủy, cung Mùi có Ất Mộc, cung Tuất có Đinh Hỏa, cố nhiên biết 4 cung; Mộ là Vượng chứ không phải là Suy, cho nên phải dùng cục Tam Hợp.
Phàm Bổ Long hoàn toàn ở Tứ Trụ Địa Chi, vì Thiên Can khí nhẹ, Địa Chi sức nặng. Cũng có khi lấy Thiên nguyên nhất Khí mà bổ, như Giáp Long dùng 4 Giáp; cũng có khi lấy Địa nguyên nhất Khí mà bổ, như Mão Long dùng loại 4 Mão, thì rất thần diệu, nhưng khí được nhiều, hơn 10 năm mới gặp một lần, mà lại hoặc Nguyệt gia, Nhật gia, Sơn hướng đều không hợp, thì có thể làm gượng được ru! Không bằng cục Tam Hợp hoạt động dễ lấy.
Cục Tam hợp chỉ cốt ở trong tháng Tam Hợp, tháng Sinh, tháng Vượng, tháng Mộ đều được. Nếu trong 3 tháng ấy có Hung thần chiếm phương, thì tháng Lâm quan cũng khá gọi là cục Tam Hợp kiêm Lâm quan Địa Chi nhất khí. Hoặc là Tứ Sinh, Tứ Vượng thì không nên, dùng chữ Tứ Mộ Tam Hợp bất tất tất hoàn toàn 2 chữ cũng được (như cục Thủy dùng Thân Tý hai chữ, hoặc Thân Thìn 2 chữ đều là Hội Cục). 12 Long tính Âm nên dùng Âm khóa, 12 Long tính Dương nên dùng Dương khóa. Dương Công có câu: “ cốt yếu Âm Dương không lẫn lộn ” là thế đó. Nhưng Long Ngũ hành đều có Dương, có Âm, mà cục Hợi Mão Mùi, Tỵ Dậu Sửu, đều là Âm cả; cục Thân Tí Thìn, Dần Ngọ Tuất, đều lại là Dương cả. Cho nên khóa cũ cũng không câu nệ lắm về thuyết Âm Dương.
Người xưa Tạo Táng tám chữ, phần nhiều lấy Địa Chi Bổ Long, lấy Thiên can bổ Chủ Mệnh, hoặc cùng với Mệnh Tỷ Kiên nhất khí, hoặc hợp Tài, hoặc hợp Quan, hoặc hợp Lộc Mã Quý nhân; lại hoặc Thiên Can hợp Mệnh, mà Lộc Mã Quý Nhân tới Sơn. Địa Chi lại bổ Long Mạch, thì là Thượng Thượng cục của Bát Tự vậy. Một bọn nhà sư đời Đường, Thác trưởng Lão đời Tống, đều lấy Tứ Trụ Nạp Âm để bổ Long, bản mộ nạp âm, cũng rất ứng ứng nghiệm, nhưng không bằng sức của Địa Chi.
Lại có thể bàn về Nạp Âm, thì phép ấy là không bàn Nạp Âm của Bản Long, mà ở Mộ thượng của Long khởi Nạp Âm để bàn Sinh Khắc, như năm Canh Dần làm Tuất Sơn, Tuất Long. Chính Ngũ hành thuộc Thổ Thủy Thổ mộ. Năm Thìn cung dùng Ngũ Hỗ độn đến Thìn là Canh Thìn, Kim âm Bát Tự nên lấy Kim âm, Thổ Âm thì cát, Hỏa âm thì khắc Long Mộ, là Hung. Đây vốn là Hồng Phạm chuyển vận, mà người bàn cùng với ý của một bọn nhà sư và Thác Trưởng Lão có khác, cũng nên tham khảo để xem thêm.
Phàm lấy cục Tam Hợp bổ Thủy Long; cục Mộc Tam hợp bổ Mộc Long là cục Vượng. Thượng cát là lấy Tam hợp cục Kim sinh Thủy Long, Tam hợp cục Thủy sinh Mộc Long là cục Tướng, lại là cục Ấn thụ. Cát thứ là: Thủy Long dùng Tam Hợp cục Thủy là cục Tài, nhưng Long Hùng đới có Sát, bất tất lại Bổ nữa, thì dùng Tam Hợp cục Tài, không bổ cũng không tiết lậu.

Thứ Năm, 8 tháng 4, 2010

Đá Peridot và ngọc Rubi

1.Peridot (Peridote)
Công thức : Mg2SiO4Tên gọi : Trong các tài liệu khoáng vật học của Anh và Đức, người ta gọi olivin kim hoàn – magie và sắt silicat – là peridot.
Thỉnh thoảng mới gặp các tinh thể peridot hình trụ ngắn màu vàng sẫm,
lục ánh vàng hay phớt lục, được dùng trong nghề kim hoàn. Theo một trong những giả thiết, thuật ngữ “peridot” được hình thành từ từ Hy Lạp peridona – “đem lại sự sung túc”. Theo một giả thuyết khác thì peridot xuất phát từ từ Arập faridat – “đá quý”. Peridot quen thuộc với con người từ xa xưa. Một trong những mỏ quan trọng hơn cả nằm trên đảo Zebergat (đảo Saint) trên Biển Đỏ đã đwocj biết cách đây khoảng 3500 năm. Peridot cũng được khai thác cả ở Oxtraylia, Braxin, Hoa Kỳ. Ở miền Nam Châu Phi, thường gặp peridot lẫn với kim cương. Những biến thể hiếm của peridot là peridot “mắt mèo” và peridot ánh sao.

THẦN CHÚ THIẾT YẾU DÙNG ĐẶT TRONG THÁP, TƯỢNG PHẬT

Rất không tốt nếu để cho tháp hoặc tượng Phật trống rỗng bên trong. Để cho tháp hoặc tượng Phật trống rỗng bên trong cũng giống như là cúng dường không có gì cả đến các đức Phật. Vì vậy, điều quan trọng là phải đặt một cái gì đó vào trong tháp hoặc tượng Phật, thậm chí chỉ cần một ít các câu thần chú cũng được.

“Bốn Thần Chú Xá Lợi Pháp Thân” (Four Dharmakaya Relics Mantras) là xá lợi cao nhất của đức Phật, xá lợi của Pháp thân. Sau đó mới đến các xá lợi mà chúng ta thấy thông thường. Bốn Thần Chú này là xá lợi cao nhất của đức Phật.

Bằng cách đặt “Bốn Thần Chú Xá Lợi Pháp Thân” vào trong tháp, tượng Phật đã làm cho tháp hoặc tượng Phật trở thành một đối tượng mang lại lợi ích không thể tưởng tượng nổi. Như là một nghiệp xấu có thể mang bạn tái sanh xuống các địa ngục, nhưng nó sẽ được xóa sạch chỉ cần bạn đi vòng quanh (theo chiều kim đồng hồ) tháp đó một vòng. Các súc sanh không thể nghe thần chú, nhưng chúng cũng có thể giải thoát chính bản thân chúng, bằng cách tình cờ đi vòng quanh tháp đó một vòng. Chỉ bằng cách: thấy, nghe, đụng chạm vào, hay nhớ nghĩ đến những thánh vật có đặt “Bốn Thần Chú Xá Lợi Pháp Thân” vào bên trong cũng có thể xóa được những nghiệp xấu.

Các bạn có thể hạ tải “Bốn Thần Chú Xá Lợi Pháp Thân” (Four Dharmakaya Relics Mantras) ở địa chỉ sau:


(Nguồn: HTT)

Thứ Tư, 7 tháng 4, 2010

THƯỚC LỖ BAN

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại thước LỖ BAN: 43cm, 48cm, 52cm, 23cm... Nay NCD xin giới thiệu hai loại được xem là thông dụng, tức là đã in sẵn trên cây thước kéo bày bán trên thị trường. Xin các anh chị, các bạn hãy nhớ cho: Hàng trên dùng cho Dương Trạch, Hàng dưới dùng cho Âm Trạch. Ở đây, vì không để choán chỗ nhiều, nên NCD sẽ ghi chung hàng, cách nhau bởi một vạch ngang, mong các anh chị thông cảm nhé!
5cm: Nghinh Phúc_ Khẩu Thiệt, Bệnh Lâm.
6- 7- 8cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.
9cm: Lao Chấp_ Hỷ Sự.
10cm: Cô Quả_ Tấn Bửu.
11cm: Trường Khố_ Nạp Phúc.
12- 13- 14- 15cm: Trên dưới đều xấu , kỵ dùng.
16cm: Thất Thoát_ Đại Cát.
17cm: Thiêm Đinh_ Tài Vượng.
18cm: Ích Lợi_ Ích Lợi.
19cm: Quý T _ Thiên Khố.
20cm: Quý Tử_ Phú Quý.

TỬ THƯ TÂY TẠNG (Phần IV)

Đại Giải Thoát  Thông Qua Sự Nghe Trong Bardo CHÁNH VĂN
(Tiếp theo)
Nhưng nếu ngay cả khi được chỉ bày như thế mà vẫn bị các xu hướng ác độc mê muội kéo ông ta lùi lại sau và ông ta sợ hãi lẩn tránh cho nên ông ta không nhận ra yidam, rồi thì, vào ngày thứ mười hai, ảnh hiển lộ của bộ Nghiệp với hình tướng đang uống máu sẽ đến cùng với các vị thiên gauris,[18]* vị thiên pisacis có đầu súc vật, các thiên nữ hành giả yoginis đến tiếp dẫn người chết. Nếu người chết không nhận ra, ông ta sẽ sợ hãi, cho nên để chỉ bày cho ông ta lần nữa, người nên gọi tên ông ta và đọc những lời sau : ÷

“Này thiện nam (tín nữ), hãy lắng nghe cẩn thận, không được xao lãng. Khi ngày thứ mười hai đến, ảnh hiển lộ của bộ Nghiệp được gọi là Heruka-Nghiệp Thiêng Liêng với hình tướng đang uống máu từ phần phía bắc của đầu con và nổi lên trước mặt con rất rõ nét trong dạng liên kết với người phối hợp ; thân ngài màu xanh lá cây đậm với ba đầu sáu tay và bốn chân dang rộâng ; gương mặt bên phải màu trắng, gương mặt bên trái màu đỏ, gương mặt ở giữa màu xanh lá cây đậm huyền diệu, ba tay bên phải tay thứ nhất cầm kiếm, tay giữa cầm đinh ba có ba đầu người ở trên, tay cuối cầm cây gậy, ba tay bên trái tay thứ nhất cầm chuông, tay giữa cầm tách sọ người tay cuối cầm lưỡi cày ; người phối hợp là Karma-Krodhisvari ôm thân ngài, tay phải của bà choàng qua cổ, tay trái của bà cầm một sọ người đầy máu đưa tới miệng ngài. 

Tuyển Trạch Cầu Chân-Quyển 1

Tựa tập Tuyển Trạch Cầu Chân  
Tư Mã Ôn có nói: Bói nhà ở, bói lành, trước bàn việc người, sau hỏi bói rùa, không đất thường, ngày thường vậy. Kịp đến thời nhà Tần nhà Tấn, sự huyền bí Âm Dương đã tiết lậu, đạo khắc trạch nảy nở dần dần. Dương Quân Tùng đời đường mở sự sâu xa ra, dựng nhà ở chôn người chết nên chọn ngày, vốn là lẽ chính của Ngũ Hành, thuận thời tiết của 4 mùa, sau xét đến Vượng, Tướng, Hưu, Tù. Thi hành thì lấy Sinh, Khắc, Chế, Hóa, Phù Long, Tướng Chủ, theo lành, tránh dữ, khúc chiết hết cái diệu (hay), do đó làm nên thiên Tạo Mệnh để trao cho Tăng Văn Sơn, Trần Hi Di truyền bá. Các ông Ngô Thành, Ngô Cảnh Loan, Liêu Kim Tinh đều là người danh tiếng các triều đại cũng đều noi theo Tạo Mệnh của Dương Công. Nhưng những thuật giả dối khoe khoang sự lạ của các nhà có kéo nhau, phụ họa nhau, nhờ danh Dương Công để làm hổn độn ở trên đời.
Than ôi ! Lòng trời há có chán bậc tiên hiền tiết lậu hết mà khiến bọn giả dối này làm rối loạn sự thực ru!
Trước tôi bị sa vào cái thuật ấy, may được Mạch Chu thiên sứ cho biết bến mê, được giác ngộ ý Tạo Mệnh, chỉ một cuốn Tuyển trạch ấy chở đầy xe, xếp đầy nhà, thật giả đều truyền bá ở đời này, dù có kẻ biết là giả, nhưng xét ra chưa từng trỏ thẳng cái chỗ không phải, thời đời sau há chẳng bị nhầm mãi mãi ru! Do đó không thể giữ được buồn mà than rằng: “Những cây cỏ xấu mà không trừ bỏ thời lúa tốt lành làm sao mà mọc lên được?”.
Thực không phải nói vu vơ vậy! Chừng ấy mới rộng lấy các sách, chọn cái lý gì chính đáng thời chép ra, cái nhầm thời bỏ đi, tôn sung tạo mệnh của Dương Công, theo các vì sao nói trong Hiệp kỷ của Quốc Triệu, xếp đặt thành thiên phụ thêm ý kiến vào nửa, ở trong thiên có sự chồng chất lên, chả là những ý cùng nhau phát minh ra, nhân đặt tên thiên là Tuyển Trạch Cầu Chân .
Năm Gia Khánh thứ 14, năm Kỷ Tỵ, mùa thu tháng 8 Cách Thành Minh Viễn .
Hồ Huy Ứng quang thị viết ra ở nhà Huệ Cát .


Tựa của Tụ Chân
Thiên Tuyển Trạch Cầu Chân tự đâu mà thành ra? Thành ra tự tay Minh Viên Hồ Quân. Hồ Quân làm sao mà làm ra thiên này? Hồ Quân không nỡ để thuật giả dối làm ngu người ta, cho nên lấy ở bài bàn có danh tiếng để cầu được chính xác. Thiên này do Hồ Quân làm ra tại sao tôi lại làm bài tựa? Vì Minh Viễn Hồ Quân là bạn tốt của tôi, tôi vốn chứa sức học từ thuở bình sinh, phàm những sách Kinh, Sử, Tử, chẳng sách nào là chẳng học đầy đủ mà rất tinh về thuật lý.

Tuyển Trạch Cầu Chân

Tôi có một cái tật cố hữu gặp được một cuốn sách hay thì đọc quên ăn quên ngủ cho xong, mươi bữa có khi lại quên mất nội dung lại giở sách ra đọc lại nghiền ngẫm, cái lối đọc đó tôi chẳng biết gọi lài gì, nhưng  cái lối đọc nhanh, chậm, chậm dần, chậm nữa, chậm chậm nữa ..đối với tôi có nhiều điều thú vị.
Tuyển Trạch Cầu Chân-Cuốn sách này huynh Trường Minh post bên TGVH, tôi xin phép post lại trên Blog của mình để có thêm tư liệu nghiên cứu và hầu bằng hữu nếu ghé qua đây có cái để đọc. Theo sách thì "chọn cái lý gì chính đáng thời chép ra, cái nhầm thời bỏ đi, tôn sung tạo mệnh của Dương Công, theo các vì sao nói trong Hiệp kỷ của Quốc Triệu, xếp đặt thành thiên phụ thêm ý kiến vào nửa, ở trong thiên có sự chồng chất lên, chả là những ý cùng nhau phát minh ra, nhân đặt tên thiên là Tuyển Trạch Cầu Chân (Năm Gia Khánh thứ 14, năm Kỷ Tỵ, mùa thu tháng 8 Cách Thành Minh Viễn. Hồ Huy Ứng quang thị viết ra ở nhà Huệ Cát.)

Theo đó sách gồm 7 cuốn nội dung như sau :
Quyển 1:
_ Tựa tập Tuyển Trạch Cầu Chân
_ Tựa của Tụ Chân
_ Tuyển Trạch biện chính
_ Bàn về sự nhầm lẫn của các phép Đẩu Thủ
_ Bàn về Tuyển Trạch
_ Bài biểu của Ngô Cảnh Loan dâng cuốn "Âm Dương Thiên cơ"
_ Bài biểu của Ngô Cảnh Loan nói về "Tuyển Trạch Ngũ Hành":
_ Nêu sự cốt yếu về Tuyển Trạch
_ Bài ca về Tuyển Trạch diệu dụng
_ Bàn về sinh khắc chế hoá
_ Bài ca Tạo Mệnh thiên kim
_ Nói rõ Tinh, Thần
_ Kinh Nghi Long
_ Bàn bạc chính xác về Thần Sát

Quyển 2: Cách chọn ngày giờ dựng nhà_ chôn người chết_ nam nữ hợp hôn.
_ Bàn về Bổ Long.
_ Khoá xưa về Bổ Long
_ Bàn về Phù Sơn
_ Bàn về Lập Hướng
_ Bàn về Tướng Chủ
_ Cách cục về Tạo Mệnh
_ Bàn về lấy dùng Chính Ngũ Hành Sinh, Vượng
_ Tóm bàn về Tứ Trụ
_ Phép dùng Niên
_ Phép dùng Nguyệt
_ Phép dùng Nhật
_ Phép dùng Thời
_ Tứ Đại Cát thời
_ Lệ về Âm Dương Quý
_ Biểu tổng quát 720 khoá giờ Quý Nhân đăng Thiên Môn

Thứ Ba, 6 tháng 4, 2010

Sắp đặt hồ cá theo Phong thủy

Hiện nay hầu như trong cả nước, từ thành thị đến nông thôn đều thích chơi cá cảnh, khi mà cuộc sống mỗi ngày mỗi nâng cao theo đà phát triển kinh tế chung của xã hội. Đây cũng là một thú vui tao nhã mà ai cũng thích, mỗi khi đi làm về với bao nhiêu mệt mõi,nhưng được ngắm nhìn đàn cá nhẹ nhàng bơi lội với dáng hình đẹp mắt mà ta ưa thích,thì tất cả mệt nhọc đều tan biến, ta thấy cuộc đời thật bình lặng và hạnh phúc biết bao…
2ez7.jpg


Thế nhưng việc chơi cá cảnh có rất ít người biết nó đã ảnh hưởng thế nào trong phong thủy,nhất là về tài vận,ngoại trừ việc am hiểu một số loại cá mà từ người bình thường đến các “đại gia” ở các thành phố lớn như TP.HCM, Hà nội…đều cho là may mắn như : Cá la hán, Cá dĩa, cá rồng, cá king kamfa, cá huyết long, cá hoàng đế, cá hoàng hậu, cá mỹ nhân, cá nàng đào, cá mặt khỉ môi son v.v…


Dầu ít dầu nhiều thì những loại cá đem lại “may mắn” như trên cũng đã gây ấn tượng tốt đẹp cho người chơi,nên đã thu hút khá nhiều người không ngại ngần bỏ ra tiền triệu,thậm chí hàng trăm triệu để sở hửu một hoặc nhiều con cá thuộc loại “hàng độc”, để chiêm ngưởng cho thỏa chí say mê và sau nửa là cầu mong “phát tài, phát lộc”.


Nhưng trong số đó cũng không ít người lại rơi vào hoàn cảnh “dở khóc,dở cười”,l à tại vì đã đặt bể cá đúng vào phương vị xấu, đó là phương vị Huyền Vũ, do vậy tài vận mỗi ngày mỗi suy giãm,và dần dần bị tản tài, đi đến “phá sản”nhưng không hiểu vì lý do gì ? Trong khi mình đang nuôi một hoặc nhiều con cá đem lại “may mắn”…

CÁC VẬT HOÁ SÁT, CHIÊU TÀI TRONG PHONG THỦY

OZ-Những vật hóa sát, chiêu tài dưới đây theo phong tục Trung Quốc nhưng người Việt ta cũng ảnh hưởng ít nhiều, thường thì dân ta dùng trong kinh doanh. Ngày nay do "Phú quý sinh lễ nghĩa" OZ nhận thấy khá nhiều người tin và dùng những vật khí phong thủy để chiêu tài hoặc khắc chế xung khắc trong công việc kinh doanh và nơi cư ngụ. Xin giới thiệu bài của NCD bên TGVH để mọi người tham khảo.

1/ Tiền Áp Tuế ( còn gọi là Tiền Thái tuế )

Đây là đồng tiền xưa bằng đồng , ngoài tròn tượng trưng cho trời , giửa có lỗ vuông nhỏ tượng trưng cho đất , một mặt có in hình Bát Quái , một mặt có in hình Thập Nhị Địa Chi.

Thường dùng để Hoá giải cho những ai có hướng nhà phạm Thái Thuế hay Tuế Phá , hoặc tuổi mình năm đó phạm Thái Tuế hay Tuế Phá.
Cách dùng : Lấy dây ruy băng đỏ hay chỉ đỏ cột và treo ở vị trí mình thường thấy , hoặc bỏ trong bóp-ví , hoặc treo trước cửa cái. Đừng ngại dây đỏ là Hoả khắc Kim , vì màu đỏ là tượng trưng cho năng lượng Dương mạnh nhất trong các màu , nên nó sẽ kích hoạt tính Dương cho Vật khí PT rất hiệu nghiệm.

2/ Kỳ Lân

Về Kỳ Lân mình cũng đã nói nhiều rồi , nên nay chỉ nói sơ qua.
Thời xưa , Kỳ Lân được coi là một trong Tứ Linh : Long , Lân , Quy , Phụng. Nó tác dụng Chiêu Tài , Nạp Khí lẫn Hoá Sát , công dụng rất rộng
Những trường hợp Hoá Sát thường dùng Kỳ Lân như : Thương Sát hơi lớn như đại lộ , Bạch Hổ Sát , Thiên Trảm Sát lớn như khe hở giửa 2 toà nhà cao tầng đối diện , Hoạch Hình Sát.
Còn 1 loại Kỳ Lân có phía trên lưng giở lên được, chuyên dùng bỏ trong két sắt để Thâu Hút Tài Lộc.

3/Ngựa đồng :

Con vật này cũng quá quen thuộc nên có lẽ mình cũng không cần mô tả nó ra làm gì rồi.
http://www.phongthuy.com.vn/ProductFolder/Thumbnails/1159349358.jpg
Tính chất của ngựa là bôn ba đây đó , chủ động. Vì vậy khi dùng để kích hoạt thì thích hợp với những người làm nghề đi đây đó nhiều ( người tuổi Tý không nên dùng ) , hoặc chuyển đổi chỗ làm ( trường hợp này thường dùng Phi Mã-ngựa có 2 cánh 2 bên thân- hiệu lực sẽ nhanh hơn ).
Ngoài ra, Ngựa còn được dùng trong Phong Thủy với tác dụng kích hoạt việc bán nhà nhanh.
Khi Hoá Sát thì nó thường dùng cho các trường hợp : Liêm Đao Sát , Thiên Trảm Sát.

Thứ Hai, 5 tháng 4, 2010

TỬ THƯ TÂY TẠNG (Phần iii)

NGÀY THỨ TƯ

Vào ngày thứ tư có hỏa địa được tịnh hóa, thể hiện bởi A Di Đà Phật (Amitabha), bộ Hoa Sen (padma family). A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang và phẩm tính căn bản của hoa sen là có sức thu hút quyến rũ, nhiệt tình lôi cuốn, mở toang, trống rỗng và đại bi. Nói là Vô Lượng Quang bởi vì nó đích thị sáng chiếu một cách tự nhiên, không đòi hỏi sự khen thưởng. Nó có bản chất của lửa chứ không phải theo nghĩa cái nóng sân hận, nó tiêu dùng bất cứ chất liệu nào mà không hề từ chối hay chấp nhận. Ngài A Di Đà cầm trên tay một đóa sen, điều này có nghĩa : hoa sen nở khi mặt trời mặt trăng chiếu sáng lên đóa hoa, nó nở về hướng có ánh sáng và chấp nhận bất kỳ tình huống nào đến từ bên ngoài. Hoa sen có phẩm chất tinh khiết hoàn hảo ; với lòng đại bi như vậy, nó mọc lên từ trong bùn đất dơ bẩn nhưng đóa hoa thì trong sạch và toàn thiện một cách trọn vẹn. Ngài ngự trên lưng con công việc này lần nữa thể hiện sự mở trống và sự hoan hỷ chấp thuận : trong thần thoại, chim công được coi như nuôi dưỡng bằng chất độc, những màu sắc đẹp lộng lẫy của nó được tạo nên từ việc ăn chất độc. Sự mở trống rộng ra tới mức nó có thể giải quyết được mọi tình huống bất thiện vì thực ra chính vì các tình huống bất thiện đó mà lòng đại bi được hoan hỷ và sinh động.

Đá Corundum và Hematit


1.Đá Corundum.
Công thức : Al2O3- Độ cứng theo thang Mohs : 9.0- Khối lượng riêng : 4.0 g/cm3- Hệ tinh thể ba phương- Ánh thủy tinh.
Corundum là loại đá quý có độ cứng chỉ sau kim cương . Về mặt hóa học corunđum là ôxit nhôm thông thường.
Mầu sắc khác nhau của nó là do các tạp chất chứa crom , sắt , vanađi và nhiều hợp chất khác .Có corundum có hiệu ứng ánh sao (tính ánh sao ) trong thế giới của đồ kim hoàn , corunđum trong suốt có mầu sắc rực rỡ thường có những tên gọi riêng . Corunđum đỏ là rubi , corunđum xanh là xaphia.Corunđum có phẩm chất kim hoàn truyền thống được khai thác ở Mianma Thái Lan , Ấn độ ,Madagaxca …Ngày nay corunđum nhân tạo được sản xuất trên cơ sở công nghiệp .
TÍNH CHẤT CHỮA BỆNH
Cho rằng corundum mầu đỏ có tác động tích cực đến việc điều trị bệnh ở hệ thần kinh cơ quan tạo mắu , cột sống và xương khớp Nó còn giúp điều trị những rối loạn giấc ngủ .Corundum màu lam và xanh da trời có tác dụng làm giảm áp lực ,chữa chứng mất ngủ .Có ý kiến cho rằng , những loại corunđum này rất có ích cho việc điều trị bệnh ở cơ quan thị giác .Các nhà thạch trị liệu học cho rằng , corunđum mầu lam có thể làm dịu chứng đau lưng do bệnh hư xương xụn gây ra .

Bài 4: Ý nghĩa của đá quý và ngày sinh

Ý NGHĨA CỦA ĐÁ QUÝ VÀ NGÀY SINH
1/- GARNET (Ngọc hồng lựu – ngày sinh từ 21/12 đến 20/1): Là loại đá của sức sống và nghị lực. Garnet tượng trưng cho tình yêu chân thật, tin cậy và bất tận. Garnet sẽ mang lại may mắn trong tình yêu, tình bạn và ngăn chặn kẻ thù tấn công bạn.
Màu sắc: đỏ thẳm.

2/- AMETHYST (Thạch anh tím – ngày sinh từ 21/1 đến 20/2): Biểu tương của sự khôn ngoan, sức mạnh và tự tin. Đây là một trong những loại đá tốt nhất cho những ai đang ở trong tình trạng căng thẳng hay bị chứng đau nửa đầu. Ngoài ra nó còn tốt cho những người dễ bị nổi cáu. Amethyst mang đến sự hài hòa và thanh thản trong tâm hồn.
Màu sắc: hoa cà, tím

3/. AQUAMARINE (Ngọc xanh biển – ngày sinh từ 21/2 đến 20/3): Biểu tương của sự hòa bình và yên tĩnh. Người ta tin rằng loại đá này sẽ mang đến sự dễ chịu cho các cặp vợ chồng. Sức mạnh của nó có thể giúp người chồng hay người vợ bày tỏ quan điểm, ý kiến riêng của mình dễ dàng hơn. Nếu mơ về Aquamarine thì có nghĩa là bạn sắp gặp những người bạn mới.
Màu sắc: xanh biển hơi ngả xanh lá hay xanh biển.

Chủ Nhật, 4 tháng 4, 2010

Ngọc Lục Bảo

Công thức : Be3(AL,Cr)2Si6O18- Độ cứng theo thang Mohs : 7.5 – 8.0- Khối lượng riêng : 2.8g/cm3
Hệ tinh sáu phương – Ánh thủy tinh
Ngọc lục bảo là (beril) trong suốt và thuộc loại đá quý hạng nhất . Mầu xanh đặc chưng của nó là hợp chất của crom( ít khi là vanađi ) có ngọc lục bảo ánh phớt vàng do chứa muối sắt .Tên gọi của loại đá này theo tiếng Hylap là “smaragdos” bắt nguồn từ tiếng ba tư “Zumrundi” (có nghĩa là xanh lá cây)
Khoảng 4000 năm trước đây ngọc lục bảo được khai thác ơ giữa biển đỏ và sông Nin . Theo truyền thuyết nữ hoàng Cleopatra đã đến thăm mỏ đá này và mỏ được gọi theo tên của nữ hoàng là Cleopatra.
Những mỏ ngọc lục bảo khác được tim thấy ở các nơi như Ural, Hoa Kỳ và Úc .Ngày nay còn có các mỏ ở Mzambich, Nambia , Na Uy ,Pkistan, Sri lanka và nam phi.

Thứ Bảy, 3 tháng 4, 2010

TỬ THƯ TÂY TẠNG (Phần II)

2.Đại Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe Trong Bardo
 
Bài Giảng của Chošgyam Trungpa, Rinpoche

THÔNG ĐIỆP CỦA CUỐN SÁCH

Dường như có một vấn đề gút mắc cơ bản khi chúng ta đề cập tới chủ đề “Tử thư Tây Tạng”. Nếu đưa ra so sánh về phương diện thần thoại và những hiểu biết về người chết giữa Tử thư Tây Tạng với Tử thư Ai Cập thì chúng ta sẽ bỏ sót một điểm cơ bản đó là quy luật cơ bản của sự chết và sự sanh được tái diễn liên tục trong cuộc sống này. Do đó, chúng ta có thể coi bộ giáo huấn này như là “Sách Tái sanh của người Tây Tạng”. Bộ giáo huấn này không đặt nền tảng trên cái chết theo nghĩa đen, nó được đặt nền trên một quan niệm hoàn toàn khác biệt về cái chết. Nó là một “Quyển sách về Chân Không”. Chân Không chứa đựng cả cái chết lẫn cái sanh ; hư không tạo lập nơi để chúng ta hít thở, cư xử và hành động, nó là môi trường cơ bản cung cấp nguồn cảm hứng cho bộ sách này.

Trước khi Phật giáo du nhập vào, nền văn minh của đạo Bošn ở Tây Tạng đã có sẵn những chỉ dẫn chính xác cách ứng xử với năng lực tinh thần do người chết để lại sau đó, hay có thể nói là các dấu hiệu, thân nhiệt thi thể khi một người chết đi. Dường như cả hai – truyền thống của đạo Bošn và của người Ai Cập – chỉ dựa trên loại kinh nghiệm về cách mà các dấu hiệu của người chết biểu lộ, thay vì đề cập tới tâm thức (thần thức) của người chết. Nhưng cái tạng thức căn bản (basic principle) mà tôi đang cố diễn đạt ngay bây giờ chính là cái bản chất chao đảo, nghiêng ngã giữa sự sáng suốt và u mê hay giữa giác ngộ và mê lầm, cùng với các khả năng xảy ra đối với đủ loại khám phá các ảnh hiện ra trên đường dẫn tới sự sáng suốt hay sự u mê.

Thứ Sáu, 2 tháng 4, 2010

TỬ THƯ TÂY TẠNG (Phần 1)

Guru Rinpoche theo Karma Lingpa 

1.ĐẠI GIẢI THOÁT THÔNG QUA SỰ NGHE TRONG BARDO
Một bản dịch mới, đầy đủ từ tiếng Tây Tạng  với bình giảng bởi Chošgyam Trungpa và Francesca Fremantle
The Tibetan Book of the Dead - The Great Liberation Through Hearing in The Bardo Shambhala, 1975-Việt dịch: Kiến Không - Thiện Tri Thức, 2001
Lời Nói Đầu
Bardo Thoštrošl là một trong một loạt các bộ giáo huấn chỉ dẫn sáu cách giải thoát : giải thoát thông qua sự nghe ; giải thoát thông qua đeo, mặc ; giải thoát thông qua sự thấy ; giải thoát thông qua nhớ tưởng ; giải thoát thông qua nếm vị ; giải thoát thông qua xúc chạm. Bộ giáo huấn này do ngài Padmasambhava chỉ giáo và người vợ (tâm linh) của ngài là Yeshe Tsogyal ghi lại cùng với sadhana (nghi thức hành trì) về hai mạn đà la (mandalas) của bốn mươi hai vị deity bình yên (peaceful) và năm mươi tám vị deity xung nộ (wrathful).

Ngài Padmasambhava đã chôn cất các bộ giáo huấn này trong vùng đồi Gampo ở miền trung Tây Tạng, nơi này về sau đại sư Gampopa xây một tu viện. Nhiều bộ giáo huấn khác cùng với các vật thiêng liêng cũng được chôn cất như vậy ở nhiều nơi khác nhau trên khắp lãnh thổ Tây Tạng ; người ta gọi các bộ giáo huấn đó và các vật thiêng liêng được chôn cất là terma. Ngài Padmasambhava đã truyền oai lực cho hai mươi lăm đại đệ tử để khám phá các nơi chôn cất các terma. Sau này, ngài Karma Lingpa đã tìm ra nơi chôn cất bộ giáo huấn Bardo này, ngài Karma Lingpa là tái sanh của một trong các vị đại đệ tử đó.

Theo tôn chỉ này, giải thoát có nghĩa rằng bất kỳ ai dù là người nghi ngờ hay là người có tâm rộng mở, khi tiếp cận được giáo huấn này sẽ nhận được một chợt thấy thình lình giác ngộ thông qua oai lực trao truyền đã được chứa đựng trong các bảo vật (terma) này.

Ngài Karma Lingpa thuộc truyền thống Nyingma nhưng tất cả học trò của ngài đều thuộc truyền thống Kagyuš. Ngài thực hiện sự trao truyền lần đầu tiên sáu bộ giáo huấn giải thoát này cho ngài Došdušl Dorje, vị Karmapa đời thứ mười ba, đến lượt ngài Došdušl Dorje trao truyền lại cho Gyurme Tenphel, vị Trungpa đời thứ tám. Sự trao truyền vẫn tiếp tục tồn tại trong các tu viện Surmang của dòng Trungpa và từ nơi đó sự trao truyền lan ra trở lại trong truyền thống Nyingma.

Thứ Năm, 1 tháng 4, 2010

Những suy luận trước ngưỡng cửa huyền môn

OZ-Những điều suy luận của TrungDung rất có cơ sở và bổ ích cho những ai có ý định nghiên cứu hoặc đi sâu vào con đường Huyền thuật, nhận thấy đây là một bài viết hay nên OZ xin đăng lại hầu bạn đọc, các bạn có thể tham khảo thêm những phản hồi khác trên trang TGVH.

Lâu rồi không thấy bùa chú xuất hiện trên Thế Giới Vô Hình của chúng ta. Cùng với sự qui ẩn hay chuyển sang sinh hoạt trên các trang blog, web khác của các trưởng lảo, trưởng huynh, những người nhiều năm trong cửa huyền môn, các chử phù, câu chú thuộc nội môn, mật truyền không còn được đưa lên mục Thế Giới Bùa Ngãi nữa. Việc không có phù chú mới để nghiên cứu là may hay rủi cho trang nhà Thế Giới Vô Hình và cho từng thành viên trên diễn đàn, tùy thuộc vào cơ duyên, học thuật và nhận thức của từng người.

Dù không còn các trưởng huynh, trưởng lão đưa các phù chú nội môn để các thành viên nghiên cứu, nhưng việc giao lưu giửa các thành viên cũ, mới chắc chắn vẫn đang được tiếp tục bên ngoài Thế Giới Vô Hình của chúng ta. Và vẫn còn đó những thành viên không ngại khó khăn đưa sách vỡ, tài liệu lên diễn đàn để mọi người nghiên cứu.

Người có cơ duyên với huyền môn thì vẫn tiếp tục sưu tầm tài liệu tự nghiên cứu, hay giao lưu học hỏi với người đi trước, hoặc bái sư học đạo, thâu góp kiến thức mỗi ngày một ít, lâu dần cũng thành nhiều. Người không đủ cơ duyên thì chắc là không học được gì, ngay cả kiến thức cơ bản cũng khó tiếp thu được.

Trong mấy năm gần đây, cùng với việc xuất hiện trang nhà Thế Giới Bùa Ngãi, tiền thân của Thế Giới Vô Hình, rất nhiều web, blog tâm linh đã ra góp mặt với đời.

Bàn bạc trên các web, blog, một số phù chú và những kiến thức cơ bản được viết ra, đàm luận. So với khoảng 3 - 4 năm về trước đã có sự thay đổi trong cái nhìn của nhiều người về thế giới tâm linh, bùa chú, ngãi nghệ. Có thể nói đây là một bước tiến dài so với 3 – 4 năm về trước, ngày mà ai nói đến chuyện bùa chú, ngãi nghệ trên mạng liền bị tẩy chai dữ dội, nói vui theo đời thường là bị ”pháo kích không tiếc đạn”. Việc phản bác, ”pháo kích”, cho đến nay vẫn còn, nhưng có vẽ không còn nặng độ như trước (hết đạn, hay vì đã có cái nhìn đổi mới về vấn đề tâm linh?). Nhờ vậy mà người muốn tìm hiểu về thế giới tâm linh có thể tìm thấy phần nào kiến thức cơ bản khắp nơi trên mạng.

Có điều, những kiến thức có thể gọi là cơ bản về huyền môn, huyền thuật, trùng lập trên các trang nhà, lý do đơn giản là người đọc thấy hay thì mang từ trang nhà này sang trang nhà khác, đôi khi viết rõ ràng nguồn gốc, nhiều lúc quên không ghi nguồn, có lúc hứng chí thêm thắt chút đỉnh, khiến người mới tìm hiểu thế giớ tâm linh có cảm giác người biết về huyền môn rất nhiều, ai cũng rành huyền thuật, và thay gì thu lượm thành kiến thức căn bản cho riêng mình thì… càng thấy mù mờ hơn!

Lại nữa những kiến thức được đưa ra xen nhiều tranh luận, đôi khi đi đến chỗ cải vã gây cấn, làm người đọc khó rút ra được kết luận rõ ràng.

Đá Topa và mã não

1.Đá Topa

Tên gọi : Bắt nguồn từ tên gọi của đảo Topazó ở Biển Đỏ.Tên gọi khác, biến thể : -Topaz hoàng đế (Topa Braxin màu vàng phớt hồng).-Đá hạng nặng (Tên gọi cũ của topa ở vùng Ural).
-Ngọc vàng, hoàng ngọc.
 
Những đặc điểm chính : Topa thường không màu, phớt xanh da trời, xanh hồng, vàng, vàng anh đào và vàng ánh kim. Loại màu vàng với ánh đục mờ đặc trưng gọi là ánh “mắt mèo”. Màu sắc của đá được quy định bởi tạp chất chứa titan, sắt và crom.

Tính chất vật lý
- Độ cứng : 8,0
- Tinh hệ : Trực thoi
- Tỷ trọng : 3,41 – 3,57 g/cm3
- Ánh : Thuỷ tinh