Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2010

MA THẦN VÒNG (Bát Thuần Đòai 3)

Thanh Pali
Đã hơn 1 giờ khuya. Trời oi bức lạ thường. Công phu thường lệ xong, tôi nằm xuống mà dỗ ngủ hoài không được. Miệng cứ cố nhẩm niệm: “Khai thần chú Án ngũ chi, Thanh Xích Huỳnh Bạch Hổ…” không biết bao nhiêu lần mà con mắt cứ mở thao láo. Bổng… chiếc chiếu tôi đang nằm bị trì xuống phía dưới chân như có ai đang chằng kéo. Tôi bực mình đưa mắt nhìn xuống thì… Trời đất ơi! Dưới ánh đèn dầu leo lét phía trên kệ, một bóng người ngồi chồm hổm, mái tóc dài phủ xuống kín mặt. Giữa mái tóc ấy, một cái lưỡi màu đỏ thò ra ngoe nguẩy… rồi bất chợt cái lưỡi ấy vươn dài thượt đến giữa hai bắp đùi của tôi… lạnh ngắt… Cái lưỡi tiếp tục vươn tới cổ tôi… Sư phụ ơi!... Tôi ngồi bật dậy như cái lò xo. Ánh đèn dầu trên kệ vẫn cứ chiếu le lói nhợt nhạt… Ủa, đâu có ai!… Từng cơn lạnh chạy lên chạy xuống trong xương sống, tay chân tôi run lẩy bẩy, mồ hôi tuôn ướt cả người…
Boong… Boong… chuông đồng hồ điểm lên hai tiếng làm tôi giật thót người một lần nữa. Đã 2 giờ khuya rồi… Nãy giờ mình mơ hay tỉnh vậy cà! Rõ ràng mình thấy mà! Hay là… Nó? Trời ơi vậy là nguy rồi… Nỗi sợ tràn ngập thân thễ, tôi cố trấn tĩnh đưa tay quơ tìm gói thuốc lá… Ui Trời! Ngoài khe cửa một sợi dây dài đang ngoe nguẩy, đầu dây thò vào phòng tôi được một khúc… Đúng nó rồi, thòng lọng của Thần Vòng (!!!). Tôi lập tức phản xạ nhanh đến không ngờ. Một tay bắt ấn hộ thân, tay kia tôi chụp cái gối mây lót đầu nằm dồn hết sức đập mạnh vào sợi dây di động… “Bụp”

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2010

NGÀY GIỖ TỔ (Bát Thuần Đòai 2)

Thanh Pali
Hơn 5 giờ chiều, Trời nhá nhem tối. Hai thầy trò ôm đầu gối ngồi hút thuốc trên sạp phơi nhang trước nhà. Mùa này muỗi đâu mà nhiều quá. Bay từng cục vo tròn như mây đen trên đầu. Thầy Tư cữ sát sanh, chỉ thổi từng cụm khói thuốc xua muỗi. Vợ ổng te te từ trong nhà đi ra, vừa đập muỗi bồm bộp vừa la:
- Mô Phật. Con muỗi này bự như con ruồi luôn... Mấy thầy trò ông ngồi đó hiến máu nhân đạo cho muỗi hả???
- Bà để tụi tui bàn cái vụ giỗ Tổ ngày mai đi! Làm ơn đi thâu tiền nhang cho tui nhờ.
- Ờ! Tui cũng muốn đi cho rồi, chớ cái nhà có bi lớn mà ở trõng tụi đệ tử ông cứ làm cọp làm beo tùm lum, nghe mệt quá! Nói rồi sư mẫu biến nhanh chóng ra ngoài cổng. Trong nhà vang lên tiếng khọt khẹt gầm gừ um sùm của các sư huynh đệ đang luyện võ cho bọn sơ học. Thỉnh thoảng ngoài này tôi lại nghe:
- Úi da! Sao gõ côn vô đầu tao mày?
- “Bạch Viên Hiến quả” mà sao đánh như xòe tay xin tiền vậy hả?
- Nói thiệt sư huynh đừng buồn! “Tảo địa cước” của sư huynh đá như... chó đái cột đèn vậy đó. (Dân giang hồ nói chuyện có “duyên” hết sức!) Mấy vụ ì xèo này Thầy Tư bỏ ngoài tai. Chắc là ổng đang lo cái vụ cúng Tổ ngày mai. Ngoài các Sư Thúc, Bá tới như mọi năm còn có thêm một nhân vật tầm cỡ mới. Đó là Thầy Tư Ngỡi từ Định Quán về. Đây là một tay Thầy Ngãi có máu mặt từng ăn chung chạ với dân nuôi ma gà, ma xó miệt rừng rú miền Đông. Không mời thì kỳ, mời thì lại lo ổng thử nghề bậy bạ coi bùa với ngãi cái nào cao hơn!!!

Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2010

Trung Quốc chuẩn bị khai quật mộ Lưu Bị

Không chịu kém cạnh, các cơ quan chức năng tỉnh Tứ Xuyên cũng đang bắt tay thực hiện một kế hoạch táo bạo không kém Hà Nam, để cho Lưu Bị - đối thủ chính trị số một của Tào Tháo lại một lần nữa được “uống rượu luận anh hùng”. Người ta đang gấp rút triển khai việc chứng minh ngôi mộ Lưu Bị tại một huyện thuộc tỉnh Tứ Xuyên.
 Lưu Bị qua nét vẽ của Diêm Lập Bản, họa sĩ  thời nhà Đường (ảnh Wikipedia).
Lưu Bị qua nét vẽ của Diêm Lập Bản, họa sĩ thời nhà Đường (ảnh Wikipedia).
Tờ Thành Đô buổi chiều đưa tin, sau khi cơ quan khảo cổ tỉnh Hà Nam công bố thông tin tìm thấy mộ Tào Tháo làm sục sôi dư luận, Tứ Xuyên cũng lập tức vào cuộc với hy vọng sớm đưa Lưu Bị một lần nữa được nhìn thấy mặt trời.

Nơi được cho là lăng mộ Chiêu Liệt hoàng đế nhà Thục Hán có diện tích xấp xỉ 100 héc ta, tọa lạc tại thôn Liên Hoa, xã Mục Mã huyện Bành Sơn – Tứ Xuyên. 80% dân số thôn này mang họ Lưu. Người ta đang bắt tay vào giai đoạn giải phóng mặt bằng phục vụ dự án khai quật mộ Lưu Bị.

10 hiện tượng bí ẩn không thể giải thích

Bóng ma hay cảm giác cận kề cái chết là những hiện tượng bí ẩn mà khoa học chưa thể giải thích thỏa đáng.
Ngoài ra còn nhiều hiện tượng khác nữa vẫn tồn tại trong đời sống của con người, mà không ai biết rõ nguyên nhân. Livescience liệt kê 10 hiện tượng tiêu biểu nhất.
Mối liên hệ giữa não và cơ thể
Y khoa mới chỉ bắt đầu hiểu những cách mà não tác động tới cơ thể. Chẳng hạn, giả dược chứng tỏ rằng con người có thể làm giảm những triệu chứng của bệnh tật hoặc nỗi đau đớn bằng cách tin rằng các liệu pháp điều trị phát huy hiệu quả, mặc dù thực tế không phải vậy. Khả năng tự làm lành vết thương của cơ thể còn đáng ngạc nhiên hơn mọi thứ mà nền y học hiện đại có thể tạo nên.
Cảm giác cận kề cái chết và cuộc sống sau khi chết
Những người từng cận kề cái chết kể rằng họ trải qua nhiều cảm giác bí ẩn - chẳng hạn như đi qua một đường hầm để tới một chỗ có ánh sáng, gặp những người thân yêu, cảm thấy bình yên. Mặc dù những trải nghiệm đó khá rõ nét, song chẳng có ai đưa ra được bằng chứng hay thông tin có thể kiểm chứng về việc linh hồn tạm thoát khỏi cơ thể. Những người hoài nghi cho rằng những trải nghiệm cận kề cái chết chỉ là ảo giác được sinh ra bởi những bộ não bị tổn thương. Cho đến nay giới khoa học chưa giải thích được nguyên nhân gây nên cảm giác cận kề cái chết, hay xác định liệu chúng có phải là hình ảnh của một thế giới khác hay không.
Trong lúc cận kề cái chết, nhiều người thấy họ đi qua một  đường hầm và nhìn thấy ánh sáng ở phía cuối. Ảnh:
Trong lúc cận kề cái chết, nhiều người thấy họ đi qua một đường hầm và nhìn thấy ánh sáng ở phía cuối. Ảnh: encefalus.com.
Năng lực tâm linh và ngoại cảm
Năng lực tâm linh và khả năng ngoại cảm là hai trong số 10 hiện tượng không thể giải thích. Nhiều người tin rằng giác quan thứ sáu là một dạng của năng lực tâm linh. Các nhà khoa học đã kiểm tra những người khẳng định họ có những năng lực tâm linh và kết quả cho thấy chúng không hề tồn tại

Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2010

KHỔNG TƯỚC MẪU ĐƠN


Hình ảnh chim công (khổng tước) ngậm hoa mẫu đơn mang ý nghĩa cầu phú túc, thịnh vượng và thanh nhàn.

Hình ảnh hoa mẫu đơn tượng trưng cho sức sống và sự sung mãn trong tình yêu. Do đó, hình ảnh chim công ngậm hoa mẫu đơn cũng mang ý nghĩa rất đặc biệt đối với cung đào hoa.

Người ta bày tranh hoặc tượng chim công ngậm hoa mẫu đơn vào đúng huyệt đào hoa để cầu mong mau gặp được người phối ngẫu.  

Kích cỡ:    cao 14cm, dài 27cm
Giá bán:    1.368.000đ
(Theo HTT)

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2010

KIM KÊ


Theo một số nhà thuật số, sao tứ lục chính là sao hoa đào. Khi có người trong nhà mắc vào vận đào hoa thì chắc hẳn có liên quan đến sao tứ lục.

Thất xích kim tinh được coi la sao phá quân, mang ý nghĩa phá hủy. Mà thất xích kim là quẻ đoài. Quẻ đoài có tam sơn là canh dậu tân, dậu là gà mình kim.

Như vậy, dùng gà tức là kim thì có thể khắc chế được đào hoa. Như vậy, nếu nhà phạm đào hoa thi đặt kim kê giữa nhà, người nhà sẽ thoát phận đào hoa.

Kích cỡ:    cao 13cm, ngang 5cm
Giá bán:    368.000đ
(Theo HTT)

Thứ Năm, 21 tháng 1, 2010

Quẻ Bát Thuần Đoài (Bát thuần đòai 1)

Thanh Pali
Năm một ngàn chín trăm... Hồi đó, thần tượng Lý Tiểu Long đã đổ bộ vô mấy rạp Cine ở Sài Gòn với Liên Hoàn Tam Cước, Bát Cước... vô hình chung làm thế công việc “bứng răng” cho mấy cậu thanh thiếu niên ở Xóm Giá. Vì y nào cũng nghĩ mình là Lý Tam Cước chứ không chịu làm Vương Vũ hay Địch Long, cũng chẳng có người hùng nào chịu cô đơn như Hắc Danh Đơn Trần Tinh? Bên cạnh họ Lý còn có cô Gia Hòa Công chúa Miêu Khả Tú... và gần chợ Bình Thới cũng có một cô Hòa Linh... Khả ái, con gái cưng của ông chủ lò bánh người Tàu. Nước da cô trắng ngần, hàng mi cong vút... sao mà giống y nữ tài tử họ Miêu vậy. Dạo đó, ở Bình Thới cũng có cỡ vài chục “Lý Tiểu Long” đem lòng ái mộ...
... Ngày mồng 5 tháng... Hồi đó, giữa lúc tôi định dừng tay xe nhang để đi ăn cơm trưa, bổng có người hớt hãi đi vội vào nhà Thầy Tư Nhang:
- Thầy Tư ơi! Thầy Tư.
Thầy Tư mặc tà lỏn, ở trần, đang đứng giữa sân phơi nhang làm công việc... Tè xuống lỗ cống tầy huầy, nghe tiếng gọi liền nheo mắt nhìn và rồi lật đật bước ra cổng. Ông khách Tàu đứng tuổi nói như phân bua vào tai thầy, rồi lại chắc lưỡi lắc đầu... Thầy Tư đứng im nghe rồi đăm chiêu, giây lát thầy nói:
- Rồi, nị cứ về đi, chút xíu tụi tui lại liền.
- Dạ dạ thầy làm ơn làm phước giúp giùm tui.
Y như lúc vô, ổng quay ra biến mất thật lẹ. Thầy Tư vừa rửa tay vừa nói:
- Thanh, mày bấm Mai Hoa Dịch cho tao một quẻ đi!
(Trời ơi, ba cái Hoa Mai “vịt” đực này nhức đầu gần chết, thôi mình chơi đại để ổng hổng cười mình!). Tôi bắt đầu tính: Ông tàu từ phía Tây tới thuộc Đoài, bữa nay thầy đứng ngay lỗ cống nước cũng là Đoài, vậy là... Bát Thuần Đoài thầy ơi!

LONG QUY (RÙA ĐẦU RỒNG)


Trong rất nhiều loài thú lành, thì ở Trung Quốc người ta tôn vinh một loài là Long Quy (rùa đầu rồng).

Người ta tin rằng, nếu đặt long quy trong văn phòng, sẽ có người giúp đỡ trong công việc, sẽ được sếp tin dùng và công việc hết sức trôi chảy.

Không chỉ đặt long quy ở văn phòng mới có tác dụng mà còn có thể đặt long quy ở phòng khách, hoặc đặt ở cả hai nơi thì mọi việc càng suôn sẻ hơn. Giá khỏang 468K
(Theo HTT)

KIM TƯỢNG (VOI ĐỒNG)


Theo truyền thuyết, voi được sinh ra từ các mảnh vụn của ngôi sao Dao quang, vì thế voi được xem là con vật rất linh thiêng. Trong Phật giới cũng thờ thần đầu voi.

Trong đời sống, voi cũng hay giúp đỡ con người. Cho nên hình ảnh của voi đã trở nên rất quen thuộc.

Theo quan niệm phong thủy, hình ảnh con voi to lớn là biểu tượng cho sự mạnh mẽ, vững chãi. Mặt khác, chữ “tượng” đồng âm với chữ “vượng”, do đó người ta thường đặt tranh hoặc tượng voi trong nhà để cầu cho vận nhà được bình ổn, bền vững; người trong nhà có sự nghiệp vững chắc; toàn gia thịnh vượng.

Tượng voi thường được đặt dưới chân những cây cột chính trong  nhà như một biểu tượng chống đỡ chắc chắn cho cả gia đình.

Hình ảnh voi đồng nhả vàng hoặc voi đồng nhả gậy như ý còn mang thêm ý nghĩa đặc biệt cầu cho tài lộc như ý. Nếu đặt những tượng voi này đúng vào phương vị tài lộc thì sẽ phát huy tác dụng rất cao. Giá khỏang 950k.
(Theo HTT)

NGỌC THỬ TẤN KIM TÀI


Chuột là con thú kiếm ăn ở những nơi nhiều lúa gạo và thực phẩm. Do đó, dân gian quan niệm nơi nào chuột tìm đến thì nơi đó  của ăn dồi dào, gạo muôn thóc vạn. Từ quan niệm đó, người ta cho rằng hình ảnh con chuột là biểu tượng của sự dư đầy và sung túc. Nhiều người tin rằng, đặt tranh hoặc tượng con chuột vào đúng huyệt tài thì nó sẽ mang đến cho gia đình rất nhiều tiền của.

“Ngọc thử tấn kim tài” là hình ảnh một con chuột mập mạp được tạc bằng hồng ngọc, trên lưng chạm chữ “phúc”, nằm trên đống tiền và những thỏi vàng, miệng ngậm đồng tiền. Đây là biểu tượng cầu mong phúc, lộc, tài luôn tràn trề, dư dả. Mặt khác, chữ “tấn” trong “tấn kim tài” ngoài ý nghĩa là tiến, dâng, biếu, còn có nghĩa là tăng lên, là phát đạt. Vì vậy, nhiều người đặt tượng “ngọc thử tấn kim tài” vào huyệt tài lộc trong nhà để cầu mong gia đình luôn tấn tài tấn lộc. Giá khỏang 750K.

(Theo Hoangthantai)

Những khối đá huyền bí - Bài 6: Những huyền thoại đá ở Lào Cai



Tổng thể đài thờ Trà Kiệu bằng đá
Lời khấn trước thần Đá được học giả Léopold Cadière ghi lại dưới đây là của một chủ lễ cầu nguyện cho một cháu bé thoát cơn bệnh hiểm nghèo.
“Con sụp lạy, bái kính thần Đá. Con tên... ở làng... Con có thằng con nhỏ khó nuôi tên là... Con xin được bán hoặc ký thác cho ngài thần Đá với lời khẩn nguyện chân thành là (xin thần) cho thằng bé ăn chơi mạnh khỏe. Hằng năm cứ vào ngày tháng (định trước) con sẽ trở lại dâng cúng (lễ vật) lên ngài. Khi thằng bé được 12 tuổi, con sẽ trở lại tạ ngài, xin tháo gỡ lời cam kết hôm nay”.
Sau lời khấn, chủ lễ lạy 4 lạy rồi đứng dậy, nghiêng mình lần nữa trước khi cáo từ thần Đá. Những người dự lễ đem rượu cúng ra uống, tin rằng rượu ấy sẽ xua đuổi hết tà khí lạnh lẽo trong người. Đồ cúng gồm xôi chuối, gà luộc có thể mang về nhà dùng như những “món lộc” được ban hưởng sau khi thần Đá đã dùng hết tánh linh của thực phẩm.

Thứ Tư, 20 tháng 1, 2010

Những khối đá huyền bí - Bài 5: Bãi đá cổ Sapa



Những tảng đá có hình khắc bí ẩn ở Sapa - Ảnh tư liệu

Mặc dù các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã ra công tìm hiểu, song đến nay những nét chạm khắc trên đá cổ ở Sapa vẫn chứa đựng nhiều bí ẩn chưa được giải mã...
 Nghe đọc bài
Những ngày tuyết rơi trắng xóa đường phố, cỏ hoa, Sapa như một nàng công chúa đang nằm ngủ mơ màng trên độ cao 1.600m. Mặt nàng nghiêng nhìn về phía dòng chảy của con suối Mường Hoa, nơi có những tảng đá khắc nhiều ký hiệu và hình ảnh với những nét ngoằn ngoèo mà đến thế kỷ 21 này vẫn chưa ai giải thích được sự có mặt của chúng.

Những khối đá huyền bí - Bài 4: Linga “tam vị nhất thể”

Tượng Bà Phật Lồi...
Điều đáng nói là gần phiến đá có điêu khắc nội dung lễ cưới của nữ thần núi tuyết Parvati (ở làng Ưu Điềm, Thừa Thiên - Huế) lại có một linga nằm sẵn tự bao giờ...
Đó là chiếc linga khá lớn mà theo các lão làng trong vùng đã hàng trăm năm dầm mưa dãi nắng. Linga này cùng một tượng nữ thần bằng đá để ngực trần mà dân chúng trong vùng hương khói kính cẩn gọi là Bà Phật Lồi, với rất nhiều mảnh vỡ lớn, cùng chịu chung số phận bị bỏ mặc giữa trời. Trước cảnh ấy, một số nhà hoạt động văn hóa thực sự quan tâm đến giá trị di tích như Võ Quang Yến, Trần Đình Sơn đến tận nơi bày tỏ mong muốn chùa Ưu Điềm hãy tôn trí những cổ vật trên ở nơi tương xứng.
Giữa năm 2009, nhà chùa đã cho dựng một căn nhà và đem hết những cổ vật trên vào thờ, trong đó có cả linga. Về việc này, đã có người thắc mắc sao nhà chùa lại đưa cả linga vào nơi trang nghiêm. Thật ra linga - yoni không chỉ là biểu tượng sinh thực khí, mà theo quan niệm của văn hóa Ấn Độ xưa, một linga chứa đựng hình ảnh của ba ngôi tối cao là cả ba vị thần: Brahma - Vishnu và Shiva.

Những khối đá huyền bí - Bài 3: Đám cưới của nữ thần núi tuyết



Phiến đá cổ điêu khắc đề tài đám cưới thần Shiva và nữ thần núi Tuyết Parvati - Ảnh: do chùa Ưu Điềm cung cấp tháng 1.2010

Biết mình gặp đá thần, nửa đêm Bố quỳ xuống khấn: “Nếu đá có thiêng xin phù hộ cho tôi đánh được nhiều cá tôm sinh sống”.
Sau lời khấn ấy “mỗi ngày (Bố) đánh cá càng được nhiều hơn, bèn (cùng dân làng) dựng đền tranh ở bến sông để thờ viên đá. Chợt có thuyền khách buôn từ Nhật Bản đi qua đền, trông thấy viên đá, họ bảo nhau rằng: “Đây là đá ngọc”, rồi họ lấy búa lớn để bổ, thì tự nhiên người lăn đùng ra. Khiêng xuống thuyền thì không có sóng gió mà thuyền bị đắm, người trong thuyền không một ai sống sót cả. Từ đấy (đá) lừng lẫy anh linh. Hồi đầu bản triều (Nguyễn) cầu gió thường được linh ứng, bèn sửa làm đền miếu, có lệ quốc tế. Năm Gia Long thứ 10 sắc lập đền riêng, hằng năm tế vào ngày quý của mùa xuân và mùa thu” (Đại Nam nhất thống chí).

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2010

Những khối đá huyền bí - Bài 2: Giải mã "Kỳ Thạch phu nhân"

  Một vị thần trong kho tàng tượng đá Chăm Pa - Ảnh: Diệp Đức Minh
Trên phiến đá thiêng (Kỳ Thạch phu nhân) có chạm trổ những hình người, hình thú mà người dân Thanh Phước xưa kia cho là chứa đựng những ý nghĩa thần bí...
 Nghe đọc bài
Các bô lão trong vùng bảo rằng phiến đá là của một đền thờ lâu đời bị gió mưa và lẽ vô thường chi phối nên sụp đổ và trôi dạt xuống sông như đã nói. Sau ngày được vớt lên lập miếu thờ, phiến đá được đặt trân trọng trên một cái bệ xây bằng gạch để hương khói và được tuần vũ Quảng Trị là ông Đào Thái Hanh mô tả khá rõ như sau: “Phiến đá này màu đen có hình dạng tựa nửa tấm bửng tròn, có đáy 1,2 mét; cao 0,9 mét và dày 0,23 mét, chạm nhiều hình người và con vật.
Các hình chạm chia làm hai nhóm. Phần trên là một hình người gần như trần truồng, ngồi trên tòa sen, chân xếp bằng và tay đặt trên đầu gối; bên phải có (chạm) một con thú kỳ lạ và vài hình phác họa về người, với nét vẽ non nớt; bên trái có 5 hình khắc đàn ông, đàn bà, con nít, người cầm ly rượu, kẻ thổi sáo. Phần dưới (tảng đá) cách với phần trên bằng một đường viền được kẻ một cách thô sơ, có một đám người mặc kín nửa người, hình như muốn vươn

Những khối đá huyền bí - Bài 1: Phiến đá được phong thần



Bức tượng Phật thiên thủ (nghìn tay) có liên quan đến mỹ thuật và hình tượng của Kỳ Thạch phu nhân mà một số nhà nghiên cứu cho là có thể gợi mở thêm về mối liên hệ giữa văn hóa Bà La Môn giáo với Phật giáo trên đất Việt ngày trước - Ảnh: Diệp Đức Minh
Đá là vật vô tri vô giác nên người ta thường ghép đá với những tính cách cứng nhắc lạnh lùng. Nhưng không hẳn như thế, bởi trong dân gian và sử sách đã có nhiều câu chuyện về thế giới huyền bí và đời sống sinh động của đá.

 Mời nghe đọc bài
Đầu tiên là chuyện tảng đá khắc hình một nữ thần không mặc áo, để ngực trần, đã chìm xuống sông Trà, nằm im qua nhiều mùa trăng, rồi bất chợt “nổi lên” vào một buổi giông hè.
Nữ thần báo mộng
Chuyện xảy ra ở xã Thanh Phước, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên ngày trước, mà người viết bài này tình cờ được một cụ già kể cho nghe trong một chuyến về thăm Huế.
Rằng ở vùng ngã ba sông Hương và sông Bồ có một ông lão đánh cá nghèo, ngày ngày xuôi dòng nước của con sông chảy qua làng để quăng lưới. Một hôm từ mờ sớm đến mặt trời lên cao vẫn chưa bắt được con cá nào đủ to để ra chợ đổi gạo, ông buồn bã nằm trên vạt cỏ ven bờ, gối đầu lên một tảng đá lớn thiu thiu ngủ. Chợt ông nằm mơ thấy có một người thân hình to lớn, mặt mày đỏ gay giận dữ, tay cầm chiếc gậy dài thúc thúc vào người ông, quát: “Này ông lão kia, sao ông lại dám gối đầu lên người của ta mà ngáy?”. Ông lão sợ quá quỳ mọp xuống, vị thần đá liền trấn an và nêu một câu hỏi nếu ông trả lời được thì vị thần đó hứa sẽ cải biến số phận để ông được sung túc và mạnh khỏe, sống lâu. Câu hỏi đó là: “Thứ gì luôn im lặng và thiêng liêng như đá? Thứ gì luôn luôn ở với người, giúp ích cho người, mà không hề đòi hỏi đền đáp, hoặc lên tiếng kể lể lời nào?”.

Người Con gái tỉnh Bắc

Vũ đến trọ học ở hàng cơm bà cụ Ðỗ đã ba tháng rồi. Nhà chật chội, mái lợp tôn, nên mùa hè rất nóng nực. Nhưng Vũ không muốn tìm chỗ trọ khác, bởi bà cụ Ðỗ tính giá rẻ, phần vì mọi việc trong nhà, cụ làm lấy, ít phải thuê mượn, phần vì chính gian nhà ấy, cụ cũng không phải mất tiền thuê. 
Bà cụ Ðỗ hồi cư rất sớm, thấy gian nhà bị chiến tranh tàn phá, chỉ còn trơ lại hai bức tường và một gian gác xép đằng sau, nên dựng mái tạm trú. Mãi, chủ nhà chưa thấy về, nên cụ yên chí ở, tưởng chừng như đất của mình. 
Gian gác xép ấy bỏ không. Có lẽ vì thấy có nhiều chiếc rầm gỗ bị cháy xém, sắp rơi, trần lại nhiều chỗ nứt lở, nên chẳng ai dại gì hứng lấy tai nạn. Mùa hè đến, cùng với những kỳ thi. Vũ cần phải học nhiều lắm, nhưng không được như ý. Nhà chật chội quá. Khách ăn hàng lại thường đông, ăn uống bi bô rầm rĩ. 
Hơn nữa, mái tôn càng làm nắng hè gay gắt. Bởi vậy, Vũ đã nghĩ nhiều đến gian gác xép bỏ hoang ấy. Một chiều chủ nhật, Vũ mượn được thang, dựng trèo lên xem. Gác tuy bỏ hoang nhưng không đến nỗi bẩn quá. Sàn vẫn còn nguyên vẹn, chỉ có nhiều bụi cát, cùng một ít vôi vữa long trên trần xuống. 
Tường cũng còn khá sạch. Riêng các cánh cửa đều đã mất hết. Gió bên ngoài lùa vào mát rượi. Vũ suy tính nếu mình quét dọn qua loa, mỗi buổi tối, trèo lên gác xép này, thắp nến mà học rồi giải (trải) chiếu ngủ thì tốt quá. Vừa yên tĩnh, vừa mát mẻ. 

Thứ Hai, 18 tháng 1, 2010

Tìm Hiểu Đạo Phù Thủy ( Bùa Phép) ở Việt Nam

Nếu các tôn giáo có nhiều hệ phái thì đạo phù thủy ở Việt Nam ta cũng vậy.
Phù thủy ở miền Bắc VN đầu tiên từ Tàu truyền sang , cho nên chúng ta cũng cần biết qua nguồn gốc phù thủy ở Tàu trước . Theo lịch sử Trung Quốc thì khi Xuy Vưu chống lại vua Hoàng Đế thì y đã dùng bùa ngải , thư, chú để đánh quân của Hoàng Đế .Vua Hoàng Đế lại thua nhiều trận sau nhờ được Bà Cửu Thiên Huyền Nữ dạy cho 8 ngày về các bùa phép để phá Xuy Vưu .
Huyền Nữ dạy Hoàng Đế từ ngày Nhâm Tý, Qúy Sửu trừ hai ngày Giáp Dần, Ất Mão thôi rồi lại dạy tiếp từ ngày Bính Thìn đến hết ngày Tân Dậu tổng cộng là 8 ngày, nhờ thế Hoàng Đế biết chế kim nam châm "chỉ nam" và bùa phép phản công lại Xuy Vưu khiến cho bộ lạc này tan rả phải rút lên núi cao mà ở . Sau này họ hóa thaǹh bộ lạc Mèo "Miêu tộc" và vùng núi họ ở gọi là vùng Miêu cương nơi chứa nhiều bí hiểm và độc địa . Sau đó Hoàng Đế truyền lại cho Chúc Do Thập Tam Chưởng mà đại đa số là bùa chú trị bịnh cho binh sĩ thời đó . Như vậy là nghành Đông Y cũng có một khoa tṛi bịnh bằng bùa phép như : - Chữa bịnh Truyền thi lao sái . - Các bịnh mụn nhọt . - Dùng khi châm cứu . Đó là những cách dùng bùa lẫn với dùng thuốc .Thí dụ : Chữa bịnh Lao truyền thì dùng bùa dán để vây con trùng lao rồi dùng ngải cứu mà đốt .Muốn làm tan nhọt thì thư phù trên mụn cho tan đi hoặc cho vỡ đi gọi là đinh gíap thần phù ( Lọai này biên gỉa đã thí nghiệm thấy rất linh diệu và gia phụ đã trị cho cả trăm người bị lên đinh lên bắp chuối và mụn xoài đều tan hoặc vỡ cả ) và lọai bùa khi châm cứu là để mở các huyệt đạo trong người trước khi châm cứu. Phù thì gọi là Thái Ất thần phù và chú thì gọi là Càn Nguyên thần chú. Đến Khương Tử Nha tức Thái công khi cầm quân phạt Trụ thì lại đem áp dụng phù chú vào binh pháp trận đồ, vào các việc bệnh, tử trong quân doanh mà sau này Trương Tử Phòng và Gia Cát cũng như Lưu Bá Ôn đều áp dụng theo. Loại phù thuỷ trên được gọi là chính đạo và thường do các đạo sĩ, những người tu Tiên sử dụng.

Ý Nghĩa sức mạnh hòa hợp

Trong giáo pháp, Đức Phật có dạy sáu điều hòa hợp, gọi là lục hòa, các Phật tử  phải nhận thức những điều căn bản này để thực tập trong cuộc sống hằng ngày. Một là thân hòa đồng trụ, tức là trong gia đình, hay trong đoàn thể, dù tổ chức lớn hay nhỏ, đều phải hòa hợp với nhau; nếu không hòa hợp sẽ trở thành chống phá nhau, không thể sinh hoạt tốt đẹp, cho đến tự tiêu diệt nhau.
Vì vậy, khi cùng sống chung, nguyên tắc hòa hợp luôn được đặt ra trước tiên. Trong gia đình, trong đoàn thể, ý thức hòa hợp rất quan trọng, nhưng muốn hòa hợp, mọi người phải tôn trọng những nguyên tắc kỷ cương có lợi ích chung. Đối với những nguyên tắc cần tuân thủ, chúng ta gọi là giới hòa đồng tu, nghĩa là lấy giới luật làm thước đo, nếu vi phạm, sẽ bị loại ra khỏi tổ chức. Ví dụ trong đạo tràng của khóa tu Một ngày an lạc có nguyên tắc phải đăng ký; vì không đăng ký, ra vô không theo giờ giấc quy định, đạo tràng sẽ mất trang nghiêm thanh tịnh và Ban Tổ chức cũng không thể sắp xếp việc ẩm thực, việc tu học cho quý vị. Biết số lượng Phật tử để lo khẩu phần cơm trưa, vì nếu đặt phần cơm rồi, mà quý vị không đến thì phần dư phải bỏ đi, là lãng phí có tội, mà đặt ít thì sẽ không đủ cơm ăn cho quý vị, điều mà không ai muốn. Có một số người không ý thức, không tôn trọng quy định này, gây trở ngại cho việc phân phát khẩu phần ăn.

BỘ SƯU TẬP CÂU ĐỐI CHỮ HÁN



Xin giới thiệu với các bạn Bộ sưu tập câu đối chữ Hán Việt được sưu tập bởi tác giả Nhược Thủy trên trang hoangthantai.com.
“Để giúp các bạn đôi khi có nhu cầu về câu đối chữ Hán, khỏi mất công nhờ người, tôi xin đưa lên đây khoảng 500 câu đối chữ Hán, phiên âm Hán Việt (dịch thoát ý). Đây là bộ sưu tập nhiều người làm, nhiều thế hệ viết, nhiều nội dung yêu cầu khác nhau, nhưng chưa sắp xếp theo chủ đề được (vì có câu nào nhập câu đó ). Các bạn chịu khó tìm hiểu và tùy nghi sử dụng”-Nhược Thủy
1.
花 朝 日 暖 青 鸞 舞
柳 絮 風 和 紫 燕 飛
Hoa triêu nhật noãn thanh loan vũ.
Liễu nhứ phong hòa tử yến phi.
Sớm hoa ngày ấm loan xanh múa.
Liễu bông gió thuận én biếc bay.

Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2010

Những quan niệm sai lầm về Phong Thuỷ

Thuật Phong Thuỷ với những lợi ích to lớn mà nó đem lại luôn đi kèm với những bí ẩn không dễ giải thích. Chính vì lẽ đó có nhiều những quan điểm, những “lời khuyên” được đưa ra nhưng độ tin cậy của những thông tin đó không phải lúc nào cũng được đảm bảo.
Và hệ quả là có những cách hiểu chưa chính xác về Phong thuỷ mà dưới đây là những sai lầm tiêu biểu nhất.
Cách hiểu sai: Hướng Đông Nam là hướng mang đến sự giàu sang phú quý cần phải được chăm chút.
Cách hiểu đúng: Bạn cần phải tìm ra hướng mang lại tiền tài và thành công thông qua việc tìm số tương sinh của mình.
Thực tế đối với những người có số tương sinh là 8 hay phụ nữ với số tương sinh của mình là 5 thì hướng Đông Nam chỉ mang lại điềm gở và rủi ro mà thôi. Một phép tính đơn giản nhất cho thấy cứ hai người thì có một người không phù hợp với hướng Đông Nam và để hạn chế điềm xấu thì việc treo chuông gió

Di chỉ Vườn Chuối lắm chuyện ly kì

Khoảng giữa tháng 12/2009, một đoàn khảo cổ của trường ĐH Khoa học xã hội & Nhân văn Hà Nội đã tiến hành khảo cứu, khai quật tại di chỉ gò Vườn Chuối thuộc làng Lai Xá (một làng cổ được hình thành từ thời khởi nghĩa Hai Bà Trưng, nay dân làng vẫn thờ An Sinh Vương Trần Liễu - thân phụ của Quốc công tiết chế Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn -  làm thành hoàng).
Phát hiện quý báu
Lai Xá hiện thuộc xã Kim Chung, huyện Hoài Đức (Hà Nội). Và thật bất ngờ, chỉ trong một di chỉ không rộng này, đoàn khảo cổ đã phát hiện ra hai tầng văn hoá, đó là tầng văn hoá Đồng Đậu và tầng văn hoá Đông Sơn.
Theo TS Lâm Thị Mỹ Dung, Chủ nhiệm bộ môn Khảo cổ học (ĐH Khoa học xã hội & Nhân văn Hà Nội), thì: Đây là một trong những phát hiện vô cùng quý báu đối với việc xác định các nền văn hoá. Ở tầng văn hoá Đồng Đậu, với các hiện vật có thể xác định rằng vào quãng 3.000 năm trước, đây chính là nơi cư trú của một bộ phận cư dân cổ. Những đồ trang sức bằng đá có hoa văn đẹp không kém gì so với đồ trang sức của văn hoá Phùng Nguyên. Đồ đồng tuỳ táng tuy thu được ít nhưng cũng có giá trị tương đương như đồ gốm… 
Di chỉ Vườn Chuối lắm chuyện ly kì
Một hố khai quật tại di chỉ Vườn Chuối
Thật vậy, hiếm có một di chỉ nào mà các hiện vật của tầng văn hoá lại được bảo quản nguyên vẹn như ở Vườn Chuối. Tại tầng văn hoá Đồng Đậu, hàng loạt hiện vật thu được như rìu đá, đồ trang sức đá, chày đá… còn nguyên. Thậm chí trên thân các nồi gốm vẫn còn nguyên các vết muội bám, trên dấu vết của bếp lửa vẫn còn nguyên cả thanh củi cháy dở và phần đã cháy thành than.

MẬT TÔNG CỬU TỰ THỦ ẤN TU LUYỆN


Bộ Thủ Ấn này chủ yếu do hệ phái Đông Mật sử dụng. Đại pháp tu trì này dùng 9 bộ cách tu trì để khai mở lực tiềm năng tập trung trong 9 nơi bí mật ẩn trong thân người. 9 bộ vị tiềm năng này gồm 7 luân xa và các ngón của 2 tay là 9. Pháp tu luyện Cửu Tự Thủ Ấn, nên lựa chỗ trống vắng.


Photobucket
Không quá tối quá sáng, không quá chật, quá rộng, trần nhà không quá cao quá thấp. Thời gian tu tập bất luận ngày đêm, nhưng vào sáng sớm thì không khí trong lành hơn. Trước khi tập cần phải rửa tay súc miệng sạch sẽ, sửa sang quần áo, dung nghi

Thắng duyên rước Phật

Theo lịch trình, Đoàn chư tăng, đạo hửu phật tử đi đón rước tượng Phật Ngọc cho tình thương nhân loại sẽ về đến chùa Quan Thế Âm Ngũ hành Sơn Đà Nẵng chiều 19/1.


Một trong những sự kiện  lớn của đạo hửu phật tử TP Đà Nẵng hướng tới Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội vừa diễn ra tại ngôi chùa cổ Đồi Thông, tỉnh ChiangRai (Thái Lan), ngày 15/01.
Đoàn hành hương của chư tăng giáo phẩm GHPGVN, Báo Giác Ngộ, Đài THVN- HVTV9, Báo Đất Việt và gần 50 đạo hửu Phật tử thuộc Chùa Quan Thế Âm – Ngũ hành sơn Đà Nẵng đã cùng Công ty  cổ phần Phát triển Thiên Việt phối kết hợp với chương trình “Tác Tăng” của Phật giáo Thái Lan hành trì chú tượng cho pho tượng Ngọc Quan Âm cho tình thương nhân loại. Phát nguyện của Thầy trù trì chùa Quan Thế Âm, Đại đức Thích Huệ Vinh, là mong muốn khối ngọc “Niềm kiêu hãnh của Bắc cực” - phần còn lại của khối ngọc tạc nên tượng Phật Hoà bình Thế giới - được xuất tượng Phật bà Quan Thế Âm Thiên thủ Thiên nhãn và An vị tại Chùa Quan Âm cho Phật tử gần xa chiêm bái.


Tại buổi lễ Gia trì, chú tượng một điều kỳ diệu đã đến với tượng Phật ngọc lần đầu tiên và Vua sãi của đất nước chùa vàng đã trực tiếp khai nhãn cho pho tượng. Ông Va Nit, Giám đốc xưởng điêu khắc Ngọc tại ChiangRai cho biết: “Qua nhiều đời làm nghề chế tác tượng, lần đầu tiên tôi mới chứng kiến Vua Sãi trực tiếp ấn chú Khai nhãn cho tượng Phật, thường thì Ngài ngồi từ xa tụng niệm gia trì. Đây quả thật là một cơ duyên lớn đối với pho tượng Phật Ngọc Quan Âm của Việt Nam”.


Đất Việt giới thiệu một số hình ảnh buổi lễ này:
                                                                

                            

TẬP TRUYỆN KINH DỊ : AI HÁT GIỮA RỪNG KHUYA VI

Tai Nạn và Gặp Gỡ

Ông Cai Móm kể tới đây thì dừng lại.
Chuyện mà ngày nay tôi thuật anh nghe môt. cách rành mạch văn hoa như thế, ông Cai đã kể vợ chồng tôi thưởng thức bằng một giọng oang oang cộc lốc, ông chỉ tả qua loa sắc đẹp của hai chị em nàng Oanh Cơ và lối đi hát ngày xưa thế nào.
Nay nhân đêm khuya cao hứng, tôi đem hết cả những sự từng kinh nghiệm nghe biết, thêm vào cho câu chuyện có ý vị hoa hòe, anh cũng nên lượng thứ cho tôi nhé!
Ông Cai Móm sở dĩ im bặt đi không nói nữa, vì xa xa, ông thoáng nghe có tiếng hổ gầm. Ông trầm ngâm lặng lẽ hồi lâu, chú ý lắng tai trong đêm vắng. Một lát, ông cúi sát lại gần tai tôi, nói nhỏ:
-  Thầy cô thử lắng nghe xem, có phải có tiếng hổ gầm chăng? Hổ gầm xong, lại vẳng nghe có tiếng đàn bà ca đứt quãng. Thầy cô cứ chú ý một lúc, sẽ nhận rõ ngay.
Tôi và  Lệ Thi hết sức chăm chú. Quả như lời ông Cai nói, chúng tôi nghe có tiếng “â â... ô ô u ô ô m m” vang động xa lắm ở trong rừng. Nhưng nghe chỉ có thế thôi, ngoài ra không còn tiếng gì nữa cả. Lắng tai mãi cũng thế, ngoài tiếng dế than trùng khóc, tiếng gió rít lá rơi, chẳng có tiếng hát xướng đàn ca gì cả.
Chán nản, tôi bảo ông Cai:
-  Chúng tôi nghe chả thấy gì, chỉ có tiếng hổ gầm ở tận đâu đâu... Lắng mãi chán tai vô ích. Thôi ông kể nốt câu chuyện Oanh Cơ đi, nghe đang thú vị ...
Lệ Thi cũng nói theo:
-  Rồi sao thế nào nữa hả ông Cai? Ông vừa nói có tấn bi kịch, bi kịch ấy làm sao, ông tiếp đi!

Thứ Bảy, 16 tháng 1, 2010

AM CU-LY XE

Mới nghe qua tên am, tôi đã tưởng họ nói đùa. Nhưng không, người kể cho tôi nghe nói với một giọng nghiêm chỉnh lắm.

Cái am ấy nhỏ, được xây bằng chất vôi, nằm trên bờ sông Bồ thuộc về làng Thanh Trúc. Trong am chỉ đặt một bát lư hương và cặp đòn con bằng gỗ tiện. Trước cửa am có che một bức sáo xanh kẻ chữ thọ màu hồng. Cách am năm bước có cái mồ đắp lên khá cao. Ngôi mả của người cu-ly xe.

Chuyện về cái am này ở hai vùng Thanh Lương và Hương Cần ai cũng biết. Hễ có dịp đi qua vùng này ghé vào quán gần bên am thì quý vị sẽ nghe bà quán kể lại. Bà quán kể riết rồi thành có duyên và có nhiều đoạn bà ta nói như đọc thuộc lòng.

Từ ga Văn Xá đến bến đò làng Thanh đi khoảng trên hai cây số. Bên kia sông là huyện Quảng Ðiền. Bến đò ấy nằm vào một chỗ hoang vắng vì bên cạnh con sông là cái cồn mồ. Ở đó qua huyện Quảng Ðiền gần hơn là quay trở về làng Thanh. Dẫn khách đến ga là nhờ con đường chạy dài trong thôn xóm, qua vài cái cầu ngắn xây bằng gạch và ba bốn khoảng phơi mình giữa đồng cỏ cháy. Con đường ấy được nhiều người đi nhất.

Bến Ga Xe Lửa Văn Xá làm lễ lạc khai mạc xong thì sau đó hai tuần một người mù đem chiếc xe tay đến đón khách. Ðó là một cái xe kéo trong thật là thê thảm với hai chiếc bánh xe độn bằng rơm và trần xe bị rách thủng nhiều chỗ.

Khổ hơn nữa là người kéo xe đã mù lại già, đầu tóc bạc phơ, người hơi gầy và trán hói. Ông ta biết được đường xá nhờ đứa cháu nội lên mười chạy dìu theo phía trước. Cứ ngày bốn buổi hai ông cháu lên ga Văn Xá đón khách về huyện Quảng Ðiền. Ðời tuy vất vả nhưng có kẻ thương tình đi xe ông kéo nên cũng đủ sống qua ngày. Lệ thường cứ mỗi chuyến xe được năm xu. Hai ông cháu ngày nào cũng kiếm được một vài hào đủ tiêu dùng và cơm cháo.

Từ ngày có xe lửa, dân mấy vùng quê, ai cũng thèm đi. Họ đi chỉ để mua vui mà thôi. Vì họ thấy chiếc xe sắt này kỳ lạ mà lại chạy nhanh nữa nên họ thích lắm. Họ thích nhất là đứng trên tàu gọi tên mấy người quen đang đi trên đường cái quan. Nhiều khi họ mua vé từ sân ga này đến sân ga kia rồi từ sân ga kia trở về sân ga làng. Thời đó họ còn chưa biết đến sự tiện lợi của sự đi xe. Họ chỉ biết cái thú lên xe lửa để ngắm cảnh và nhìn người qua lại. Nhờ vậy mà ga Văn Xá ngày nào cũng tấp nập người ra kẻ vào. Và hai ông cháu người kéo xe kiếm được miếng ăn rất dễ. Người đi xe lửa khi ra khỏi ga họ muốn lên xe kéo ngay. Họ đã quen với sự nhanh chóng vì đi bộ đối với họ lúc đó là một chuyện phiền phức. Nhưng được một người kéo xe mạnh khỏe thì nói làm gì, đằng này bước chân lên xe người già mù, thì người khổ chưa hẳn là người kéo mà thật ra là người được ngồi. Huống chi đây lại phải chịu cái tội trông một đứa trẻ chạy không kịp thở, ngã tới vờn lui, theo bước chân của một ông già yếu đuối. Nên nhiều người thương hại không muốn đi xe ông kéo.

Nhưng lòng nhân ái càng ban truyền ra thì người mù kéo xe lại càng thêm túng thiếu. Rồi sau này chỉ còn những người ốm hay già yếu, và thỉnh thoảng vài người say rượu, mới bước lên xe ông. Có người thương hại nên chỉ gởi vài bao hành lý để ông kéo rồi trả cho ông vài xu. Nhưng hạng người này hiếm lắm, đợi năm sáu chuyến tàu mới gặp được một người.

Khi màn đêm buông xuống hai ông cháu thường về ngủ trong một cái mui thuyền đặt bên cạnh bờ sông. Sáng sớm ba giờ đã phải dậy, vì phải đợi khách bên huyện Quảng qua sông đi chuyến tàu bốn giờ. Tiền bạc thu được đều do người cháu giữ, và ông cũng ít khi nào hỏi đến, trừ những lúc ông muốn mua một vài cút rượu trắng hay khi nhớ đến những ngày giỗ của gia hương. Ngoài ra, người cháu tuy trẻ tuổi nhưng rất khôn lanh, đã lo liệu đủ điều từ miếng ăn đến cái mặc.

Mùa đông năm Ngọ lạnh và mưa luôn ngày luôn đêm. Con đường từ ga về bến đò đã nhiều nơi bị hê hũng, và nhiều cái cống đất nhỏ bị nước cuốn trôi đi. Hai ông cháu phải bỏ công sức ra làm lại, có thế xe mới đi qua được. Con đường tuy là của chung nhưng chỉ riêng hai ông cháu để ý và lo lắng hơn cả. Xe dạo ấy ế ẩm vô cùng, vã lại gặp cái xe trần thủng, nước tát vào như giội, khách cũng tháy chán không buồn đi. Ðêm nào lên ga đợi chuyến tàu suốt chín giờ, hai ông cháu cũng dẫn xe về không.

Chất chồng vào cái hại kể trên, chuyến đò làng Thanh không qua lại nữa, vì hai làng Thanh Lương và Thanh Trúc đang kiện nhau để được độc quyền về nghề chở khách. Dân quanh vùng phải đi ngược lên khá xa mới qua bến đò làng Triệu. Phía ấy cũng cũng có đường đi lên ga nhưng hẹp lắm. Hai ông cháu đành đưa người đi lại quanh vùng Thanh Trúc và chờ nhà nước xử xong, để chở thêm khách bên huyện Quảng Ðiền.

Một đêm trung tuần tháng chạp, chuyến xe lửa chạy liên tục lại trễ mất ba giờ. Lúc ấy vào giữa đêm, nghe tàu đến hai ông cháu đã mừng thầm trong bụng. Một lát sau, con tàu đã bắt đầu sục sịch chạy, ông kéo xe vẫn chưa nghe thấy có tiếng bước chân nào ra khỏi ga. Ông lên tiếng gọi thằng cháu nhưng thằng bé đã lẫn đi ngã nào. Ông nghĩ rằng có lẽ nó đang đứng đón khách ở bên trong sân ga nên định bụng chờ. Mấy phút sau đứa bé trở về, ông già mù thấy hình như có một người bước lên xe. Ðứa bé nói với một giọng run run:

- Ông ơi có người lên rồi đó. Chạy đi.

Thế rồi hai ông cháu dìu nhau chạy về phía sông Bồ qua những quãng đường lầy lội và dưới dòng mưa đêm lạnh ngắt. Trong những cánh đồng ngập nước, tiếng ễnh ương đua nhau kêu não nùng như một bản nhạc mùa đông, nghe buồn thắm tới tận xương tủy. Hai ông cháu, dưới mấy cái mo cau và tàu lá chuối kết lại thay áo mưa, cắm đầu chạy trên quãng đường ướt át.

Trời thì tối đen như mực, nhưng may đứa cháu quen đường nên không bị lạc và vấp ngã. Hai ông cháu đến bến đò làng Thanh vào khoảng một giờ khuya. Gió ngoài sông thổi vào lạnh như cắt thịt. Ðứa cháu cầm tay định dắt ông vào mui thuyền, nơi ngủ của hai ông cháu, thì dường như nghi hoặc điều gì nên người mù kéo xe cất tiếng hỏi:

- Tiền xe mô đưa cho ông.

Ðây là câu hỏi bất ngờ, vì mấy lần trước có bao giờ ông hỏi đến tiền bạc đâu, nếu có hỏi thì hỏi chỉ để biết bao nhiêu, chứ chưa lúc nào ông lấy tiền giữ. Ðến lúc đó đứa cháu run lẩy bẩy, lúng túng, ngập ngừng rồi bỗng ôm mặt khóc. Chỉ nghĩ thoáng qua người mù kéo xe đã hiểu ra lẽ thật. Vì không có khách, vì muốn ông nó vui lòng nên thằng bé đã bê một tảng đá nặng đặt lên nệm xe và dìu ông nó chạy.

Trí non nớt của nó có ngờ đâu mấy năm lao công khổ nhọc trong nghề, ông nó đã phân biệt rất tinh tường người ngồi hay là vật nặng khác nhau nhiều lắm. Nhưng ông nó vẫn chạy, vì mù quáng, vì đói rách nên lòng vẫn hy vọng những chuyện không bao giờ có được. Và nếu biết được thì càng thêm khổ. Thấy cháu khóc ông ta cũng nức nở khóc theo.

Rồi giữa đêm lạnh phần già yếu, phần buồn đau, phần đói rét, ông gục xuống dần rồi lăn ra chết ngất. Ðứa bé sợ xanh mặt la hét lên nghe như đứt ruột bầm gan nhưng sấm sét của trời mạnh hơn và tiếng của nó đành chịu rã rời bay lạc giữa đêm mưa tầm tã.. Bên kia sông, huyện Quảng Ðiền xa xôi quá, vài ngọn đèn dầu chập chờn trong xóm quê đen tối. Con đò đã cắt đường qua lại từ lâu, không đem được lòng từ thiện của bến bên kia qua bao trùm nỗi thảm thương của bờ nọ.

Sáng hôm sau đi chợ Thanh Lương, khách qua đường thấy trên bờ sông vắng, một đứa trẻ đang ngồi khóc thảm thiết bên cạnh một người già nua đã chết cứng đờ.

Dân quanh xóm thương tình, người ít kẻ nhiều góp lại mua một cái hòm mới và chôn cất người kéo xe già tử tế...

Về sau cứ mỗi đêm, vào khoảng mười một giờ khuya , sau chuyến tàu đi ra Bắc một giờ, những người ở quanh vùng đó đều thấy một cái bóng xe kéo loang loáng chạy về phía làng Thanh Trúc. Những người làm giữa ruộng lúc vào đêm trăng sáng, các em mục đồng và cả sư cụ chùa Linh Hải đều thấy hình bóng một người kéo xe chạy lầm lũi trong màn đêm. Có một đêm khuya mưa lạnh, sư ông ở làng Thanh Trúc còn nghe được cả tiếng xe kéo và bước chân người chạy đều đều ở trước cổng đình làng nữa...

Mọi người quanh vùng bàn tán xôn xao về bóng ma kéo xe vào ban đêm. Cùng lúc ấy, không biết có phải nhờ hồn thiêng của ông mù kéo xe phù hộ mà làng Thanh Trúc được thắng kiện nên thuyền bè được đưa khách qua lại như cũ. Cũng nhân dịp này dân làng liền quyên tiền xây một cái am để tưởng nhớ và thờ cúng ông mù kéo xe. Và người ta đã gọi cái am này là AM CU-LY XE.
 
(Thanh Tịnh)

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2010

TẬP TRUYỆN KINH DỊ : AI HÁT GIỮA RỪNG KHUYA V

Oanh Cơ

Ngày xưa khi nước Ðại Pháp vừa mới dựng nền Bảo Hộ, thì dân ta sống theo các tục lệ cổ hủ; đường sá thành thị thuở ấy chưa được mở mang rộng rãi; trong nước còn đang thời loạn lạc, cướp bóc tứ tung, các tay anh hùng lục lâm hoành hành khắp chốn mà nền trị an thì chưa lấy gì được vững vàng.
Ở các chốn đô thành, dân cư có lẽ được yên ổn đôi chút. Các quan cai trị một mặt thì hết lòng truy nã những đảng phản kháng, một mặt thì ra công mở mang khai khẩn các miền bình địa, đặt ra luật lệ mới và xây đắp các trường học để đưa dần trí thức con em trong nước, với nền văn học Âu Tây. Lúc ấy mới là cuộc sơ khai, làm gì đã có đường sá quang đãng, làm gì đã có hỏa xa và đèn điện? Ông bà chúng ta vẫn sống bần tiện trong những căn nhà tranh hoặc ngói lụp sụp, tối tăm ẩm thấp, sự sinh hoạt của các cụ mãi về sau này mới tăng bề sạch sẽ và sung sướng chút ít. Nói ra dài dòng lắm, tôi chỉ kể qua thầy cô được rõ rằng cách ăn ở lúc ấy thì rất lùi xùi khốn cực, về phương diện vật chất văn học và luân lý, thì lại là một câu chuyện khác.
Bởi chưa có nhiều đường sá, sự đi lại và sự vận tải là một điều khó khăn hiểm trở vô cùng. Ngoài Bắc Kỳ, đi đứng còn được dễ chịu đôi chút, bởi lẽ, từ trấn nọ qua trấn kia - trừ các châu ở vùng Thượng Du - không có núi rừng ngăn cản. Vả chăng đồng bằng rộng rãi, phẳng phiu, các gian phi trộm cướp hết nghề tìm sào huyệt làm nơi căn cứ để trú ẩn lâu bền. Còn như ở đất Trung Kỳ, Thanh Nghệ này, ôi thôi! Trộm cướp không biết bao nhiêu mà kể! Vì rằng xứ Trung Kỳ eo hẹp, mé Ðông tuy giáp bể song mé Tây lại tiếp ngay với núi rừng, hóa nên quân gian tìm ra nhiều chỗ đất có thể làm tổ quỉ lắm. Ðường sá lại gập ghềnh nguy hiểm, khi lên thác khi xuống đèo, khi qua rừng, khi ven núi, thực là khi khu, khó nhọc. Từ Thanh Hóa, theo đường thiên lý ra xứ Bắc, tất phải trèo đèo Tam Ðiệp, mà đèo Tam Ðiệp nó có phải đất xa lạ gì, chính là về hạt Ðồng Giao ta đó! Thuở trước chỗ này rừng núi rậm rạp gấp mười ngày nay, chỉ dùng để làm trường hỗn chiến cho mấy toán quan mai phục bắn nhau, giết nhau để chiếm quyền lợi hoặc cho Chúa Nguyễn trong Nam, hoặc cho Chúa Trịnh ngoài Bắc. Chỗ này lại còn là nơi thắng địa cho các loài mãnh thú, cho các khách lục lâm; hổ cứ ở đó hàng đàng, kẻ cướp nấp ở đó hàng toán, thực là một chốn nguy hiểm đến tột bực, đi qua đấy không chết vì đạo quân đạo tặc, thì lại bỏ xác dưới các móng vuốt hùm thiêng.
Thế mà ngày nay vẫn thường có kẻ can tràng len lỏi đi qua, đánh bạo với sự chết, không hề sợ hãi. Chả lã vì đường sá đầy tai nạn mà đành bó tay ngồi ở xó nhà, không dám vượt rừng núi từ Nam ra Bắc, để cho con đèo Tam Ðiệp, lâu dần, phải hóa ra một nơi hoang vắng, không hề có dấu chân người? Khó nhọc đến đâu thì khó nhọc, nguy hiểm đến đâu thì nguy hiểm. Lúc có việc quan trọng cần kíp, lúc phải quay cuồng xoay xở để mưu thực, nào ai còn suy nghĩ nữa, còn dùng dằng lo sợ chi nữa, còn ngại ngùng chẳng dám băng mình xông pha cửa ải ngọn đèo? Những lúc cần sống cần hăng hái để sống, một người con gái cũng còn đủ can đảm vượt nghềnh xuống thác, huống hồ là lũ nam nhi!
Mà cũng bởi có hai kẻ “liễu yếu đào tơ” dám len lỏi vào chốn ma thiêng nước độc, hổ dữ dội, cướp hung tàn này, nên mới có câu chuyện ngày hôm nay, một chuyện rùng rợn ghê người, nghe phải lạnh mình sởn gáy.
Số là, một buổi về mùa xuân, cách đây chừng sáu mươi năm về trước, quan nguyên Tri phủ Nho Quan, sau khi làm Sơn Hưng Tuyên tổng đốc, được ba năm thì cáo bệnh về dưỡng lão ở hạt đó, nhân được chiếu chỉ nhà vua phong cho làm Ðông Cái đại học sĩ, lại vừa đẻ được một công tử đầu lòng, thiết một lễ ăn mừng rất long trọng trong năm ngày; có tiệc, có đàn, có cô đầu mời rượu, bắt bài bông, nhảy múa và hát ca, lại có cả phường tuồng và phường chèo thiện nghệ lần lượt diễn các tiết mục hay nhất ròng rã suốt năm đêm ngày. Bởi thế, các giáo phường ở mọi vùng lân cận phủ Nho, đều rủ nhau tới phủ đường xin hát.
Tiếng đồn dinh quan Thượng Nho Quan (đó là tên mà dân gian đặt ra để gọi cụ Ðông Các) có đãi tiệc chạy mãi vào Thanh Hóa; các thiếp mời gửi từ hai ba tháng trước, tất cả các quan xứ Bắc và các quan phủ huyện ở lân cận tỉnh Ninh Bình mỗi người đều nhận được một tờ hoa tiên màu hồng chói lọi, trên có mấy hàng chữ Lan Ðình đen lay láy, rất mỹ lệ sắc sảo viết bằng một thứ mực hảo hạng, thơm ngát, hình như có lẫn mùi xạ, mùi trầm. Thiếp đó gửi cho quan phủ Quảng Hóa, Hà Trung, Thọ Xuân, Hoằng Hóa, và cho các quan huyện Tống Sơn, Nga Sơn, Mỹ Hóa, Quảng Tế, Thụy Nguyên, Lôi Dương, Yên Ðịnh v.v...
Quan Thượng Nho Quan là một tay cự phách trong làng nghiên bút, bốn đời ông cha ngài đều được phong tước, đến đời ngài thì đỗ Cử Nhân đệ tam danh trường Nam Ðịnh rồi đỗ tiến sĩ đệ bát danh. Trong hoạn trường, ngài quen thuộc rất nhiều, đối đãi với ai cũng thuần hậu, có tình, nên các bạn đồng liêu đều một lòng kính nể quý mến ngài, coi ngài vào hàng thầy chớ không phải vào hàng bạn. Như thế cũng không lấy gì làm quá đáng: trong đám quan lại thời ấy, một phần đông đã thụ giáo của ngài.
Cũng bởi vậy nên khi được tin báo ngài ngoại ngũ tuần mới sinh công tử đầu lòng, lại được thăng hàm Ðông Các, các thượng quan và các quan phủ huyện khắp xứ Bắc cùng trong hai chấn Thanh - Nghệ gửi đưa đồ lễ đến mừng nhan nhản: từng lớp lính cơ nón sơn, áo nâu nẹp đỏ, khố lục, sà cạp điều, khiêng lễ mễ những cái nịp nặng trĩu trên có phủ nhiễu hồng; lại có đứa đội trên đầu những cái hòm bọc da đen niêm phong cẩn thận, trông chả khác gì một đoàn gia đình nhà trai đem các đồ nạp thái đến nhà gái. Họ đi từng cánh một, đông lắm, cùng chỉ hướng Bắc tiến hành cứ theo dọc con đường thiên lý mà ra khỏi cương giới xứ Trung Kỳ, rồi còn đi, đi nữa.
Nhập với bọn họ, có một ích lợi rất lớn, là đi đường xa khỏi bị những tai nạn cướp bóc - vì họ là lính quan - lại tránh cả được sự bị hổ ăn thịt - vì đông người thì hổ không dám hành hung. Hỏi ra mới rõ bọn họ cùng ra cả Nho Quan, dâng lễ mừng quan Ðông Các. Một người đồn mười, mười người đồn trăm, trăm người lại đồn nghìn, bởi thế mà xa gần khắp xứ Bắc và phía bắc xứ Trung Kỳ, chẳng ai không biết nhà quan Thượng Nho Quan có đại tiệc ăn khao mời khắp mặt quan viên hàng xứ.
Các giáo phường nghe đồn đại đều rủ nhau đi Nho Quan một chuyến, may ra kiếm được ít nhiều, càng hát hay càng hậu thưởng, gặp dịp sẽ có cơ hội phát tài to, đủ sống trong nửa năm không phải vất vả. Các phường đều hội nhau lại, đi nhập bọn với tốp lính quan khiêng lễ vật đông như người trẩy lễ hội đền. Trong hạt Bàn Thạch phủ thọ Xuân tức là nguyên quán của giáo phường, thuở ấy có hai cô đào chính tông hát hay có tiếng, đã được giải đình đám đến mười lần. Hai chị em nhà đó sản nghiệp chẳng có gì, lại mồ côi cha mẹ từ thuở còn ấu trĩ, phải sống nương nhờ vào người anh cả, mà người anh lại góa vợ, cũng nghèo. Anh thì làm kép, gẩy đờn khuôn cho các em theo nhịp, gõ phách, gõ sênh họa theo mà hát, kiếm ăn kể cũng không lấy gì làm sung túc nếu hai đứa em không có chút nhan sắc hơn người.
Cha mẹ ba anh em nhà ấy thuở xưa đều là những tay lỗi lạc, mẹ là một nàng danh kỹ, một đời nổi danh tài tử, cha xuất thân là công tử con nhà thế phiệt, thi ba khoa đều nhượng bản Tôn Sơn, nên ngán nỗi khoa trường lận đận, bực mình bỏ nhà đi ngao du sơn thủy, mà hát hay đến quên cả giai cấp, lấy ca nhi làm vợ, rồi đổi nghề nghiên bút ra nghề đàn dịch, tự làm một tên kép cho vợ hát, sống một cuộc đời túng quẫn nhưng thanh nhàn...
Cuộc sinh hoạt lãng mạn của người cha đã để di tích trên thế gian trong ba đứa con thơ cùng lãng mạn, tài hoa vì truyền thống. Người anh cả, Văn Quản, từ thuở còn nhỏ, đã thích thổi ống tiên, ống địch, khi lớn lên thì chiếm giải quán quân trong nghệ thuật bốn cung đàn đáy, cả vùng chẳng có ai đàn lịch sự và thánh thót não ruột hơn chàng. Quản lấy một người vợ ả đào gần nhà, nhưng người vợ ấy, sau ba năm chăn gối, bỗng thụ bệnh mà thác, không để lại đứa con nào. Quản đành ôm hận sống cô độc giữa hai người em gái; đời tuy có bạn mà cũng vẫn quạnh hiu tẻ lạnh, khiến điệu đàn, những đêm mưa tuôn gió lớn, càng bổng trầm chua xót thế nào!...
Hai người em gái, trái lại, tính khí bao giờ cũng thản nhiên vui vẻ, bởi họ chưa từng bị nỗi thất tình thấm thía như ông anh. Nàng thứ nhất Huyền Cơ, thanh rất trong, âm rất tinh nhưng hơi kém bề diễm lệ; nàng cũng đẹp, song chỉ đẹp một cách dễ coi, xinh xắn - người nhỏ nhắn mà da ngăm ngăm - không lấy gì làm khuynh quốc khuynh thành.
Nàng thứ hai, Oanh Cơ thì là công trình tuyệt mỹ tuyệt xảo của Hóa Công, gồm cả thanh âm lẫn nhan sắc. Ðó là một người đà bà độc nhất vô nhị trong một thời, mà cứ trong khoảng năm sáu trăm năm, mới được gặp một lần trên cõi phàm tục. Con người ấy chả kém gì Tây Thi, Muội Hỉ, Ðắc Kỷ, quý Phi, nàng đẹp, một vẻ đẹp oái ăm, huyền bí, oanh liệt, lại dịu dàng, tựa hồ đấng thiêng liêng đem hết cả bao nhiêu tinh túy của non sông cây cỏ mà chung đúc vào nhan sắc ấy. Tóc nàng là một đám mây thu chan chứa những vẻ êm đềm mơ mộng; mỗi lần làn tóc ấy xõa tung chấm gót, thì rõ ràng là một dải hắc tuyền cuồn cuộn, óng ả, nhẹ nhàng; nét bút họa công khi vẽ đến phải cả quyết, lại ngập ngừng, làm thế nào cho suối tóc nõn nà đen mượt kia cũng phảng phất giống một đám lục vân nặng trĩu những niềm u uẩn, mà phủ lên một hình hài tiên nữ, muôn phần yểu điệu, thanh kỳ...
Nói đến khổ người của mỹ nhân. Tả làm sao cho hết mọi vẻ siêu phàm, xuất chúng? Nội trong các bậc giai nhân trong lịch sử, mỗi người đẹp một vẻ riêng, như Thúy Kiều khác với Thúy Vân, Tây Thi khác Trịnh Ðán, dẫu cùng “mười phân vẹn mười” cả. So sánh nà Oanh Cơ với các giai nhân đó, cũng chưa biết nàng kém xa họ, hay họ phải lu mờ trước vẻ mỹ lệ của nàng. Chỉ biết nàng không béo mập tựa Dương Quý Phi, cũng không ẻo lả, mai cốt cách, liễu dung hình như mấy ả tiểu thư bị nhốt trong cung cấm. Oanh Cơ là một người tầm thước, hơi mảnh khảnh dong dỏng cao, lưng ong, ngực nở, thực là “trúc mọc sân đình”. Ông Tạo Hóa đã muốn cho ai đẹp, thì cái đẹp đó gồm đủ muôn vẻ mỹ miều, từ tiếng nói nụ cười cho đến nét đi điệu đứng, không cái gì là không ngộ không tươi. Oanh Cơ là một thiếu nữ có hạnh phúc được Hóa Công ban cho muôn vẻ mỹ miều ấy. Thoạt đến tuổi 15, 16, ai trông thấy nàng cũng phải tấm tắc khen ngợi.
Các con gái thời cổ nhất là con gái thôn quê, yếm sẻ, váy hàm ếch, dây lưng sồi, áo vá vai, khăn mỏ quạ, thì mấy chị trông “sạch nước cản”; mà dù có sạch nước cản, thì nào đâu đã có các màu mè bề ngoài để tăng nhan sắc của mình? Phàm giả đã mặc váy, mặc yếm, quần áo lòa xòa, khăn khố sùm sụp, thì bao nhiêu nét yểu điệu, bao nhiêu đường óng ả, mà trời đã phó cho để gợi tình cảm của bọn đàn ông, chúng nó đều bị giấu kính cả đi, đè nén không cho lộ ra được thế thì lấy gì mà tô điểm trau chuốt cho nhan sắc, một mai, khuynh quốc với khuynh thành? Theo cổ tục, con gái không được để ngực phồng lên mà mang tiếng, phải buộc giải yếm cho chặt, mặc yếm cho sát, làm thế nào cho ngực bằng phẳng, lép kẹp đi thì thôi. Bị tục lệ hủ lậu ấy bó buộc, có được phô trương vẻ lộng lẫy thiên nhiên củ tấm ngực mình đâu mà chăm chút cho nó đẹp?...
Nàng Oanh Cơ là một thiếu nữ đã chịu ẩn mình sau thứ quần áo thô lỗ ấy, vậy cho nên nhan sắc nàng mới gìn giữ được lâu bền. Nếu không, ắt hẳn từ lâu kia, nàng không còn tuyết trong giá sạch nữa! Nàng càng khó lòng giữ gìn trinh bạch, vì nàng là một cô đầu! Cái bộ y phục cổ hủ của nước Nam ta thuở xưa, tuy nó có nhiều điều bất tiện và thiếu mỹ thuật, song nó cũng có chỗ ích lợi. Nhất là Oanh Cơ!
Vẻ đẹp tuyệt diệu của nàng, mãi sau này mới có người nhận biết; còn khi nàng chưa xuất giá, chỉ một mình nàng, Huyền Cơ được rõ mà thô! Huyền Cơ đã say mê sắc đẹp của Oanh, tự ví mình như một nô tỳ mà coi em như một nữ chúa đáng thờ đáng kính...
Không tài nào tạc đúng pho tượng tuyệt mỹ của nàng Oanh Cơ được, người ta chỉ nên dùng sự tưởng tượng vẽ trong không gian và thời gian một thân hình Vệ Nữ Á Ðông, một thứ vệ nữ nhỏ nhắn, xinh xinh, mềm mại dịu dàng, mà cũng nghiêm trang, oanh liệt.
Nhỏ nhắn mềm mại, đó là mấy đức tính của khổ người Oanh Cơ, còn như vẻ lẫm liệt oai nghiêm, chỉ có riêng ở nét mặt giai nhân, nhất là trong đôi mắt. Ðôi mắt ấy trong veo như nước hồ thu những hôm trời quang đãng; đôi đồng tử đen như mảnh huyền không vết, lại sáng ngời như chứa điện ở trong. Con mắt là dăm dài dài như mắt bồ câu; có lúc là đà ngây ngất như mắt chim thư gọi chim hùng, có lúc đăm đăm mơ mộng như hướng về cõi xa xăm, lại có lúc trông sâu sắc bí mật như đượm vẻ lạnh lùng dữ dội. Cũng vì đôi mắt giai nhân, mà nó hiện ra muôn vẻ diễm lệ dịu dàng.
Tất cả tinh thần và nguyện vọng u uẩn của một người đàn bà, chúng nó như nấp ở cả sau con mắt, có lắm khi hiện ra rõ rệt, trông mắt là đoán được người. Dù đẹp tinh thần hay đẹp vật chất, cái đẹp ấy cũng chỉ ở đôi mắt; sở dĩ so sánh các giai nhân, cũng toàn là cân nhắc giá trị của đôi mắt đó mà thôi!
Ðôi mắt sắc sảo, tuyệt mỹ của Oanh Cơ, đã đẹp mà lại còn được cái miệng tươi đỏ của nàng phụ thêm để tăng dung nhan nàng lên mãi mãi. Cái miệng đó có đôi môi son thắm hơi cong lên như một vành cung. Bao giờ nó cũng tươi, cũng đẹp, cũng như đóa hoa hồng hàm tiếu.
Oanh Cơ không những chỉ có sắc đẹp, mà nàng lại có thanh nữa. Nàng hát rất hay, giọng trong trẻo, đầm ấm, khi não ruột lúc lâm ly, dịp khoan dịp nhặt, điệu bổng điệu trầm, thánh thót véo von; giọng nàng thật là một cây đàn muôn điệu mà nàng tựa hồ như làm bá chủ tất cả các âm thanh, muốn sai khiến chúng thế nào cũng được.
Những hôm ngoài trời mưa phùn rả rít, gió bấc vi vu, những hôm mà lòng người tự nhiên cũng thấy bị đè nén nặng nề bực bội, những hôm đó mà được ngồi trong căn nhà cỏ, trước ngọn đèn dầu, cầm chiếc dùi nguyệt quế để gõ vào tiểu cổ, thưởng thức vài khổ hát của nàng Oanh Cơ, thì các thú tao nhã đậm đà của sự thẩm âm rũ sạch lòng mình hết những nổi ưu phiền ô trọc, đưa tâm hồn mình lâng lâng lên cõi thơm tho sáng lạng, tưởng có phải chết sau phút thanh kỳ đó, thực không ân hận tí gì!
Thực vậy, ai đã được hạnh phúc nghe Oanh Cơ và Huyền Cơ hát, nhất là nghe Oanh Cơ thì không bao giờ có thể quên được giọng thanh tao thánh thót ấy. Cái giọng nỉ non âm ỉ, lúc chứa chan tình cảm, lúc man mác buồn... giọng hát ấy trong hơn tiếng trúc, đầm hơn tiếng tơ tinh... Oanh Cơ là một con chim tuyệt quý mà tiếng hót vô song đã làm rực rỡ cả một thời dĩ vãng không tên; nàng là một ca nhi sống trong bóng tối, nhưng tài sắc nàng đã trùm đời, đã khiến đấng Hóa Công tạo ra nàng lại phải ghen với nàng, mà gây ra nỗi thảm họa sau này, tấn bi kịch xảy ra giữa chốn rừng thẳm núi thiêng. Giữa hạt Ðồng Giao độc địa, mà hiện chúng ta đang ở.
Oanh Cơ là kẻ sống sót sau tấn bi kịch ấy. Nàng là một cái mồi ngon mà loài mãnh thú rất thèm thuồng ham muống, chỉ lăm le rình để bắt tha đi. Người đáng quan tâm chú ý nhất trong chuyện này, chính là nàng.
(còn nữa)

Thứ Năm, 14 tháng 1, 2010

Xem võ tăng "nhí" diễn Đồng tử công

La Hán đi ngủ, Đồng tử bái Quan Âm, Đồng tử bái Phật, Triều thiên đăng, Trung để tàng hoa, Yên thức bình hành là những chiêu thức tiêu biểu của Thiếu Lâm đồng tử công với sự kết hợp của cả nội công, ngoại công và nhu công.
Đúng như tên gọi, Đồng tử công là bài võ cổ truyền Thiếu Lâm tự vô cùng độc đáo và đặc biệt, nó đặc biệt bởi được sáng tạo ra cho trẻ nhỏ.
 
La Hán đi ngủ.
La Hán đi ngủ.
Người muốn học Đồng tử công bắt buộc phải bắt đầu luyện tập từ khi còn nhỏ, và tuy là võ “trẻ con” đấy, nhưng lợi hại như chiêu Tích lịch hoàn phong thoái, một chiêu thức tấn công dùng chân xoáy như bão tố, mạnh như sét giáng cũng phải bó tay quy hàng trước Đồng tử công.

Bài ký một giấc mộng

Nhân Tông gặp loạn Nghi Dân. Ta mới lên ngôi, nghĩ đến việc trước mà luôn luôn phải phòng ngừa. Thường dàn sáu quân thân hành đi kiểm soát. Một hôm gặp mưa to, đóng lại trên bờ hồ Trúc Bạch ở mỏ phượng. Trong cơn mưa u ám, phảng phất có tiếng khóc than thảm thiết. Khi ta truyền mọi người lắng nghe thì không thấy gì, nhưng đến khi gió lớn mưa to thì lại nghe thấy tiếng như trước. Ta ngờ vực, rót chén rượu, hắt ra phía có tiếng khóc, khấn thầm rằng:
-        Trẫm trên nhờ oai linh của tổ tông, dưới dựa vào bầy tôi giúp sức, sinh, sát, thưởng, phạt đều nắm trong tay. Ai uất ức, đau khổ, ta có thể giải đi được. Ai có công đức ngầm kín, ta có thể nêu lên được. Khấn với các thần ở địa pphương, nếu có u hồn nào còn uất ức thì bảo chúng cứ thực tâu bày. Cớ sao gió mưa thì nghe thấy tiếng, lờ mờ không rõ, như khóc như than, nửa ẩn, nửa hiện, trong tình u oán có ý thẹn thùng, làm cho ta sinh lòng nghi hoặc, muốn nêu lên không rõ công đâu mà nêu, muốn giải cho không biết oan đâu mà giải. Trẫm không nói lại lần nữa, bảo cho các thần biết.

Thứ Tư, 13 tháng 1, 2010

Bản đồ cổ 400 tuổi miêu tả thế giới

Bản đồ cổ về thế giới được một thày tu Italy vẽ tại Trung Quốc vào thế kỷ 17 vừa công bố ở Mỹ. Ngay lập tức, bản sao của nó được bán với giá 1 triệu USD.


Tấm bản đồ được nhà truyền giáo dòng Tên người Italy Matteo Ricci vẽ vào năm 1602. Ông là người đầu tiên đến Trung Quốc để chỉ ra châu Mỹ, và xác định Florida là “vùng đất của các loài hoa”.


Bản đồ cổ 400 tuổi miêu tả thế giới
Tấm bản đồ từ thế kỷ 17 đang được trưng bày tại Washington cho thấy Trung Quốc nằm ở vị trí trung tâm

Cuốn tài liệu có kích thước 3.66m x 1.52m được in trên 6 cuộn giấy gạo đang được trưng bày ở Thư viện Quốc Hội Mỹ. Đây là một trong hai bản sao chép đang tồn tại trong tình trạng tốt.

Lời nguyền chết chóc của viên kim cương xanh huyền bí

Người chủ sở hữu đầu tiên của nó đã bị bầy chó hoang xé xác, trong khi số phận của vua Louis XVI và hoàng hậu Marie Antoinette cũng không hơn khi tham vọng chiếm giữ viên kim cương này.

Kim cương được biết đến với vẻ đẹp lộng lẫy và phi thường của nó. Viên kim cương nổi tiếng nhất thế giới với màu xanh huyền bí nặng 45,52 carat là the Hope. Nhưng điều nổi bật hơn tất cả những viên kim cương khác là bởi lời nguyền gắn liền với nó. Hiện đang được trưng bày tại bảo tàng Lịch sử tự nhiên Smithsonian tại Whasington, DC, viên kim cương The Hope nguyên thủy được tìm thấy tại mỏ kim cương Kollur tại Golconda và thuộc về bức tượng thần Sita tại Ấn độ. Từ khi bị đánh cắp tại một ngôi đền ở Ấn Độ, nó đã trôi dạt qua rất nhiều nơi và bắt đầu lời nguyền của mình.




Điều đặc biệt của lời nguyền này là nó mang đến cái chết hoặc sự bất hạnh đến cho người chủ sở hữu nó, bắt đầu từ nhà vận chuyển kim cương người Pháp Jean Baptiste Tavernier năm 1642. Ngay sau khi bán nó cho vua Louis XIV, Tavernier đã gặp thảm kịch khi tới Ấn Độ, khi ông bị một bầy chó hoang xé xác. Viên kim cương được nhận danh hiệu “Kim cương xanh của nhà vua” (Blue Diamond of the Crown) và bị cắt thành hình trái tim.

Các lọai Ngải Nàng: Nàng Mén, Nàng Sắc và Nàng Nghệ(III)

* Nàng Mén
Tên gọi khác là Nàng Mén hay chúa Mén.
Loại ngải này dáng như ngải hổ nhưng nhỏ và thanh mảnh hơn. Không biết ở các vùng miền Đông Nam bộ và cao nguyên Bắc bộ có hay không, riêng ở miền Nam ngải Mén thường mọc phổ biến trên đỉnh núi Cấm – An Giang.





Ngải Mén rất kén thầy, phải là người có duyên mới bắt gặp được. Năm ngoái đi về núi Cấm cùng Minh Tịnh, đến Điện Kín làm lễ xong, chúng tôi ngồi mấy người bên gộp đá. vậy mà chỉ có ông huynh tôi bắt gặp cây này trong khi cả đám không ai nhìn thấy.

2.000 pho tượng cổ ngàn năm kỳ lạ ở Bắc Ninh

- “Mỗi pho tượng là một kiệt tác nghệ thuật của người Việt cổ, kích thước, chiều cao, hình dáng không cái nào giống cái nào. Tất cả các  pho tượng đều ở trần và lộ hết “của quý” không chút ngại ngùng với mọi tư thế độc đáo”.

Đó là lời ông Nguyễn Khắc Bảo, thường được gọi là ông Lang Chọi ở TP Bắc Ninh, nói về những pho tượng kỳ bí mà mình đang giữ.
5 đời bốc thuốc
Duyên chơi tượng đất cổ đến với ông Bảo cũng từ nghề y gia truyền 5 đời của gia đình mà ra. Năm 1989 các cụ thân sinh qua đời, để lại cho ông một gia tài ngổn ngang những bài thuốc, mong ông thừa kế cho chu đáo. Vì các bài thuốc đều được ghi dưới dạng chữ Hán, Nôm, ông đành mày mò học các loại chữ này.


Một vài bức tượng trong bộ sưu tập của ông Bảo

TẬP TRUYỆN KINH DỊ : AI HÁT GIỮA RỪNG KHUYA IV

Ngàn Khuya Vắng Tiếng


-  Hai vợ chồng tôi ở đây đã quá một năm mà thực quả chưa bao giờ được cái hân hạnh như anh cả.
Từ khi chúng tôi vừa mới đến, đã nghe các ông cai và các bác phu già nói dông dài về nhiều chuyện đường rừng: Nào dã sử của mấy mươi loài chim lạ, như con “cô ơi”, con “trà toản”, con “tử quy”, con “da da” vân vân, nào sự tích của bao nhiêu loài dị thú, như con “thủ thỉ”, con “rắn lục”, con “sài cứu”, con “vọng nguyệt”, nói thế nào cho hết được; tóm lại phần nhiều những chuyện đó, tuy lý thú, ý vị cả, song không lấy gì làm kỳ dị hãi hùng.
Bản tính tôi chỉ thích nghe những chuyện hãi hùng mà thôi, hóa nên tôi chả để ý đến lời họ nói. Mãi sau này, có một ông cai già mà anh em áo cộc thường gọi “Lão Cai Móm”, vì răng ông ta rụng gần hết - ông ấy thuật tôi nghe một câu chuyện rất kỳ quặc, khủng khiếp. Ðầu tiên tôi không tin, cho là ông ta cố tình bịa đặt, một là để vừa lòng tôi, hai là để dọa vợ tôi cho thú vị. Nhưng, được ít lâu, trong một trường hợp cực kỳ quái gở, tôi suýt nữa bị tán đởm vì sợ hãi rồi từ đó tôi phải tin lời ông Cai già là đúng.

Đa đoan thú chơi cổ ngoạn

Ngay từ thời xa xưa, con người đã biết sáng tạo ra sản phẩm gốm sứ kết hợp từ những nguyện liệu của thiên nhiên bao gồm đất-trời-nước-lửa (càn-khôn-li-khảm), nhờ vậy chúng trường tồn theo thời gian mà không bị tiêu hủy như các sản phẩm làm bằng những vật liệu khác.
Trải bao biến thiên, vật đổi sao dời, những đồ gốm sứ còn lại đến nay đã trở thành một phần di sản vật thể của từng đất nước, qua đó giúp cho người đời sau nghiên cứu từ lịch sử, thơ văn, nghệ thuật đến phong tục, tập quán, ngôn ngữ của các thế hệ cha ông. Và chính những yếu tố đó đã cuốn hút bao nhiêu người đến với việc sưu tầm đồ cổ.
Ở miền Nam, nói đến thú chơi đồ cổ thì không thể không nhắc đến cụ Vương Hồng Sển (1902-1993) người từng tự nhận mình ham thích đồ xưa còn hơn khách hào hoa mê gái đẹp và hơn người đánh bạc mê trò đỏ đen. Vào năm 90 tuổi, đoán rằng sắp đến lúc phải từ giã vĩnh viễn những cổ vật thân thương của mình, cụ Vương có thảo một di ngôn chép thành 5 bản. Ngoài một bản do cụ giữ thì các bản còn lại được ân cần trao cho bốn người bạn mà cụ xem là tri âm tri kỷ. Nay thì hai người trong số ấy cũng đã qua đời, người thứ ba - ông Lâm Võ Hoàng, một chuyên viên kinh tế - vì nhiều lý do đã gác tay rửa kiếm.

Người thứ tư, cho đến nay vẫn còn đeo đẳng cuộc chơi, chính là anh Trần Đình Sơn, tuy sinh sau cụ Vương gần nửa thế kỷ mà lại vinh dự được cụ xem là người bạn vong niên thân thiết

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2010

Các lọai Ngải Nàng: Nàng Chuyền, Nàng Quạt, Nàng Mọi(II)

Còn có tên gọi khác là dây nhện. Có lẽ người ta thầy nàng Chuyền trổ nhánh toả ra như mạng nhện mà đặt thành tên. Ngải nàng Chuyền có lá màu xanh đậm, chuyền sọc có lá xanh nhạt hơn, dài khoảng 15 cm, sống lá hằn sâu đến cuống.
Nàng Chuyền có 2 loại chủ yếu: nàng Chuyền trơn và nàng Chuyền sọc.
*Nàng Chuyền trơn:



*Nàng Chuyền sọc

Điển tích Phật giáo trên đồ sứ ký kiểu

Vào giữa thế kỷ XVI đến gần  cuôi thế kỷ XVIII, các chúa  Nguyễn truyền nối nhau cai trị đất Đàng Trong. Dựa theo truyền thống “Cư trần lạc đạo” thời Lý-Trần, các chúa Nguyễn chu trương “cư Nho mộ Thích” để ổn định tâm lý xã hội đẩy mạnh việc phát triển đất nước ở phương Nam. Vào thời này, đạo Phật được triều đình lẫn quần chúng nhân dân tích cực ủng hộ. Các ngôi chùa được sắc tứ vào thời chúa Nguyễn cho đến nay vẫn còn như: chùa Thiên Mụ (Huế) chùa Tam Thai (Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng) chùa Thập Tháp Di Đà (Bình Định)…
Chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) là người thuần tín Phật giáo, ông quy y Phật, đạo hiệu là Thiên Túng Đạo Nhân. Vì thế khi sáng tác thơ văn, ông thường ghi ba chữ Đạo Nhân thư ở cuối tác phẩm. Và, từ đó các tác phẩm văn học Phật giáo đều được ông đặt ký kiểu trên đồ sứ Trung Quốc, nhiều nhất là vào năm 1701.
Đồ sứ ký kiêu của chúa Nguyễn Phúc Chu chủ yếu là các loại tô, dĩa đựng thức ăn, dụng cụ dùng để uống trà, thường có hiệu đề “Thanh Ngoạn” viết theo lối chữ Triện, với đề tài ký kiểu thường là phong cảnh sơn thủy, chùa tháp cùng các bài thơ vịnh phong cảnh non nước ở xứ Đàng Trong. Những ngôi chùa mà ông đã từng đến chiêm bái và có thơ ca ngợi vẻ đẹp nơi ấy đều là đề tài lớn trong sản phẩm ký kiểu còn tồn tại đến ngày nay.
Chiếc dĩa trà vẽ cảnh chùa Thái Bình ở núi Tam Thai (Ngũ Hành Sơn - H.1).
dokieu-1.gif
H.1
Một sản phẩm ký kiểu khác mang ý nghĩa giáo dục Phật giáo hết sức thiết thực mà các đời chúa Nguyễn đặt ký kiểu nhằm giáo dục trong nhân dân đoàn kết và sẻ chia, đo là chiếc dĩa vẽ tích “Hòa hợp nhị Thánh”, niên đại thế kỷ XVIII (H.2).

dokieu-2.gif
H.2
Theo truyền tích Trung Hoa, vào đời nhà Đường có hai nhà sư tên Hàn Sơn và Thập Đắc là bạn đồng tu  tại chùa Quốc Thanh. Sau một thời gian xa cách, Thập Đắc đi đến Tô Châu tìm Hàn Sơn. Nghe tin bạn đến, Hàn Sơn vội bẻ một cành hoa sen đang nở làm vật đón bạn. Gặp nhau hai người vô cùng hoan hỷ, Hàn Sơn lấy hoa sen phủi bụi trên áo cho Thập Đắc. Thập Đắc mở bình bát mới khất thực được mời Hàn Sơn cùng ăn. Về sau hai người cùng về ẩn tu ở Hàn Sơn tự, thường cứu giúp, hóa độ quần chúng. Do cảm niệm ân đức của Hàn Sơn và Thập Đắc cùng phong thái tự tại giải thoát nên dân gian thường vẽ hình ảnh Hàn Sơn  tay cầm hoa sen, Thập Đắc tay cầm bát cơm ngụ ý sự chia sẻ và hòa hợp. Đến đời Ung Chính nhà Thanh, vua Ung Chính hạ chiếu phong Hàn Sơn là Hòa Thánh, Thập Đắc là Hợp Thánh, cho nên bức họa thường đề là “Hòa hợp nhị Thánh”.
Chiếc dĩa vẽ tích “Huệ Khả cầu an tâm” (H.3) miêu tả Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma đang tọa thiền bên động Thiếu Thất ở Tung Sơn. Trên cầu đá ở ngoài trời sư Huệ Khả đứng quay mặt nhìn vào.
dokieu-3.gif
                                                                           H.4
Chiếc dĩa (H.4) vẽ toàn cảnh biển Tư Hiền (trước kia là Tư Dung - Huế). Tư Hiền là cửa biển quan trọng của vùng Thuận Hóa xưa. Thuở ấy chúa Nguyễn Phúc Chu vân du nơi này thấy cảnh non hữu tình nên cao hứng đọc lại bài thơ Tư Dung vãn của Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ (1572-1634) một công thần của chúa Nguyễn Phúc Chu  nên về sau đặt vẽ ký kiểu toàn cảnh biển Tư Dung và đề thơ Nôm phía sau: “Một bầu riêng rẽ thú yên hà/Nghi ngút hương bay cửa Đại La/Ngày vắng đỉnh đang chuông Bát nhã/Đêm khuya dắng dỏi kệ Di Đà/Nhặt khoan đàn suối ban mưa tạnh/Eo óc cẩm ve thuở ác tà/ Mựa rằng đạo xa hòa nhọc kiếm/Bồ Đề kết quả ở lòng ta”.

dokieu-3a.gif
H.3
Giới sưu tập đồ sứ ký kiểu hẳn đều phải để ý đến chiếc dĩa vẽ cảnh Quốc sư  Pháp Thuận đời Tiền Lê giả làm người chèo đò đón sứ giả nhà Tống là Lý Giác qua sông Sách. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại: Năm 987 niên hiệu Thiên Phúc thứ 8, triều Tống cử sứ giả Lý Giác sang nước ta. Để có người đủ trình độ theo dõi và ứng đối sứ thần, vua Lê mời sư Pháp Thuận giả làm người chèo đò ở sông Sách. Lúc thuyền qua sông, Lý Giác nhìn cảnh sông rất đẹp lại có thêm hai chú ngỗng đang bơi rất thản nhiên nên liền cao hứng ngâm: Nga nga lưỡng nga nga/Ngưỡng diện hướng thiên nha. Ngâm tới đây thì ông lão chèo đò cất giọng ngâm tiếp: Bạch mao phô lục thủy/Hồng trạo bãi thanh ba. Nếu hợp lại bốn câu thì thành một bài thơ tuyệt tác. (Tạm dịch: Song song ngỗng một đôi/Ngửa mặt ngó ven trời/Lông trắng phơi dòng biếc/Sóng xanh chân hồng bơi). Lúc bấy giờ, sứ thần Trung Quốc nghĩ nước Nam thật lắm người tài. Chỉ một lão chèo đò mà kiến thức uyên thâm như thế thì người trị vì há chẳng hơn sao! Liền lui về nước Tống trình báo hoãn binh. Về sau, các chúa Nguyễn thường vẽ ký kiểu trên đồ sứ để lưu truyền về chuyện sư Pháp Thuận và sứ thần Lý Giác (H.5).
dokieu-4.gif
H.5
Ngoài những đồ sứ được ký kiểu ở thơi chúa Nguyễn Phúc Chu, từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX triều Nguyễn cũng xuất hiện nhiều đồ sứ ký kiểu vẽ đề tài Phật giáo. Chiếc dĩa (H.6) hiệu đề “Tân Sửu niên chế” vẽ toàn cảnh chùa Bạch Tự với thơ đề: Đăng đạo bàn hư không/Đăng lãm ấp vô cùng/Lệ cảnh vu thành mãn/Nghiễm nhập họa đồ trung. (Tạm dịch: Bậc đá quanh co đến cõi không/Lên cao mắt thấy thật vô cùng/Khắp nơi cảnh đẹp, thành hoang vắng/Người nhập vào tranh thỏa ước mong).
dokieu-6.gif
H.6
Chiếc dĩa (H.7) vẽ toàn cảnh chùa Thánh Duyên ở núi Thúy Vân,Thừa Thiên- Huế, trên dĩa đề thơ vịnh của vua Thiệu Trị (1804-1847) “Tuệ phong chung độ u lâm hưởng/Không vũ hương la pháp hải lân/Thụ luyến từ đàm phù bịch lạc/Kinh xuyên Tăng kịch tạp hồng trần. (Tạm dịch: Gió thiền chuông điểm rừng sâu dội/Cõi diệu hương đưa biển Pháp nhuần/ Cây vướng mây lành lên cảnh Bụt/Đường xuyên guốc sãi lấm hồng trần).
kieu-7.gif
                                                                          H.7
Hoặc chiếc dĩa (H.8) bên phải vẽ tòa lâu đài ẩn dưới bóng trúc u nhã. Ngoài cổng đề bốn chữ “Phong nguyệt vô biên”. Bên trên vẽ cảnh “Phi Lai tự” và bên cạnh chiếc cầu vẽ một nhà sư và đạo sĩ vái chào nhau. Tương truyền vào đời Tấn (Trung Quốc) có nhà sư Huệ Lý, trong luc du sơn ngoạn thủy thấy phong cảnh nơi đây giống như ngọn núi Linh Thứu bên Thiên Trúc (Ấn Độ). Cho rằng núi này từ Thiên Trúc bay sang Trung Quốc nên sư đặt tên là Linh Thứu sơn rồi lập chùa Phi Lai ở ẩn tu hành.

kieu-8.gif
Xuyên suốt quá trình lịch sử hơn 2.000 năm kể từ khi du nhập Việt Nam, Phật giáo đã để lại nhiều dấu ấn lịch sử, văn hóa trong đời sống dân tộc. Trong đó, đồ sứ ký kiểu các điển tích Phật giáo hiện còn là một trong những di vật quý giá cần được bảo tồn.

GIANG PHONG(Theo Giac Ngo)

Tinh thần - sức mạnh của bùa chú

Tuy bị coi là mê tín dị đoan nhưng bùa chú vẫn tồn tại từ xưa đến nay trong văn hóa các dân tộc. Tại sao vậy? câu hỏi chỉ một, còn cầu trả lời thì không bao giờ hết.
Nhiều dân tộc có bùa chú
Nói chung, bùa chú là dấu hiệu đặc biệt được con người sử dụng cho một mục đích cụ thể cho bản thân hay cho đối tượng có liên hệ với mình.Thực tế, trong sinh hoạt hàng ngày của nhiều dân tộc trên thế giới, kể cả các dân tộc Việt Nam, đều tồn tại bùa chú.
Bùa là một hiện vật cụ thể, chú là một hay vài câu nói có nội dung nhất định được lặp đi lặp lại khi người ta dùng bùa. Dùng bùa chú có hai mục đích: tốt và xấu - tốt cho mình và cho đối tượng của mình còn xấu chỉ riêng cho đối tượng của mình.

Người Việt thường có các loại bùa gần như hình xăm trên người, vẽ trên khăn, trên vải để mang và mặc, làm bằng sáp thơm đặt trong hộp gỗ, tượng phật bằng các chất liệu khác nhau để trong hộp hay đeo trên cổ, vẽ trên miếng chì mỏng, đeo theo người, làm bằng vàng bạc gắn trong người, hy vọng vết thương sẽ được chữa khỏi, viết trên giấy đeo theo người hoặc treo trên tường, khấc trên gỗ đeo trên tường, vẽ vào không khí bằng khói hương…

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2010

TẬP TRUYỆN KINH DỊ : AI HÁT GIỮA RỪNG KHUYA III

Hạt Ðồng Giao

Khi chuyến tàu Hà Nội-Vinh ghé một phú tại ga Ðồng Giao để trút xuống mỗi một một người hành khách và một kiện hàng, thì kim đồng hồ nhà ga chỉ đúng 7 giờ 55 phút. Trời hôm ấy là một vòm trời đen tối; mưa phùn rả rích phủ kín không gian bằng một tấm màn ảm đạm; khí hậu nặng nề ẩm thấp; quang cảnh bốn bề lạnh lùng bí mật, chung quanh nhà ga đều là đồi núi rừng cây, khiến càng tăng thêm vẻ hoang vu rùng rợn.
Chỗ đó, xưa kia là một khu rừng sâu thẳm, ở vào một nơi đồi núi hiểm hóc, chỉ có thể dùng làm sào huyệt cho lũ giặc cỏ ẩn nấp hoặc làm trường mai phục cho hai đạo quân Chúa Nguyễn và Chúa Trịnh khi Bắc Nam xung đột binh đao. Chỗ đó ở chính giữa khoảng giáp giới hai xứ Bắc và Trung Kỳ, nó chia rẽ bờ cõi hai kỳ bằng ba từng núi liền nhau; vì cớ ấy người ta gọi là đèo Tam Ðiệp.

Ai đã từng đi xe lửa từ Thanh Hóa ra Ninh Bình, chắc cũng đã để ý đến một quãng đường sắt gập ghềnh, hiểm trở, có lắm đoạn khúc khuỷu, mỗi lần xe đi qua lại ngửa nghiên lúc lắc, phải nghìm bớt đà lại, làm cho hành khách khó chịu mỗi khi nghe tiếng nghiến kèn kẹt của b’anh xe ép chặt trong máy hãm, giữa khi thân thể thì bị rung chuyển vì con tàu quằn quại, lượn ngùng ngoằng như con rắn uốn éo trên một con đường hẹp hòi, đực ở giữa núi. Ló đầu ra ngoài cửa sổ để nhìn phong cảnh, ta chỉ thấy mặt đá trơ trơ, dựng cao như bức tường, và chung quanh toàn là thứ cây sậy khẳng khiu, mọc ở ven sườn đá.

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2010

Các Lọai Ngải Nàng: Nàng Mơn và Nàng Rù(I)

1.Ngải nàng Mơn
 Được trồng trong chậu, đặt phía trước cửa quán với mục đích chiêu tài, quến khách.
*Nàng Mơn bông đỏ:
Lá của loại bông đỏ thường có màu xanh tươi hơn so với Mơn bông trắng. Cọng lá cũng dẹp hơn, và rộng hơn so với lá hẹ. Nàng Mơn đỏ có hoa màu hồng và hồng đậm. Cánh hoa có loại 6 cánh, 7 cánh và 8 cánh. Trong 3 loại này, chỉ lấy một loại để làm phép mà thôi. Không phải hoa nào cũng có thể lấy để luyện phép đâu. 
Miền Tây Nam bộ còn có tên gọi khác là Tóc tiên. 
*Nàng Mơn bông trắng: loại này có bản lá hẹp hơn và sống lá khuyết sâu hơn ở phần cuống lá. Màu sắc lá cũng không xanh tươi như màu của nàng Mơn bông đỏ.