Chủ Nhật, 31 tháng 10, 2010

'Thầy địa lý' 'bắt' nước bằng... dây

TP - Gần đây, TS Vũ Văn Bằng liên tiếp nhận được đơn đặt hàng của các đơn vị, cơ quan nhà nước yêu cầu thăm dò nước và các kiến tạo ngầm theo cách hầu như không khác gì công việc của thầy địa lý năm xưa và câu chuyện về ông sẽ còn được kể dài dài.
Một địa điểm khô hạn ở khu kinh tế Hòn La, tỉnh Quảng Bình tìm thấy nước nhờ thầy địa lý Vũ Văn Bằng (đứng giữa, đeo thiết bị)
Một địa điểm khô hạn ở khu kinh tế Hòn La, tỉnh Quảng Bình tìm thấy nước nhờ thầy địa lý Vũ Văn Bằng (đứng giữa, đeo thiết bị) . Ảnh: QD
Từ năm 2002 đến nay, nhiều người bắt đầu biết đến một nhà khoa học địa chất chuyển sang làm cái việc bị quy cho là dị đoan, thầy địa lý. Học, kiếm tiền ở Ba Lan về, có chút vốn, thay vì đi theo đồng nghiệp vác những máy hiện đại nhất khoan thăm dò nước ngầm, ông đã có cách làm khác.
Vào nghề thầy địa lý muộn (cụm từ mà không bao giờ ông muốn dùng), ông gặp muôn vàn khó khăn khi hầu như không ai ủng hộ. Nhưng những gì ông làm được trong vòng tám năm qua thì ngay cả những người phản đối ông nhất bây giờ cũng bắt đầu hạ giọng.
Điều quan trọng nhất là, kinh nghiệm bản thân ông cho phép người ta bắt đầu nghĩ đến triển vọng có thể lý giải một cách khoa học bí quyết của thầy địa lý. Hơn thế, người ta cũng bắt đầu nghĩ đến việc phối hợp kỹ năng của thầy địa lý với các phương pháp hiện đại để nâng cao hiệu quả dò tìm.
Tạp chí Cơ học Đại chúng (Popular Mechanics) mới đây xếp thuật tìm nước bằng que thăm dò là một trong những tranh cãi dai dẳng nhất thế giới. Không ít ý kiến cho đây là trò lừa khi người ta chỉ dùng một con lắc hay một đôi đũa hay một khung dây để tìm nước. Có hẳn những tổ chức quốc tế chuyên tâm vào sự nghiệp bóc mẽ bằng được cái gọi là trò lừa đảo này.
Có thể kể đến Ủy ban Nghiên cứu Khoa học về Các tuyên bố huyền bí (CSICOP), địa chỉ trên internet là http://www.csicop.org/si. Một tổ chức đáng gờm khác là Hiệp hội Giáo dục James Randi (JREF). Tổ chức có địa chỉ mạng http://www.randi.org này thậm chí thách ai chứng minh những thầy địa lý kia thực sự tìm được nước sẽ thưởng cả triệu USD.

Thứ Năm, 28 tháng 10, 2010

Chuyện về một ngôi mộ cổ

(LĐ) - Một lần về Gò Công dự lễ giỗ Anh hùng dân tộc - Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định, tôi đã thử tìm hiểu, ngoài các tượng đài, khu lưu niệm của vị anh hùng, trên vùng đất này còn lưu lại di tích nào khác về con người dám cãi mệnh triều đình, ở lại lãnh đạo nhân dân chống ngoại xâm.
Thật thú vị là ở Gò Công còn lưu một số di tích có liên quan đến Anh hùng Trương Định, mà ngôi mộ cổ sau đây là một thí dụ.
Phần trên ngôi mộ. Ảnh: K.Q
Phần trên ngôi mộ. Ảnh: K.Q
Mộ bà bên ngôi cổ tự
Từ thị xã Gò Công đi về hướng biển Tân Thành khoảng 5 cây số là đến ấp Hòa Bình – xã Bình Nghị – huyện Gò Công Đông (Tiền Giang). Quẹo vào con đường nhỏ gần 1 cây số là đến ngôi chùa cổ có tên Long Thiền. Ngôi chùa khá đồ sộ, nằm giữa vườn cây um tùm. Theo sư trụ trì ngôi chùa, ngôi cổ tự này có từ giữa thế kỷ thứ 19, lúc đó quy mô khiêm tốn. Đến thời kháng chiến chống Pháp, ngôi chùa bị hư hỏng nặng, phật tử gần xa đã góp công, góp của xây dựng lại như ngày hôm nay.
Giống như bao ngôi chùa khác, trong khuôn viên nhà chùa có một số ngôi mộ của các vị sư từng trụ trì ngôi chùa. Trong đó có một ngôi mộ rất đẹp, cao to như một quả đồi nhỏ, làm bằng đá xanh, người dân trong vùng quen gọi là “mộ bà”. Hàng năm, vào tháng sau tết, bà con trong vùng đến viếng chùa và viếng mộ bà thật đông.
Những dòng chữ khắc trên bia mộ cho chúng ta biết chủ nhân của nó tên là Dương Thị Hương, pháp danh Thanh Đăng, tự Diệu Quang, sinh năm 1844 (năm Giáp Thìn), mất năm 1933, thọ 90 tuổi. Bà là con gái của bà Trần Thị Sanh, người đã hiến cúng khu đất này để xây chùa. Bà Trần Thị Sanh là vợ thứ của Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định. Chỉ bấy nhiêu đó thôi chưa đủ để bà Hương, nghĩa nữ của Anh hùng Trương Định, có ngôi mộ đẹp và được người dân trong vùng tưởng nhớ đến ngày nay. Bà được tôn vinh là có nguyên do khác, gắn với việc bảo vệ thanh danh của Anh hùng dân tộc Trương Định.

Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2010

“Tôi đã thấy một con rắn có... chân!”


SGTT.VN - “Thật mà!” – trong một buổi chuyện phiếm, anh bạn thợ rừng tên An đoan quyết như thế về con vật mà anh nhìn thấy trong chuyến đi núi Dinh gần đây. Anh khẳng định con này không phải rắn mối hay bất cứ loài thằn lằn nào mà thợ rừng thỉnh thoảng vẫn gặp: “Nó vừa giống rắn lại vừa giống thằn lằn, và tôi không dám bắt vì sợ đây là loài có nọc độc. Chưa bao giờ tôi bắt gặp con vật lạ lùng đến thế!”
Trong danh mục các loài thằn lằn ở Việt Nam, cũng có hai loài thằn lằn rất giống rắn và một trong hai loài đó chính là thằn lằn bóng Lygosoma angeli. Nhưng đó là chuyện cách đây hơn 90 năm, với mẫu vật đầu tiên được người Pháp thu thập ở Trảng Bom – Đồng Nai. Từ đó không ai nhìn thấy chúng nữa. Người ta tin rằng loài bò sát hiếm hoi này đã tuyệt chủng. Chẳng lẽ… tôi khấp khởi mừng thầm.
Cuộc tìm kiếm cuối cùng
“Con rắn có chân” của An trở thành mục tiêu trong những chuyến đi rừng liên tiếp của chúng tôi. Thế nhưng, ròng rã hàng chục chuyến đi trong nhiều năm mà chúng tôi vẫn chưa một lần nhìn thấy nó. Mùa mưa lại sắp hết (loài thằn lằn này thường chỉ xuất hiện vào cuối mùa mưa)...
Một chiều đầu tháng 9, cơn mưa cuối mùa ào ạt đổ xuống dãy núi Dinh hùng vĩ. Dòng nước mưa đục ngầu như muốn cuốn trôi tất cả vật cản trên đường đi của nó. Trên vách đá thẳng đứng còn sót lại mấy đám rêu. Ít hôm nữa thôi sẽ bắt đầu giai đoạn rất khó khăn cho chúng. Rêu sẽ phải ngủ khô trong khô khát, mòn mỏi chờ đợi những cơn mưa của mùa sau. Lũ thằn lằn Lygosoma sp. này cũng vậy, hết mùa mưa, bọn chúng lại biến mất và ngủ khô suốt nhiều tháng trong các kẽ nứt của những tảng đá mẹ. Vì vậy, đây có lẽ là cuộc tìm kiếm cuối cùng trong năm.
Đêm xuống, đen kịt. Đội đèn trên đầu, bước thấp bước

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2010

"Giải mã" cách đặt tên phố ở thủ đô

http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/2/files/2010/04/Mot-con-pho-hai-ten-goi_Tin180.com_002.jpgCác đường phố ở thủ đô ngày nay được đặt tên không phải tùy tiện, ngẫu hứng, mà phần lớn tuân theo một quy tắc đã có từ năm 1945. Những ý kiến ủng hộ xem đây là một điểm đáng khen ngợi trong công tác quản lý đô thị của Hà Nội.
Trong hoạt động quy hoạch và quản lý đô thị, đặt tên đường chưa bao giờ là việc nhỏ. Nhiều thành phố trên thế giới có những “chính sách” riêng trong việc này. Ví dụ, ở Brisbane (Queensland, Úc), các con phố ở khu trung tâm được đặt tên theo các nhà vua và nữ hoàng Anh. Các phố tên vua song song với nhau và cắt các phố tên nữ hoàng (cũng song song với nhau).

Tại các thành phố lớn ở Mỹ, đường xá nói chung được đặt theo tên con số, quang cảnh, cây cối, chẳng hạn Oakhill (Đồi Sồi) là tên kết hợp giữa “đồi” và “cây sồi”. Lấy tên danh nhân vật đặt cho đường cũng là một truyền thống ở nhiều nơi trên thế giới: đại lộ Wilson ở Brooklyn (New York), phố Enrico Fermi ở Rome, đại lộ Victor Hugo ở Paris v.v. Hoặc dựa theo một nghề kinh doanh đã từng phổ biến ở con đường đó: phố Haymarket (như kiểu Hàng Cỏ của ta), phố Millstone (cối xay gió) ở London… (nguồn: Wikipedia)

Ở Hà Nội, việc đặt tên phố phường theo tên các anh hùng, danh nhân là cách làm phổ biến nhất. Song, đáng chú ý là các tên tuổi không bị xếp lộn xộn mà theo một trật tự rõ ràng. Quy tắc ấy như thế này: Phố phường Hà Nội (phần chưa mở rộng) được đặt theo từng cụm, mỗi cụm tương ứng với một thời, một triều đại nhất định trong lịch sử.

Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2010

Chuyện bảy cây ngọc Như Ý thấy tại Đài Bắc, năm 1963

Cái sẩy nẩy cái ung. Nói chuyện viên ngọc Tức Mặc Hầu, ngứa miệng nói luôn chuyện bảy khối ngọc trước kia vốn cũng của nước Nam, nay Trung Quốc chế thành bảy cây Như Ý ngọc để tại Viện bảo tàng Đài Loan, năm 1963, tôi còn thấy. 
Chuyện nghiên Tức Mặc lầu là chuyện gần đây; chuyện một người ham có ngọc, mà còn ham làm chính trị chánh trị luỵ thân - thân đã tan nát mà ngọc cũng mất theo, làm chánh trị dở, báo hại nước nhà mang hoạ lây. Đến như bảy cây ngọc chế thành bảy cây Như Ý, rõ lại công khéo tạo thành là công khéo sáng chế của người ngoại bang, còn ngọc nguyên khối, bảy cây to tát biến thành bảy món đồ chơi trân ngoạn, rõ là gốc của Việt Nam, do một vua bất tài, Lê Chiêu Thống, ôm chạy sang Tàu, khóc lóc xin binh về đánh với Tây Sơn, đánh không lại, bỏ xác tha hương, tội hối lộ ngọc tốt đổi binh bất tài luôn, binh Tàu đại bại, nhưng ngọc hối lộ cho Kiền Long, nay tôi được cầm trên tay nhớ chuyện xưa, bất nhẫn vì trên đầu trên cổ thuở nay đều là quân ăn hại báo đời, nước Việt vốn không lớn, vì sao có ngọc để chúng đoạt quá nhiều; và ngọc là quý, quý chỗ nào, mà vẫn bị quân gian ăn cắp. 
Mảng nói dông dài mà chưa vào đề hư hay không xin hỏi? 
Tôi viết bài nầy, không có ý khoe; khoe chỗ nào? Gần suốt một đời, ngu và hư hơn người thì có và động động biết được một chút gì là vội nói ra cho hết thảy cùng biết, người có trí đâu có làm như vậy. Trước đây, có người công du dễ dàng, xuất ngoại như mình an cơm bữa mình nửa năm chưa vô thăm mì Chợ Lớn một lần, mà họ tuần nầy sang Mỹ, mua cái bốp đầm cho mụ xã, tháng sau bay qua Pháp ôm kẹo về và xì líp lậu cho nhà đoan nó bắt nó la tùm lum, hỏi họ thấy nhiều hiểu xa, sao không thuật lại cho những người nằm nhà cũng nghe với? Tại họ khôn và ích kỷ. 
http://www.hangdocdao.com.vn/upload/product/1210369269_ngoc%20nhu%20y.jpg
http://www.quangcaosanpham.com/images/picture/big_76521_40_TDQT01-500X500_.jpg
(Hình minh họa-Internet)
Chuyến đi Đài Bắc năm 1963 của tôi kể cũng là một dịp may khó gặp hai lần trong một đời người. Nói có vong linh ông Trần Thành làm chứng. Lúc đó, ông là Phó Tổng thống nước Trung Hoa Dân quốc ông đã mất từ lâu. Đầu năm 1963, ông qua viếng trả lễ nước Việt mình, và một bữa sáng nọ ông và đoàn tuỳ tùng ghé viếng Viện bảo tàng sau khi dạo chơi vườn bách thảo. Không biết cái gì khiến, ông vui miệng, mời tôi hãy qua cho biết Đài Bắc và Đài Loan. Tuy nghe mời mọc, cũng vui tai, nhưng tôi cám ơn ông chiếu lệ, cũng không mừng gì mấy, vì từ cái mời đến cái thực hành còn xa, nghĩ mình phận mỏng, bấy lâu thất vọng đã nhiều chừng nào việc tới sẽ hay. 
Vài tháng sau, hãng máy bay cứ thúc giục mãi, và cho hay vé khứ hồi đã sẵn, phái kíp dùng kẻo quá hạn. Mà cơ khổ, sự lên đường nào phải tự tôi định được. Một thứ “thầy thông” trước làm cho Tây nay lỡ độ đường, vô làm kiếm cơm, quyền quản thủ công nhựt Viện bảo tàng nầy, mà sức mấy. Tuy vậy, chiều ý hãng máy bay và để tránh bất cập, tôi cũng đến toà đài sứ Trung Hoa, lúc đó còn ở chỗ cũ nơi đường Pasteur hỏi cho biết nếu được đi, chẳng hay có được lãnh chút ít tiền trợ cấp chi chăng, tỷ như liền lộ phí, tiền ăn, tiền ở là bao, xin vui lòng cho biết, để cụ bị thêm. Ông tuỳ viên văn hoá tiếp tôi niềm nở, nghe tôi hỏi, nhoẻn miệng cười, và đáp tỉnh khô: 

Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2010

GIA PHẢ VÀ ĐẠO LÝ UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN


GIA PHẢ - NGUỒN CẢM XÚC DẠT DÀO VỀ ĐẠO LÝ UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN

Mai Xuân Hải

Hai tiếng "Gia phả" đối với người Việt Nam ta xưa nay thật vô cùng thiêng liêng. Bởi gia phả chính là bộ sử sống của gia đình, của dòng họ, mà ở đó tổ tiên, ông bà các đời của chúng ta, những người liên tục truyền nối từ thuở vô thủy tới nay đã mang đến cho ta mạng sống, cho ta được làm người đã hiện lên rõ rệt...
Xưa kia, bất kể dòng họ lớn nhỏ nào cũng thường có gia phả. Dòng họ nhỏ đôi khi chỉ vào mươi trang ghi chép vắn tắt họ, tên, ngày giỗ, phần mộ của các cụ. Dòng họ lớn thì gia phả viết rất quy củ, có phép tắc, có đủ lời tựa, lời dẫn, phàm lệ, đủ cả phần chính phả, ngoại phả. Ngoài việc ghi chép họ tên, thụy hiệu, ngày sinh ngày mất, phần mộ, chức tước, hành trạng, công lao lúc sống của các cụ, gia phả còn ghi chép cả thơ văn, bi ký, hoành phi, câu đối, văn khấn, nghi thức cúng giỗ, điều lệ dòng họ, về việc xây dựng từ đường, ruộng họ, cùng các đạo sắc phong, chế cáo ban tặng của nhà vua. Phần nhiều là gia phả viết tay, đôi khi những dòng họ có điều kiện kinh tế và có ý thức cao, gia phả còn được khắc in.
Nhưng dù dài ngắn mặc lòng, gia phả vẫn là những bộ sử riêng của gia đình, dòng họ viết về những bậc tiền bối với tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, “phục bản phản thủy”, “thận chung truy viễn”, nên nó thường tràn đầy một tình cảm thiêng liêng, một trách nhiệm, một bổn phận cao cả đối với các lớp tiền bối và cả các lớp con cháu sau này, một thái độ thành kính, biết ơn công lao sinh thành, gây dựng, vun đắp của tổ tiên, nên có sức lôi cuốn, có sức cảm hóa mạnh mẽ các lớp cháu con.
Đọc gia phả chúng ta sẽ thu hoạch được rất nhiều tri thức bổ ích. Chúng ta sẽ hiểu sâu hơn về các mặt sinh hoạt xã hội, phong tục tập quán, những sự kiện lịch sử mà nhiều khi không được ghi chép trong chính sử của triều đình. Rồi còn văn chương, thơ phú, triết lý... Quả thật có những cuốn giả thực sự có tính chất “bách khoa toàn thư” về dòng họ, về xã hội quá khứ. Nhưng trong bài viết này, chúng tôi không đi sâu vào khía cạnh nhận thức của gia phả, chúng tôi chỉ xin trích dịch một vài đoạn văn, một vài mẩu chuyện trong một số cuốn gia phả, nói lên những suy nghĩ và đạo đức, đạo lý làm người của ông cha, thân thiết gần gũi với chúng ta, mà ngày nay, những nét đẹp đạo đức ấy, đã từ lâu được người Việt Nam ta chấp nhận, trở thành đạo đức truyền thống, tâm linh dân tộc, rất giàu cảm xúc uống nước nhớ nguồn, được các gia đình của mọi dòng họ Việt Nam vẫn thường dạy dỗ con cháu, đặng góp vào việc đánh thức những cảm xúc hướng thiện trong chúng ta trong cuộc hành trình trở về cội nguồn đang diễn ra sôi nổi hôm nay.

Tôn Tử không phải người Trung Quốc?

Cư dân mạng của nhiều nước trên thế giới đang xôn xao  khi một giáo sư đại học Ewha - Hàn tuyên bố: "Tôn Vũ -tác giả của Binh pháp Tôn Tử là người Hàn Quốc".
Tuyệt tác binh thư
Một cảnh trong phim
Một cảnh trong phim "Tôn Tử đại truyện" dựng lại cuộc đời của Tôn Vũ.
Binh pháp Tôn Tử  được biết đến như là pho lý luận quân sự vĩ đại nhất thời cổ đại, cũng là một trong những  pho sách cổ của Trung Quốc có ảnh hưởng và rộng nhất trên thế giới. Người ta đã từng tôn xưng: "Đây là Tuyệt tác binh thư hàng đầu của thế giới cổ đại". Tư tưởng thao lược và tư tưởng triết học của pho sách này được vận dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, từ quân sự cho đến chính trị, kinh tế... Và tác giả của nó -  Tôn Vũ cũng được coi là nhà quân sự lớn, đồng thời được tôn xưng là "Thánh binh", "Thánh võ" trong lịch sử Trung Quốc.

Không chỉ được tôn sùng tại Trung Quốc, Binh pháp Tôn Tử của Tôn Vũ còn được sùng bái tại một số quốc gia châu á có nền văn hoá tương đồng như Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc. Tại  Nhật Bản, vào năm 734 sau công nguyên, lịch sử đã ghi có một
học sinh nước này đã sang Trung Quốc du học và được giác ngộ với Binh pháp Tôn Tử. Sau đó người này đã đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu những lý luận quân sự vĩ đại trong binh pháp và đã truyền đạt lại tư tưởng của binh pháp về Nhật Bản. Từ đó tại đất nước mặt trời mọc, người ta đã tôn sùng tư tưởng này như một trong những cẩm nang gối đầu của các nhà kinh tế và chính trị. Ngay đến cả Konosuke Matsushita - người được mệnh danh là ông tổ của các phương thức kinh doanh kiểu Nhật cũng đã tôn sùng Binh pháp Tôn tử như một báu vật quý giá.

Đại Việt tàn thư-P2

Nhằm ngày Tân Mão, Thăng Long có hội nghị bàn chuyện phát triển bền vững kinh đô. Có nữ học sĩ là Đỗ Thị Minh Đức bàn rằng chuyện hỏi dân thực "làm chỉ để mà chơi". Hội nghị lớn, liên quan đến vận mệnh kinh đô như vậy nhưng đến khi các vị học sĩ, trí giả lên tiếng thì các vị thân làm mệnh quan triều đình to nhỏ lớn bé đều đã bỏ về phủ. Thế nên Học sĩ Phạm Quang Anh tấu rằng: Nếu quy hoạch là ý chí của quyền lực như lời Thượng thư Nguyễn Hồng Quân, thì đương nhiên sẽ được thực thi bằng văn hóa quyền lực, văn hóa nhiệm kỳ. 35 năm từ thống nhất sơn hà, triều đình đã quản lý và phát triển Thăng Long ra sao? Hay chỉ làm cho kinh đô  ngày càng phát triển kém bền vững hơn? Thẳng thắn mà nói, bản quy hoạch đang thực hiện, gọi là tầm nhìn 2050, nhưng là tầm nhìn không quá... lỗ mũi".
Bản quy hoạch Thăng Long bị dân chúng kêu ca suốt mấy tháng ròng, vì trong đó không có ý dân. Có kẻ lớn miệng nói Thăng Long giờ có khác gì một ngôi làng man di nham nhở!
Ngày Quý Tỵ, hoàng đạo, dân chúng ở Minh Hóa sau cả tuần bỏ làng trốn thủy tặc trên lèn Hang Voi bỗng đồng loạt mắc bệnh lạ: Đít chảy nước, đau con mắt bên phải, đỏ con mắt bên trái. Có kẻ nạn dân than rằng “Đời tui gần 70 tuổi rồi mà chưa thấy trận lụt mô to như năm ni". Quảng Bình xin ngựa xe mãi không thấy đâu. Kẻ sĩ là Nguyễn Thế Thịnh kêu lên rằng: Miền Trung sau lũ rơi tiếp vào cơn lũ mì tôm. Dân tình ăn phải hỏng hết cả ruột non ruột già.  Xin đừng mưa mì tôm xuống nữa.
Ở Mai Dịch thôn, nha lại tổ chức yến lớn ba trăm người. Có kẻ mõ sĩ là Nguyễn Đức Tuyền dâng sớ hỏi rằng: Bữa tiệc Búp-phê trên nước mắt nạn dân? Sớ dâng lên rồi mất tăm mất tích. Dân chúng nhủ rằng một bữa yến nhỏ đâu có sánh được với Đại lễ 10 ngày. Bảo rằng tiệc 300 người là búp-phê nước mắt thì Đại lễ là búp-phê trên xác của 85 nạn dân chết trôi ư! Bấy giờ Thái thú Thăng Long là Nguyễn Thế Thảo dán cáo thị rằng Đại lễ đã thành công, đạt mục tiêu trang trọng, hoàng tráng, ấn tượng. "Nếu ai đó nói rằng công tác tổ chức đại lễ còn hạn chế thì đó là do nhận thức chưa tốt".
Bấy giờ đang tiết hàn lộ, dịch giá cả xảy ra khắp nơi.
Ngày Ất Mùi, nhằm 12-10 Tây Lịch, sau cựu thần Nguyễn Trung và học sĩ Nguyễn Quang A dâng sớ, 3 sĩ phu là Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn và Nguyễn Thế Hùng đồng dâng biểu xin ba việc: Dừng dự án Bô xít ở Tây Nguyên. Đưa hỏi trước Hội đồng nguyên lão. Cho dân cùng được bàn. Biểu viết: Việc khai thác tài nguyên của đất nước, trong đó có bô xít, là việc làm cần thiết, nhưng đó không thể là việc làm bằng mọi giá. Lại dẫn chuyện nước lớn trút ô nhiễm sang Phi châu, triều đình Úc Đại Lợi dừng dự án nước Tàu làm chứng. Biểu này được đưa lên mạng vận động chữ ký và chỉ sau 4 ngày đã có tới bảy trăm người công khai danh tính cùng ký tên điểm chỉ.

Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2010

Nghiên mực Tức Mặc Hầu của Dực Đức Tôn hoàng đế



OZ-Truyện của Cụ Vương, dẫu là những câu chuyện thường nhật cũng đủ mê hoặc lòng người chứ chưa nói đến những bài viết của Cụ về cổ vật. Cụ có lối viết giản dị, bình dân nhưng tao nhã và  tài hoa.Tôi chỉ là bậc hậu bối thôi nhưng rất say mê những tác phẩm của Cụ. Câu chuyện này trích trong tác phẩm Hơn nửa đời hư, xin được đăng lại hầu quý độc giả.
http://www.vietnamlit.org/wiki/images/1/1e/Vuong_Hong_Sen.jpg
Cố học giả Vương Hồng Sển
Dẫn - Bài nghiên cứu nầy trước đây dã đăng trong Bách Khoa thời đại, số 290 -291 ngày 12 và 15-2 năm 1969 (xuân Kỷ Dậu). Kế đó, tôi viết lại trong tập số 9 bộ Hiếu cổ đặc san, đề tựa ngày 17-6- 1973. Nhưng tập nầy xấu số, chết ngợp, cho đến nay vẫn nằm trong tủ và không xuất bản được. Hôm nay, tôi soạn lại bài nầy là chép vào bộ Hơn nửa đời hư. Nếu có xảy ra việc gì chẳng lành: sách vở trong Nam bị đốt bỏ, bị tịch thu hay bị nấu làm giấy mới, tôi cầu xin trong ba bài của tôi còn lại một, là đủ cho tôi bằng lòng. Nghiên mực Tứ mặc hầu là quốc bảo. Nay còn lưu lạc... Mấy trang nầy còn lại, ít nữa người nào đời sẽ biết giá trị của nó mà phăn lần, hoạ may tìm ra mà đem nó trả về Viện bảo tàng nhà nước. Khi ấy dẫu nằm dưới đất, tôi cũng yên tâm. 
Vua Tự Đức trị vì từ năm 1847 đến năm 1883. Ông có tiếng là một ông vua hay chữ nhứt trong dòng Nguyễn Phước. Chính Thân Trọng Huề, năm xưa đã từng viết bài ca tụng tài học của vua, trội hơn cả, tài học lỗi lạc của các quan, tuy khoa giáp xuất thân, trôi đã có dịp thấy tận mắt tài ba của ngài, tiếc thay, như vịt nghe sấm, thằng đui ngắm tranh, vì tôi là thằng dốt. Năm 1958, nhơn một dịp ra Huế, lần đầu, tôi được ông chủ quản thủ Viện bảo tàng ngoài ấy, lấy châu bản ra cho xem. Châu bản là bản sớ tấu, tờ điều trần viết mực đen, chữ đen, của các quan dâng lên vua, và vua phê chữ son vào, nên gọi châu bản. Châu là chu, là son, là sắc đỏ. Châu bản triều Gia Long, chữ son phê rất ít, đôi hàng ngăn ngắn, viết thật đều. Châu bản hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị cũng na ná như thế, khi ít, khi khá hơn, không chừng độ. Duy qua triều vua Tự Đức châu bản mới thật là một rừng chữ son, chữ dày mịt, nhi nhít khít rịt và thẳng thớm, có khi trên nhiều tờ, còn nhiều chữ hơn phần sớ tấu của các quan gởi lên, tiếc vì tôi không đọc được. Đến châu bản đời Khải Định, còn thấy phê son bằng chữ Hán tự, duy đến đời ông Bảo Đại, quả là đại, ông nầy chỉ phê bằng quốc ngữ, có khi vấn tắt vỏn vẹn còn hai chữ ký tắt B.Đ, nhưng chữ thật to thật mạnh. Tôi thấy sao thì nói vậy, không biết tâng, mà còn gì nữa mà tâng. Bảo Đại học theo Tây, chơi thể thao Tây nhiều hơn cầm bút ngọc, chữ Nho, vả lại chữ Hán ông Tản Đà đã đem hết cả lên bán ở Chợ Trời. Vua Tự Đức là ông vua hay chữ, nên những gì thuộc văn phòng tứ bảo, ông hết sức tâng tiu. Ông có một nghiên mực làm bằng đá Đoan Khê, ông rất ưng ý đến nỗi phong nghiên mực chức là Tức Mặc Hầu. Nghiễm nhiên ông đã nhân cách hoá (personnifier) một vật vô tri, một cục đá mài mực, phong quan tước hầu, vì biết dâng mực cho ông cặp kỳ, theo ý ông muốn. Ngày nay ta đã mất tin dị đoan, mất hết ý vị thơ và thần, hết sợ ma, không còn mơ đến sự huyền bí tin tưởng phép tiên, phép tà thuật, cho nên tuy nghe vậy nhưng vẫn xem nghiên mực nầy cũng là vật tầm thường, như bao nhiêu vật và nghiên mực khác. Chớ vào cuối thế kỷ XIX, đời ông Tự Đức, khoa học chưa để chân vào nước ta còn thắp đèn dầu mù u, sang lắm là dầu phộng hoặc đèn sáp trắng - vào đời ấy có một cục đá mài mực khô ngoeo, cầm không dơ tay,thế mà khi cấp bách, muốn có mực kịp lúc, chỉ cần thổi một hơi thổi vào mặt nghiên, lức thì mực tươm ra đủ dùng. Quả là “nghiên mực tiên “, còn đòi hỏi gì nữa, và chưa lạ lùng quá sức tưởng tượng hay sao? Ông Tự Đức vốn là ông vua hay chữ, bình sinh ông có tánh giản dị, ít sai cất ai. Ông đã nằm yên dưới lăng, nào cần tôi binh vực, và tôi chỉ muốn nói về nghiên mực Tức Mặc Hầu. Vua Tự Đức làm việc bằng cây bút thật nhiều, mỗi khi viết gặp gấp rút, không sẵn mực dưới tay, nếu đợi cung phi lấy nghiên lấy nước, mài mực thì lâu hoắc, ý nghĩ đâu có chờ mài mực và sẽ bay mất đi còn gì, những khi muốn viết vội vài chữ, hoặc ghi một câu thi hay vừa nảy trong trí, ngài chỉ hà hơi vào nghiên tức thì mớ mực cũ còn lại, lại ướt lên và tươm ra óng mướt, ôi quý hoá thay nghiên mực nầy. Tôi tả vụng về thế ấy, làm sao có người chịu tin là sự thật nó như vậy? Nhưng tôi xin cam đoan, tôi đã từng cầm nghiên mực ấy trên tay, và đã từng tự làm thí nghiệm, và đã thấy y như đã nói. Kỳ tôi ra Huế năm 1958, một buổi sáng tốt trời, tôi vào viếng Viện bảo tàng và được cố quản thủ, cụ Tôn Thất Đào, tiếp tôi một cách hết sức niềm nở, không biết tại mớ tóc bạc, hay vì ông là người tôn thất, có tên Đào, nên cử chỉ thật là trang nhã. Bỗng, cụ lấy nghiên mực ra khoe với tôi: “Viện Sài Gòn có cái ni không?”. Tức Mặc Hầu (ảnh đã mất một ảnh giao Bách Khoa năm xưa cũng lạc luôn). 
http://vnthuquan.net/diendan/upfiles/31295/A100D609A4F54F6F90C36E4320BA1858.jpg
(Không biết Tức Mặc Hầu Cụ Vương nhắc đến có phải là hình trên không?-Hình Internet) 
 
Tức Mặc Hầu vóc lớn và nặng, cỡ hai phần ba miếng gạch Tàu, nhớ độ chừng, lối ba tấc Tây bề dài, hai tấc bề ngang, và dầy cỡ ba phân. Bởi là loài đá tỷ như đá bùn đá nổi, nên tôi so sánh sức nặng và vóc dạc như miếng gạch Tàu, thứ lát sân, lát nhà, tôi là người tục nên so sánh cũng tục. Về cách chạm trổ, thì tuyệt khéo. Nét chạm tinh vi, đá đã trơn bén sẵn, bây giờ thời gian lại ký tên vào đá bằng một màu cổ kính, Pháp gọi “patiné par le temps”, có mấy chữ mà toi cơm không dịch nổi: nếu đá ngoài trời, thì tạm gọi rêu mờ phong sương, ngặt vì đây là đá quý phái thường nằm trên đài son các tía, có lẽ phong trần từng nếm, nên dịch đỡ “lạc tinh” mấy độ với thời gian. Tôi cầm nghiên mực mà suy nghĩ mông lung, ban đầu tôi lật bề trái xem trước, và đây cũng là méo mó vì nghề nghiệp, thuở nay nghề chơi đĩa xưa dạy hễ gặp thứ gì hay thì “lật đít” xem trước, đọc ký hiệu nếu là đồ cổ, hoặc tìm gì gì nếu đó là thiên kim giai nhân? Dưới đáy nghiên là một bài văn “ngự chế” của đức Dực Tôn, đề cao đặc tính của nghiên Tức Mặc Hầu. Chữ khắc nổi, mạ vàng lên mặt chữ, sắc sảo không thể tả, tiếc vì tôi chỉ biết mò bằng tay và khen tấm tắc, chớ không biết khen bằng mắt vì mắt không đọc được chữ nào. Lúc đó tuy có thâu vào máy ảnh, nhưng chữ tế vi quá, không đọc được, vả lại ngày nay ảnh cũng mất, nên khen cũng như không. Sau khi xem đáy, tôi xem qua hộp đựng, thì đây là một cái hộp rất mỹ thuật, làm bằng đồi mồi Hà Tiên, loại thật đẹp, thật quý, trong trẻo và vàng hực, khiến cho bài thi ngự chế nổi bật: một bài khắc trên nắp hộp và một bài nữa khấc trên mặt dưới của cái hộp, khiến tôi khen thầm, nội cái hộp nầy không cũng đủ là một mỹ thuật phẩm tuyệt tác. 

Thứ Năm, 14 tháng 10, 2010

LINH PHÙ CÔNG CHÚA

Câu chuyện đầu tiên mà ĐHC xin kể cho quý vị nghe là chuyến đi xuống Cần Giờ cách đây khoảng hơn 18 năm.
Nhìn chung Cần Giờ không phải là một vùng đất đơn giản, có thể nói :
 
“Đất Cần Giờ tưởng hiền nhưng dữ
Người Cần Giờ tưởng dữ nhưng hiền”

 
Tuy là đất mới bồi đắp nhưng quá trình hình thành của nó có lẽ đã được hàng mấy ngàn năm rồi., nơi đây có ẩn chứa rất nhiều bí mật mà hầu như chưa được mấy ai khám phá.
Nhóm người bao gồm ĐHC và NGƯỜI BẠN trong chuyến đi này chuẩn bị khá kỹ lưỡng. Đồ vật bao gồm các dụng cụ đo đạc, quan trắc, dụng cụ đào, thức ăn khô, quần áo và chiếc honda cup78, lên đường vào khỏang 5h sáng.Đường đi Cần Giờ thời điểm này còn rất xấu, lầy lội, những cây đước mới vừa trồng còn rất nhỏ, qua phà Bình Khánh, đến nơi cảm thấy là rất mệt mỏi.
Địa điểm mà ĐHC lựa chọn trong lần này là xã A, lúc đó cả xã chỉ khỏang hơn 200 nóc nhà lá nghèo xơ xác. Tay trưởng CA xã xem ra khá dễ chịu khi có khách xuống thăm, đặc biệt là sau chầu nhậu chào sân tại cái quán duy nhất trong xóm. Anh ta còn niềm nở mời ĐHC trọ tại nhà anh ta vì “ vừa an toàn, vừa rộng rãi”.
Sau những “thủ tục đầu tiên” chộn rộn, ĐHC được chủ quán dẫn đến nhà một người được xem là có máu mặt nhất xóm. Căn nhà lá nằm gần cuối làng, ven bờ biển. Sừng sững trước cửa nhà là một người đàn ông vô cùng lực lưỡng, cao trên mét tám. Ngực anh ta to như tấm phản, trên đó có xăm đủ 5 ông phật cực kỳ tinh xảo ẩn hiện trong các đám mây. Hai tay là hai con rồng uốn lượn mà nét đẹp của nó trong các quý vị có ai từng được thấy hình xăm rồng của các chiến binh Lôi Hổ ngày xưa cũng còn phải chào thua….Nhìn thấy là đã ớn lạnh, quả thực phen này ĐHC đã chạm phải cao thủ chơi bùa 5 ông đích thực…! Thế nhưng, người đàn ông lực lưỡng còn gọi là “anh Năm” xem ra chẳng là cái đinh gì khi đứng cạnh “anh Ba”. “anh Ba” chồm chỗm ngồi trên tấm ván ngựa, to như một quả núi, cái áo hoa hòe mặc trên người anh Ba đích thực là cái áo của người Miên. Nhìn xuống tấm ván ngựa, ĐHC mới hết hồn….tấm ván đen trùi trũi, óng ánh sắc đỏ, dày cỡ gần hai tấc, bề ngang phải tới một mét rưỡi, dài ước chừng hơn ba mét. Hai tấm ván  xếp cạnh nhau chiếm muốn hết cả gian nhà, phía xa xa là cái tủ thờ đen sì (bằng gỗ mun là cái chắc) hoa văn khảm xà cừ 7 màu lấp lánh…chỉ với 2 món đồ gia bảo này thôi , ở cái xóm nghèo khổ này hiển nhiên vị trí Đại ca của “anh Ba” đã được khẳng định.
-  Chú em có cần gì cứ nói với anh, công việc gì đó của chú cần bao nhiêu người làm? Cứ từ từ rồi tính…còn hôm nay chú và mấy người bạn uống với anh vài ly…..có thằng đệ của anh (chỉ anh Năm) mai cho nó theo giúp các chú.
Sau chầu rượu với con gà luộc, ĐHC như mơ như tỉnh, anh Ba kêu một thanh niên khá gày gò lên giới thiệu :
-   Thằng nhỏ này là con anh, 17 tuổi, anh mới vừa cưới con vợ thứ ba cho nó….con Gái đâu rồi, ra đây biểu coi,…con nhỏ này mới vừa 16 tuổi, siêng năng , chịu khó nên anh cưới nó về để nhà có thêm người làm…..
ĐHC thấy cô bé này cũng xinh ra phết, hai mắt đen lay láy, mới 16 tuổi đầu đã đi làm vợ người ta nhưng vẫn không giấu được nét ngây thơ của một cô bé, nhìn xa xa còn thấy lấp ló đằng sau vài người đàn bà nữa, chắc đều là vợ của cậu con “anh Ba”. Xem ra “anh Ba” quả là một ông trùm đích thực.

Thứ Hai, 11 tháng 10, 2010

Những giấc mơ đáng sợ nhất trên màn ảnh

(TGĐA Online) - Dưới trí tưởng tượng của các nhà làm phim Hollywood, những giấc mơ bình thường bỗng trở thành chuỗi sự thật kinh hoàng ngoài đời thực. Hãy nhìn lại những giấc mơ đáng sợ nhất trong lịch sử điện ảnh nhé! 

1. Nightmare on Elm Street (1984).
A Nightmare On Elm Street được coi là một trong những phim kinh dị được đầu tư ít nhưng lại ăn khách nhất trong lịch sử Hollywood. Trong phim, Glen Lantz (Johnny Depp hồi còn trẻ thủ vai) nhanh chóng chìm vào giấc ngủ khi xem chương trình TV Silly Glen lúc đêm khuya. Glen bỗng thấy mình và các bạn đang bị săn bởi Frederick J Krueger - kẻ sát nhân hàng loạt luôn tìm cách sát hại nạn nhân của mình bằng những thủ đoạn hết sức khác nhau trong những giấc mơ. Sau đó, Glen lại thấy mình bị thôi miên trên chiếc giường ngủ, chiếc tivi cùng cái tủ vẫn còn đó. Nhưng một lúc sau, khi mẹ của Glen đến phòng của con trai mình, bà kinh hoàng nhận ra cậu bé nằm giữa vũng máu lớn.
Hình ảnh máu đông cùng cuộc rượt đuổi trong giấc mơ trong phim đáng sợ hơn bất cứ một phiên bản làm lại nào sau đó.

Thứ Bảy, 9 tháng 10, 2010

Lần đầu tiên công bố bảo vật Hoàng cung

Sau hơn 50 năm được bảo quản tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, những bảo vật tượng trưng cho quyền lực của triều đại phong kiến như kim ấn, ngọc tỷ truyền quốc, bảo kiếm... lần đầu được giới thiệu tới công chúng sáng 9/10.
Hoàng cung vốn bí ẩn với với người dân và bảo vật trong hoàng cung lại càng bí ẩn. Hàng trăm năm qua, không nhiều người biết đến và được chiêm ngưỡng những bảo vật này. Chính vì vậy, những bảo vật từ hoàng cung các triều đại phong kiến Việt Nam luôn phủ một bức màn bí ẩn, thậm chí nhiều người cho rằng chúng đã không còn tồn tại hoặc đang nằm ở các bảo tàng, bộ sưu tập trên thế giới, hoặc ngộ nhận một số đồ dùng thông thường trong cung đình là bảo vật hoàng cung.
Qua nhiều thăng trầm của lịch sử, từ năm 1959 đến nay, hàng trăm bảo vật của triều đại Lê, Nguyễn như ấn vàng, kiếm vàng, sách vàng, đồ ngự dụng bằng vàng, ngọc... vẫn còn được bảo quản, gìn giữ nguyên vẹn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Đây là những bảo vật vô giá của nhân dân Việt Nam, không những chứa đựng giá trị lịch sử phong phú mà còn phản ánh tài nghệ khéo léo của các nghệ nhân cung đình qua từng thời đại.
Tại lần trưng bày đầu tiên, dù số lượng bảo vật không nhiều, nhưng để đảm bảo an ninh, Bảo tàng Lịch sử đã nhập tủ trưng bày bằng kính 2 lớp dày 12 ly, đóng mở bằng mật khẩu, bục bệ bằng thép 2 lớp. Phòng trưng bày cũng được lắp camera quan sát 24/24h.
Các vị quan khách tham quan tủ trưng bày mũ vàng của vua triều Lê, Nguyễn.
Do lần đầu được chiêm ngưỡng những bảo vật này nên hàng trăm người dân đã chen cứng trong phòng trưng bày và đua nhau ghi lại những hình ảnh đáng nhớ.
Mũ vàng triều Nguyễn (thế kỷ 19) nặng hơn 700 gam.

Thứ Sáu, 8 tháng 10, 2010

Đại việt tàn thư

Ngày Ất Dậu, tháng Ất Dậu, lũ lớn ở miền Trung. Dân tình mấy chục người chết đuối. Có đập chặn sông là Hố Hô bị gỗ lao, nước đánh đến suýt vỡ. Ở biển Hoàng Sa, ngư dân bị tàu lạ, của nước lạ bắt giữ tống tiền. Triều đình cử sứ giả cầm loa kịch liệt phản đối, một mặt vận động chúng không nộp tiền ngõ hầu tránh mắc mưu kẻ lạ. Dân chúng nhân đó mới thưa lại là vẫn còn cả trăm ngư dân vẫn đang bị bắt. Ở núi Sóc, kéo màn tượng đài Thánh Gióng, nghe nói cả người cả ngựa đều có trái tim ở trong ngực, khóa bằng mấy lần cửa sắt đề phòng ngón “bích hổ du tường” của phường đạo trích. Có kẻ sĩ bàn rằng lo thay việc cả trái tim đức ngài lẫn trái tim loài khuyển mã đúc cùng một khuôn. Há chẳng phải phạm thượng lắm ru. Nhân chuyện ngựa sắt, Tể tướng nước Việt bèn có cho phép mệnh quan của triều đình được thêm tiền mua ngựa. Mỗi ngựa bằng cả ngàn trâu.
Ngày Đinh Hợi, Thái Thú Hà Tĩnh là Nguyễn Thanh Bình cưỡi ngựa che lọng mặc phẩm phục màu trắng đi… cứu dân. Cựu thần Lê Trung và học sĩ Nguyễn Quang A cùng dâng sớ xin trảm Bô xít ở Tây Nguyên. Sớ viết: Trước thì ở Buffalo creek xứ Cờ Hoa xảy họa bùn xám.Vừa nghe đập hồ chứa bùn đỏ Ajka, xứ Hoa Hồng bị vỡ. Cả muôn vạn khối bùn đỏ tràn ngập 3 châu, 40 ngàn thước. Bùn đỏ lấp sông các con sông Rába, Danube.  Thảm họa âu cũng là từ việc đào Bô Xít mà ra. “Việc trảm thủ tên Bô xít bằng…cẩu đầu trảm sẽ là việc khó chưa từng có trong sử kinh tế Đại Việt. Triều đình hãy dùng cảm và trách nhiệm đối với vận mệnh của sơn hà xã tắc và 87 triệu con dân. Thà chịu tổn thất còn hơn để lại hậu họa khôn lường cho mai sau”. Tấu xong để đó vì chuyện trăm sự bận của triều đình.
Ngày Mậu Tí, Mõ sĩ là Hữu Khá chụp được hình đôi bàn tay thò lên từ mái ngói kêu cứu. Có kẻ học trò là Trần Ngọc Trung quyết rằng: miền Trung chẳng còn gì ngoài nước. Dân chúng thò tay vẫy không phải để xin cho ra Tràng An dự đại lễ mà chỉ để "Cho xin gói mì tôm, sắp chết vì lả rồi". Ở Thăng Long, Thái thú Thăng Long Nguyễn Thế Thảo dán cáo thị cấm dân không được nói bậy, chửi thề, cấm không cho cởi trần… cho đến hết Đại lễ.
Ở trang An Biên, còn gọi là Hải tần phòng thủ, có vị giáo sư đứng trên một cái bục cao khoe giọng chửi hơn một khắc. Đám học trò lấy làm thú vị lắm bèn ghi âm đưa lên mạng. Quan đốc học nghe tin liền phán: Giáo sư bị bẫy. Thế là Đại từ điển tiếng Việt có thêm một từ mới: “Bẫy thầy”. Ở phủ Lai Châu, hình quan Phong Thổ phát hiện tới 20 giáo sư dùng bằng giả.

Những nghề 'hot' nhất trong tương lai

Thiết kế nhà ở vũ trụ, đọc suy nghĩ của người khác, dự đoán tương lai... là những nghề có thể rất "hot" trong tương lai.
Phi công vũ trụ

Mô tả công việc: Là những “tài xế” đặc biệt, điều khiển những con tàu vũ trụ hàng tỷ USD lượn trong không gian.
Thời điểm công việc trở nên phổ biến: năm 2020

Những chuyến bay lên mặt trăng trở thành cơm bữa với giá không rẻ.

Xu hướng: Một công ty thuộc bang Virginia là Virgin Galactic đang có dự định triển khai một chuyến bay trong không gian mang tính thương mại đầu tiên trên thế giới, với hành trình kéo dài dưới 28 ngày (thời gian Trái Đất quay quanh quỹ đạo).

Để có thể tham gia cuộc hành trình, khách hàng có thể phải chi tới 200.000 USD cho một chỗ trên chuyến bay. Tuy nhiên, loại hình du lịch sẽ ngày càng được nhiều các công ty khác khai thác, nên tính cạnh tranh ngày càng tăng.

Lúc đó, giá cả cho mỗi chuyến bay sẽ rẻ hơn rất nhiều, đủ để có thể phát triển dịch vụ bay hằng ngày, phục vụ những người ham thích khám phá không gian. Những tiểu hành tinh, mặt trăng…sẽ là những điểm đến ưa thích cho hoạt động du lịch, thăm dò và nghiên cứu khoa học.

Chính vì thế, nghề phi công vũ trụ sẽ trở thành một xu thế “nóng” trong các lựa chọn việc làm.

Cơ sở đào tạo: Dĩ nhiên, đó sẽ là các trường huấn luyện hàng không đặc biệt, hay là trong các cơ sở thuộc Không quân các nước. Hiện nay, NASA cũng triển khai một phòng thí nghiệm và luyện tập ngầm dưới nước, có chức năng mô phỏng điều kiện không gian.

Kỹ sư hỗ trợ động vật di cư

Mô tả công việc: Tạo những môi trường sống mới cho những loài có nguy cơ tuyệt chủng cao.
Thời điểm công việc trở nên phổ biến: năm 2030.

Thứ Tư, 6 tháng 10, 2010

Những bé gái đáng sợ nhất trên màn ảnh

(TGĐA Online) - Ngây thơ, trong sáng, và hết sức dễ thương nhưng đôi khi đó chỉ là vỏ bọc bên ngoài cho những bí mật ghê rợn ẩn chứa bên trong con người mỗi bé gái.

1. Eli trong Let the Right One In
Bộ phim kinh dị của Thụy Điển Let The Right One In dựa trên cuốn tiểu thuyết cùng tên ra đời đã cuốn hút hàng triệu người và có cái bóng quá lớn khiến phiên bản làm lại của Hollywood Let Me In gặp nhiều khó khăn. Là một trong những phim kinh dị hàng đầu, Let the right One in khắc họa thành công hình ảnh cô bé Eli với điều bí ẩn của một ma cà rồng, chỉ lộ diện trong đêm tối, phải được mời mới có thể vào nhà người khác, hay đi chân trần trên tuyết. Mặc khác, cô bé cũng rất đáng yêu, thậm chí đáng thương. Chính Eli là bến đỗ tâm hồn, sưởi ấm trái tim cô độc của cậu bé Oskar. Tuy vậy, khi khát máu Eli trở lại với bản chất của một sinh vật bất chấp tất cả, ra tay giết người để thỏa mãn cơn khát.
2. Esther trong Orphan

Hà Nội: Thăm bảo tháp có 108 pho tượng

Chùa Bằng có tên chữ là Linh Tiên Phúc, vốn là một ngôi chùa cổ nằm ven bờ sông Tô Lịch thuộc phường Phương Liệt, quận Hoàng Mai (Hà Nội), tiếp giáp khu đô thị mới Linh Đàm ngày nay.
Vùng đất này vốn là quê hương và đạo tràng dạy học của nhà giáo lỗi lạc Chu Văn An với sự tích Đầm Mực và thần Thuồng Luồng huyền bí.
Trải qua hàng trăm năm, ngôi chùa gần như bị chìm vào quên lãng. Mấy năm gần đây, vị sư trụ trì của chùa hiện nay là thượng tọa Thích Bảo Nghiêm được sự giúp của hòa thượng Thích Trí Quảng và chúng sinh công đức đã tiến hành trùng tu và mở rộng chùa.
Chùa Bằng có một cảnh sắc và không gian thanh tịnh, đậm chất Phật giáo. Bao quanh chùa là những vườn cây nhãn cổ thụ, đặc biệt là cây mít 300 năm tuổi. Nhìn từ xa chúng ta có thể nhận thấy ngôi bảo tháp Phật thâm nghiêm, sừng sững 13 tầng vút lên trời xanh.
Theo vị thượng tọa trụ trì ở đây, năm 2002 chùa Bằng bắt đầu khởi công trùng tu và xây dựng bảo tháp Phật cao 13 tầng (tháp cao 45m tính từ chân lên đến ngọn). Trên mỗi tầng tháp đặt tám pho tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng đồng quay ra tám hướng.
Như vậy tất cả bảo tháp chứa đến 104 pho tượng đồng lớn, nhỏ cùng bốn pho tượng Thiên Vương (tổng cộng 108 pho). Mỗi pho tượng lớn nhất, nặng nhất đặt ở tầng 1 đều có trọng lượng tới 700kg. Với những pho tượng trên tầng 13 nặng 60-70kg. Tất cả pho tượng này đều được đúc ngay tại chùa.
Tám cột trụ bằng đá ở dưới chân bảo tháp được làm bằng đánh xanh và có đường kính lên tới 1m, với hình rồng phượng uốn lượn. Ngay phía ngoài chân tháp có thêm tượng 4 vị Thiên Vương cũng được làm bằng đá. Có thể nói bảo tháp Phật ở chùa Bằng hiện nay thuộc vào loại cao và lớn nhất trong các tháp Phật ở nước ta.
Hiện nay bảo tháp đã hoàn thành và sẽ là công trình Phật giáo tiêu biểu mừng đại lễ 1.000 năm Thăng Long -Hà Nội.
Ngoài bảo tháp Phật, chùa Bằng cũng đang lưu giữ một số báu vật quý như: bộ đôi khánh đồng rất lớn cùng chiếc chuông đồng cổ treo trên gác trước cổng. Ngoài ra chạy dọc hai bên tả, hữu ngôi chùa có vườn tượng 18 vị la hán bằng đá, tượng Quan Thế Âm bồ tát, tượng Phật bằng đá cẩm thạch…
Trông từ xa ta đã thấy bảo tháp oai nghiêm vút lên trời xanh
Tượng Thiên Vương bằng đá dưới chân bảo tháp

Bí ẩn Thiên Cẩm Sơn

Ông Ba Lưới tên thật là Nguyễn Văn Y, quê ở Chợ Mới (An Giang). Năm 18 tuổi bỏ nhà lên núi một mình. Ông có thời gian 15 năm lập am tu trên núi, nơi cách nhà ông đang ở bây giờ vài trăm thước. Con đường lên núi Cấm ngày xưa rất khó khăn, u tịch, bốn bề cây cối um tùm chắn lối. Hình như không ai biết gì về cuộc sống, con người ngoài những câu chuyện huyền bí loan truyền trong dân gian. Đến khi cụ Nguyễn Văn Hầu khảo biên cuốn "Nửa tháng trong miền Thất Sơn và Thất Sơn mầu nhiệm" thì thiên hạ mới biết chút ít về vùng rừng núi huyền bí này.
Núi Cấm (còn gọi là Thiên Cẩm Sơn, thuộc xã An Hảo, huyện Tịnh Biên - An Giang) là ngọn núi cao nhất trong dãy Thất Sơn. Nơi đây, năm xưa Nguyễn Ánh (vua Gia Long) chạy trốn sự truy nã của nhà Tây Sơn đã trú ẩn trước khi chạy ra đảo Phú Quốc. Một số cấm vệ quân đã ở lại lập ra môn phái võ Thất Sơn lưu truyền đến ngày nay. Núi Cấm còn là nơi các nghĩa quân, chí sĩ yêu nước khởi nghĩa chống Pháp thất bại lui về đây ở ẩn, tu hành như  Cao Văn Do (Bảy Do), cháu ruột của anh hùng Thủ Khoa Huân, người lập nên chùa Phật Lớn ngày nay.
Ly kỳ chuyện tượng Phật phát quang (Kỳ 1), Tin tức trong ngày, đạo sĩ, tượng phật, thuốc nam, tu hành, núi Cấm, rừng núi, thú dữ, An Giang
Đạo sĩ Ba Lưới, nhân chứng sống về những câu chuyện Thiên Cẩm Sơn bí ẩn và huyền thoại
Theo lời đạo sĩ Ba Lưới, ngày trước, muốn tồn tại trên núi Cấm phải có gan liều, phải giỏi võ nghệ. Phải chống chọi với thú dữ trong rừng như: cọp, hùm beo, mãng xà, rắn độc... Câu chuyện chưa được kiểm chứng qua lời kể của ông Ba Lưới khiến người ta nghĩ tới núi Cấm vẫn còn tồn đọng bao sự huyền bí, ly kì đến tận bây giờ vẫn còn là sự tò mò, muốn khám phá. Đó là vào một bữa trưa, trên đường bán thuốc nam ở dưới Châu Đốc, chàng thanh niên Ba Lưới trong lúc gánh nặng lương thực vượt đường lên núi về am thì gặp một con rắn hổ mây to đến vài chục ký, nằm chắn ngang đường. Nhìn ông, con rắn ngọ nguậy, mở cặp mắt đỏ trừng trừng, thở khè khè, phùng mang chờ chực tấn công ông. Ba Lưới bình tĩnh hạ giỏ lương thực xuống, rút đòn gánh, ra thế tấn thủ, quan sát chóp đuôi con rắn di chuyển và bất ngờ tung đòn hiểm tấn công dũng mãnh vào cổ rắn. Cuộc đấu giữa người và mãnh thú khá lâu mới hạ hồi kết thúc. Ba Lưới đã hạ gục được con hổ mây chúa với người túa mồ hôi, bở hơi tai với cây đòn gánh gãy làm đôi…

Thứ Ba, 5 tháng 10, 2010

SẤM KÝ CỦA TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM VIẾT VỀ CUỘC CHIẾN TRÊN BIỂN ĐÔNG

Blog Phamvietdaonv: Blogger ductruyen_dang vừa gửi cho Phamvietdaonv một số ý kiến của mình dẫn giải về một đoạn trong Sấm ký của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Theo dẫn giải của ductruyen_dang thì đoạn sấm ký này là lời tiên tri về cuộc chiến tranh chấp trên Biển Đông, cuộc chiến sẽ khởi đầu vào năm Canh Dần-Tân Mão và cuối cùng Việt Nam sẽ đại thắng nhờ có Thiên tử xuất hiện !

Cảm ơn Blogger ductruyen_dang, xin giới thiệu bà con đoạn sấm ký này, nếu bà con nào có dẫn giải khác, Blog Phamvietdaonv sẵn sàng đưa lên để trao đổi về chủ đề nhạy cảm này…
Image
Tượng Nguyễn Bỉnh khiêm
Cách đây hơn 500 năm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói đến trận đánh ở biển Đông. Sau đây là nguyên văn đoạn viết. Nếu không tin, xin tìm cuốn" Trạng Trình NBK" xuất bản 1992 NXB Văn hóa:
1/-"Phú quý Hồng trần mộng, bần cùng bạch phát sinh; Hoa thôn đa khuyển phệ (Hoa thôn: làng người Hoa,đa khuyển phệ:có nhiều tiếng chó sủa;);
2/- Mục giã dục nhân canh (những người trông thấy giục người ra canh giữ);
3/-Bắc hữu kim thành tráng, Nam hữu Ngọc bích thành (miền bắc có thành vàng (hoàng-kim) hoành tráng, miền nam có thành Ngọc bích);
4/-Phân phân Tùng bách khởi, nhiễu nhiễu xuất đông chinh ( phân phân tùng bách khởi: giữa hai năm tùng bách (canh dần-Tân mão) sẽ khởi binh,nhiễu nhiễu xuất đông chinh:trùng trùng,điệp điệp xuất quân ra biển đông chinh chiến…);
5/- Bảo giang thiên tử xuất, bất chiến tự nhiên thành (vùng Bảo giang sẽ xuất hiện Thiên tử, không cần phải chinh chiến, mà thành công)…
6/- Rồi ra mới biết thánh minh, mừng đời được lúc hiển vinh reo hò....
Nếu cụ Trạng Trình đúng thì thật may mắn cho xã tắc !

Báu Vật Chùa Miên-Phần 3

Một hôm, trong lúc đang ngồi bù khú thì Lạc “mả” đến, y ghé tai ĐHC thì thầm “tối nay Đại ca T.B xuống đây, hẹn gặp tại Long Xuyên có việc gấp lắm, nhà bác nhất định phải đến đó”. Lạc “mả” đi rồi, trong lúc say sưa, bất ngờ anh Năm Ai nói “cái tay hồi nãy đến tìm anh thường hay đi chung với một nhà sư trẻ người Miên, sao lúc này chỉ còn đi một mình ?” – “Bộ y hay đi chung với nhà sư lắm hả ?” – “Hầu như mỗi ngày, trước đây có lần tôi còn chở nhà sư đi vòng vòng khắp Long Xuyên, Chợ Mới, Tri Tôn…..nghe ông ta kể là đi tìm “hia” gì đó…”. Qua lời anh Năm Ai kể thì ra Lạc “mả” còn giấu rất nhiều chuyện, y đã từng gặp Mười Hổ, thậm chí còn dắt nhà sư người Miên đến gặp Mười Hổ….. ĐHC đã lờ mờ nhận ra kẻ đã ra tay giết nhà sư này….Bỗng nghe anh Năm Ai nói tiếp “nhà sư trẻ rất tội nghiệp, ông ta không có một xu trong túi, vừa đi tìm “hia”, vừa phải làm thuê để sống. Có lần chở ông ta đi tìm “hia”, ông ta không có tiền, đành phải chở không, tôi còn mời ông ta vào quán, ăn bún, uống nước”. Anh Năm Ai tuy nghèo nhưng quả là người rất tốt, anh Năm Ai lại nói “có lần nhà sư nói “hia” của ông ta trước khi ra đi có để lại cho ông một cái khăn ấn phòng trừ tà gì đó…..Ông ta còn mang ra cho tôi xem, chiếc khăn màu đỏ, bên trong vẽ hình chi chít, thêu chỉ vàng rất đẹp”. ĐHC giật mình, nhớ lúc khâm liệm nhà sư đâu có thấy cái khăn ấn này…? – Vậy cái khăn đã đi đâu mất ?
Hiển nhiên Lạc “mả” tỏ ra sáng giá nhất trong vụ này. Tấm khăn ấn của người Miên nhiều khi được họ thêu viền bằng những sợi vàng thật nên nó có độ bền với thời gian rất lâu. Nhưng cái quý của nó là ở chỗ vị thầy phù phép vào có công năng như thế nào. Cái khả năng Lạc “mả” lấy chiếc khăn để đem bán cho…. Mười Hổ là rất nhiều. Y nổi tiếng là liều mạng, bất chấp hậu quả từ trước đến giờ. Phải rất cẩn thận với Mã Trường Lạc vì y sẽ mang ĐHC ra đánh ván cờ “thí chốt bắt xe” sắp tới.

Chủ Nhật, 3 tháng 10, 2010

Báu Vật Chùa Miên-Phần 2


Ở thế kỷ trước, An Giang có một nhân vật rất nổi tiếng ở vùng núi Cấm, đó là ông “Bảy Hổ”. Bảy Hổ là một pháp sư nổi tiếng “dao chém không đứt, đạn bắn không thủng, đi nhanh như chớp giật”. Lúc nhỏ anh ta chỉ là một thanh niên bình thường, nhưng rất đam mê võ thuật. Anh Bảy qua bên Miên tầm sư học đạo, sau vài năm đã trở thành cao thủ. Võ Miên nhìn chung cũng như tất cả các môn võ thuật khác, có đòn tay, đòn chân, đòn công, đòn thủ……Nhưng cái đặc biệt của võ Miên là cú đá bằng ống quyển. Dùng ống quyển có thể đá tan bia vỡ đá, gãy bứt ngang thân cây chuối lớn. Cao thủ võ Miên đá gãy xương sườn đối thủ là chuyện bình thường. Nếu dùng tay mà đỡ cú đá “ống quyển” thì gãy tay như bỡn. Học võ Miên xong, anh Bảy còn qua Thái lan học thêm võ Thái. Võ Thái Lan tương tự võ Miên nhưng chú trọng đánh cận chiến và cú đá đầu gối. Cú lên gối mạnh đến mức có thể làm chết cả một con trâu. Cao thủ võ Thái khi đánh thường “nhập nội”, dùng tay khóa đòn đối thủ, sau đó lên gối, chấn vào chớn thủy làm đối thủ vỡ tim,ná thở. Còn nếu bạt ngang vào be sườn sẽ làm giập gan, vỡ lách, gãy xương sườn. Lên gối trúng hạ bộ thì đối phương chết là cái chắc. Học xong võ Thái, anh Bảy còn qua Miến Điện,….tuy gần Miên, Thái nhưng võ Miến Điện lại khác hẳn, nhiều chỗ dị biệt hơn nhiều. Võ Miến chú trọng dùng đòn tay, cạnh bàn tay, mũi bàn tay. Có thể dùng mũi bàn tay đâm thủng thân cây cây chuối lớn. Lúc đánh thì xòe bàn tay như cánh quạt vậy. Lối đánh của võ Miến rất nhẹ nhàng, không ào ạt, bão táp nhưng độc hiểm vô cùng.
Sau khi gồm thâu tuyệt học, anh Bảy trở về đất Việt. Những tưởng sau bao nhiêu năm luyện tập sẽ trở thành cao thủ vô địch, nào ngờ trúng phải độc thủ của một pháp sư, biến thành dở điên dở dại….chỉ còn chờ chết. May được thầy Kheng-sivan thương tình cứu chữa mới sống lại. Anh Bảy theo thầy Kheng-sivan học nghề thuốc chữa bệnh, bùa chú, phép thuật hơn chín năm thì thành tài. Trong lúc học, cô con gái của thầy Kheng thấy anh Bảy đẹp trai, chịu thương chịu khó thì thầm thương trộm nhớ…..
Vùng Bảy núi lúc bấy giờ còn hoang sơ lắm, các cao nhân về đó quy ẩn rất nhiều. Bỏ biết bao nhiêu năm tầm sư học nghệ như vậy mà xem ra anh Bảy cũng còn quá nhiều đối thủ. Đúng là núi cao thì có núi cao hơn. Tham vọng của anh Bảy là phải vô địch thiên hạ….miễn là bằng bất cứ giá nào. Cuối cùng anh nghĩ phải luyện bằng được  bùa “Thiên Linh, Thiên Nhãn” thì mới mong đánh bại được tất cả cao thủ trong thiên hạ. Bùa “Thiên Linh, Thiên Nhãn” chính là tầm tối cao của Thiên Linh Cái. Một thứ bùa cực độc, cực ác, vì thế thầy Kheng-sivan đâu chịu dạy cho đệ tử. Anh Bảy đành phải giở đến chiêu mà thiên hạ thường vẫn làm nhưng vô cùng đắc dụng….đó là cô con gái rượu của thầy Kheng….

Thứ Bảy, 2 tháng 10, 2010

Nghệ thuật Hà Nội xưa

TTO - Tiếp theo chuyên đề Hà Nội 36 phố phường, Trẻ con Hà Nội xưa, Tuổi Trẻ Online tiếp tục giới thiệu đến bạn đọc những tấm ảnh với chủ đề Nghệ thuật Hà Nội xưa.
Các chuyên đề này được chọn lọc lại từ 2.000 bức ảnh Hà Nội xưa. Đây là bộ ảnh do nhà giáo lịch sử đã nghỉ hưu Đoàn Thịnh và người con trai là kiến trúc sư Đoàn Bắc sưu tầm, thực sự là một món quà ý nghĩa cho thủ đô trong dịp Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long.


Gánh hát xẩm
Gánh hát xẩm
Gánh hát tuồng cổ (Hát bội)

Phan Vũ- nhà thơ “Em ơi! Hà Nội phố”

(VOV) - Tôi gặp Phan Vũ trong căn nhà nhỏ của ông ở thành phố Hồ Chí Minh. Ở tuổi 84, ông làm thơ, vẽ và viết báo.
Có lẽ người yêu Hà Nội nào cũng từng ngân nga giai điệu của ca khúc “Em ơi! Hà Nội – Phố” với những ca từ như thấm sâu vào máu thịt : “…Ta còn em cây bàng mồ côi mùa đông. Ta còn em nóc phố mồ côi mùa đông. Mảnh trăng mồ côi mùa đông…”. Thế nhưng, không phải ai cũng biết rõ về tác giả của những vần thơ đã được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc để làm nên một trong những ca khúc hay nhất về Hà Nội. 
Những câu thơ đầy nhạc cảm trong ca khúc “Em ơi! Hà Nội – Phố” được trích ra từ một trong những bài thơ hay nhất của Phan Vũ được viết thành trường ca gồm 23 đoạn. Bài thơ ra đời vào những ngày đêm Hà Nội bị đánh bom năm 1972, trong một căn gác nhỏ nơi nhà thơ sống ở phố hàng Bún. Bằng những cảm xúc khi ấy, ông đã viết nên những vần thơ bất hủ mà nhiều người cho rằng đến giờ chưa một bài thơ viết về Hà Nội nào sánh được.
Một điều thú vị nữa là bài thơ chưa bao giờ được in, cho đến tận năm ngoái (2008) , tập thơ Phan Vũ với bản gốc trường ca“Em ơi! Hà Nội – Phố” lần đầu tiên xuất bản. Đọc “Em ơi! Hà Nội – Phố” của Phan Vũ mà nghe dư âm xưa hiện về nơi phố cổ, một Hà Nội thanh bình êm ả những năm 60-70 của thế kỷ trước. Phan Vũ “vẽ” lại Hà Nội xưa, thời chiến tranh khắc nghiệt nhưng rất lãng mạn, hào hùng: 
 “Tiếng dương cầm trong căn nhà đổ “ .
Luôn thấp thoáng đâu đó là những hình bóng người con gái đẹp:
 “Ai đó chờ ai?

Tóc cắt ngang xõa xõa bờ vai….”  .
Từ hồi đó, thơ của ông đã đầy màu sắc, đọc từng câu mà hình như đang xem họa sỹ vẽ Hà Nội:
“….một màu xanh thời gian.

Một màu xám hư vô,

Chợt nhòe,

Chợt hiện…” 

“Nhợt nhạt vàng son”
một Hà Nội man mác lẫn hồn thơ mùa thu:
“ Ta còn em cô hàng hoa

Gánh mùa thu qua cổng chợ
Những chùm hoa tím

Ngát mùa thu… “
một Hà Nội lãng mạn phong cách riêng của Hà Nội…
"Ta còn em tà áo nhung huyết dụ.

Đất nghìn năm còn mãi dáng kiêu sa,

Phường cũ lưu danh người đẹp lụa.

Ngõ phố nào in dấu hài hoa…?"

Nhà thơ Phan Vũ
Nhà thơ, họa sĩ 84 tuổi đọc cho tôi nghe bài thơ- trường ca “ Em ơi Hà Nội phố”, chia sẻ với tôi những cảm xúc dường như vẫn còn tươi nguyên như ngày nào. Ông vẫn còn một kỳ vọng là được chính thức giới thiệu và tự mình đọc trường ca “Em ơi! Hà Nội – Phố” chính tại Hà Nội, cho những người Hà Nội...  * Thưa nhà thơ Phan Vũ, ông đã viết trường ca “Em ơi! Hà Nội – Phố”  như thế nào ? 
Phan Vũ: Mùa đông năm 1972, lúc ấy B52 đánh Hà Nội ác liệt. Trong những ngày đó, tôi sống ở Hà Nội. Hàng ngày, hay đi lang thang. Tôi thân với họa sĩ Bùi Xuân Phái, nên hay đi theo ông Phái. Ông vẽ phố, còn tôi nghĩ về phố. Nhiều khi đến đêm, lúc 1,2 giờ sáng ông Phái còn đem tranh đến nhà tôi treo.
Trường ca đó như một nhật ký bằng thơ. Bởi với những gì đã diễn ra hồi đó, một bài thơ không đủ chứa đựng được. Tôi viết trong khoảng 10 ngày. Nhà tôi ở phố Hàng Bún. Chiến tranh, người ta đi vắng hết. Bom đạn, cây cối nhà cửa đổ nát.
Căn nhà tôi ở là một nhà kiểu Pháp, của một trung tá Pháp, nhà có lò sưởi. Lúc đấy tôi đi lượm cây cối, những mảnh gỗ vỡ, rồi đêm nào cũng đốt lên, rồi thì làm thơ… 

Nơi Chiếu dời đô ban xuống

TTCT - Khởi đi từ Hoa Lư, Thiên đô chiếu của vua Lý Công Uẩn đã mở ra một Thăng Long văn hiến, hào hoa nay nghìn năm tuổi.
Trong lòng dân Hoa Lư ở lại vùng đất xưa - nơi vị hoàng đế đầu tiên của nước Việt chọn làm kinh đô, nghìn năm ấy vẫn đọng lại không ít nỗi niềm...
Đường làng, ngõ xóm ở thôn Tam Kỳ - Ảnh: Hà Châu
Dân về đám giỗ vua Đinh
Sáng 15-8 âm lịch (22-9-2010), tại khu di tích đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng (xã Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình) diễn ra một “buổi chầu” của rất nhiều đại thần cùng các nữ quan và cung tần. Với mâm lễ gồm xôi, thủ lợn, hương oản, hoa quả... các vị đại thần thành kính dâng lên vua Đinh những sản vật của quê hương, bày tỏ tấc lòng thành của con dân Cồ Việt quốc.
“Năm nào cũng vậy, đến ngày này chúng tôi đều làm giỗ tưởng nhớ ngài - một người con của đất Ninh Bình, cũng để tưởng nhớ đến kinh đô của nước Đại Cồ Việt - một phụ nữ trong vai nữ quan cho biết - Con dân của đất cố đô chưa khi nào nguôi nỗi nhớ về đức tiên hoàng đã có công dẹp loạn 12 sứ quân, xây dựng một kinh đô tráng lệ tại đất Trường Yên này”. Phía trước cổng đền, một công trường rộng lớn ngổn ngang chuẩn bị sân khấu cho nghi lễ rước Chiếu dời đô vào tối 30-9 và sáng 1-10.
Hòa trong đoàn người áo mão chỉnh tề dâng lễ có rất nhiều người dân trong vùng. Anh Nguyễn Văn Lịch, một người buôn bán nhỏ ở thôn Nam, nói: “Tôi xem tivi thì biết ở ngoài kia (Hà Nội) đang tổ chức kỷ niệm 1.000 năm vua Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư đến Thăng Long, còn ở đây hôm nay chúng tôi về giỗ vua Đinh, tưởng nhớ ông, không có ông thì không có Hoa Lư”.
Mâm cúng được dâng tại đền Đinh xong, những người tham dự sang chiêm bái ở đền thờ vua Lê và nhà bia tưởng niệm vua Lý Thái Tổ ở ngay bến sông Sào Khê - nơi vua Lý đã ban Chiếu dời đô rồi bước xuống thuyền rồng ngược dòng Sào Khê đến Hoàng Long, về Thăng Long dựng kinh đô mới.
Một ngôi nhà có tường rào đá ở thôn Tam Kỳ - Ảnh: Hà Châu
Cố đô, cầu cổ và chùa cổ
Hình như chưa ai đặt câu chuyện phố cổ tại Trường Yên, nhưng theo những người dân thì sau khi vua Lý đi, dân đã vào thành nội sinh sống. Đại Việt sử ký toàn thư kể lại sau khi vua dời đô ra Đại La thành thì: “Đổi châu Cổ Pháp gọi là phủ Thiên Đức, thành Hoa Lư gọi là phủ Trường Yên”.
Dân tràn vào thành nội sinh sống, nên phủ Trường Yên rất đông đúc từ thế kỷ 11. Xã Trường Yên nay còn các địa danh gắn với kinh thành: thôn Tây, thôn Nam, thôn Đông, thôn Tam Kỳ... Trải qua gần 1.000 năm nhưng may mắn chỉ chịu biến động về thời gian, ít chịu biến động về thiên tai, địch họa nên những nếp nhà xưa, những dòng họ vẫn sống tiếp nối từ đời này qua đời khác.
Dấu tích của người xưa còn lại nơi những cổng đá, bờ rào đá, vỉa hè đá, sân làm bằng đá nguyên khối mà không ai nhớ, không tài liệu nào ghi chép niên đại. Những đường xương cá, phố bàn cờ, những ngôi nhà san sát chứng tỏ sự thịnh vượng của một triều đại với những người dân Việt gốc của các dòng họ Nguyễn, Lê, Trần, Dương, Ngô...
Cột đá Nhất Trụ được Nam Việt Vương Đinh Liễn (con trai trưởng của Đinh Tiên Hoàng) cho làm để chép kinh và được đặt ở nhiều nơi, trong đó có cột đá lớn nhất để tại chùa Nhất Trụ nay vẫn còn. Sư thầy Thích Đàm An, trụ trì chùa Nhất Trụ, cho biết 30 năm trước khi thầy về đây trụ trì thì chiếc hồ lô trên đỉnh cùng đài sen bị vỡ vì những năm chiến tranh trước đó, nhưng chữ khắc trên cột đá Nhất Trụ vẫn còn đọc được (Bảo tàng tỉnh Ninh Bình đã in và dịch bản kinh này).
Từ bấy đến nay, thời gian đã khiến những hàng chữ trên cột bị mờ gần hết. Trong những lần khảo cổ cách đây không lâu, mấy chục cột đá chép kinh đã được tìm thấy ở rải rác những nơi khác trên đất Ninh Bình (hiện đều để trong bảo tàng tỉnh).
Di tích cố đô nay là chốn mưu sinh cho không ít dân Trường Yên, những nông dân xưa chỉ biết làm ruộng, nay vật đổi sao dời, khi 40% diện tích đất nông nghiệp ở đây đã chuyển đổi, họ bắt đầu làm nghề dịch vụ: xe ôm, bán hàng, thậm chí cho thuê trâu để khách du lịch chụp ảnh. Những lái xe ôm như anh Hội thường kiêm luôn hướng dẫn viên chở khách đến các địa điểm khác của khu cố cung, từ chùa Nhất Trụ sang Cầu Đông, Cầu Dền, đền thờ công chúa Phất Kim...
Hôm chúng tôi tới, khu du lịch vắng vẻ, những quả dứa nhỏ xíu của người bán hàng rong héo quắt do “ít khách du lịch nên không có người mua”. Bên cạnh mấy người bán hàng là một con trâu được đeo nơ đỏ trên đầu: “Trâu của vua Đinh đấy, 10.000 đồng/lần chụp ảnh”.
Anh Lịch, một lái xe ôm khác ở thôn Nam, khi chia tay đã nói: “Việc dời đô của vua Lý là hoàn toàn sáng suốt. Vì khi đặt kinh đô ở đây, vua Đinh đã đặt việc binh lên trên, lấy núi làm thành, lấy sông làm hào.
Trải qua mấy chục năm khẳng định chủ quyền, khi vua Lý tiếp nhận vương triều thì ông nhận thấy cần phải phát triển cả văn hóa, kinh tế và chính trị. Nếu vua Lý không dời đô thì sẽ có vua khác dời đô thôi. Nhưng dù nơi đây không còn là kinh đô nữa thì chúng tôi vẫn tự hào vì được sinh ra ở nơi vua đã sinh sống”.
Dâng cúng vua Đinh xong, dân sang chiêm bái ở đền thờ vua Lê - Ảnh: Hà Châu

Những cái tên làm nên hồn phố

TTCT - Đằng sau quyết định dời đô 1.000 năm trước của vua Lý Thái Tổ không chỉ là việc chuyển kinh thành từ một nơi chật hẹp, hiểm trở đến chốn “rồng cuộn, hổ ngồi, muôn đời là thắng địa”, mà còn là sự dịch chuyển của rất nhiều con người, số phận, thói quen, cả những địa danh...
Bia đá Đông Kiều tạc thẳng vào vách Núi Chợ đã bị nhà dân che lấp - Ảnh: Việt Dũng
Nghìn năm dâu bể qua đi, những tên người, những số phận đã chìm khuất, nhưng những địa danh như Ô Cầu Dền, Cầu Đông, chùa Nhất Trụ (Một Cột)... nay vẫn “tươi thắm”, vẫn thủy chung đứng đó trên đất Hoa Lư cố đô xưa.
Bà già đi chợ Cầu Đông...
Cầu Đông dù không còn bằng đá, nay vẫn bắc qua dòng Sào Khê, sách thời Nguyễn gọi là Long Giang, nhưng tấm bia tạc vào sườn núi đá hai chữ Đông Kiều lại “ẩn cư” cách đó chừng 70m. Anh Nguyễn Văn Khang, một người nghiên cứu lâu năm về Hoa Lư, năn nỉ mãi mới được cho mở cửa một căn nhà quanh năm đóng im ỉm, vòng ra sau nhà, leo lên sân thượng, sững sờ nhìn lên hai chữ Đông Kiều chân phương, rắn rỏi, sắc nét tạc trên vách đá như chưa hề có dấu vết thời gian.

Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2010

Báu Vật Chùa Miên-Phần 1

Những ngôi chùa Miên thường có rất nhiều báu vật. Ví như Chùa Tháp, Chùa Vàng, Chùa Bạc…..nổi tiếng vì hàng trăm tượng Phật bằng Vàng, bạc, kim cương, ngọc bích.v.v… Sự quý giá của các bảo vật đó được ca tụng trong hàng ngàn trang sách báo, các tour du lịch tham quan mang về cho đất nước sở tại hàng triệu triệu đô…..Thế nhưng, những ngôi chùa đó chưa bao giờ có được Báu vật phi thường…..

ĐHC còn nhớ lúc đó đang ở Miền Đông, trong một trang trại của Đại gia N.K. Trang trại của ông ta hầu như có tất cả, núi non, sông suối, rừng cây, chim thú quý như Công, Hạc, Trĩ sao, Hổ, Gấu, Hươu nai, Kỳ đà, Cá sấu….Ông ta còn xây cả một trạm thủy điện riêng để tự cung cấp điện cho trang trại. “Oách” như vậy chưa đủ, đại gia N.K còn xuống tận Miền Tây “rinh” nguyên một căn nhà cổ 3 gian cực to hàng trăm năm tuổi về “trồng” tại trang trại để lâu lâu tổ chức cúng giỗ ông bà cho thật trang trọng. Từ khi đại phát tài, đại gia N.K càng tin tưởng vào địa lý phong thủy, ông ta cùng ĐHC xuống Miền Tây cải táng các ngôi mộ của ông bà tổ tiên trong dòng họ, thu thập tất cả mang về trang trại, cho xây một khu lăng thật to, thật hoành tráng để “có ông bà bên cạnh phù hộ con cháu làm ăn phát đạt đời đời”. Đại gia N.K không ngần ngại chi hàng tỉ đồng để làm việc này và sau hơn một năm công việc đã gần như hoàn tất.
Hôm đó ĐHC đang ở trong ngôi nhà cổ 3 gian với những hoa văn được điêu khắc cực kỳ công phu sắc sảo, thiếp bằng vàng thật nên lâu ngày vẫn còn rực rỡ. Ngồi trên bộ “tràng kỷ” xưa còn hơn trái đất, ung dung uống ly nước dừa quê hương mát rượi thì Mã Trường Lạc ở đâu lù lù xuất hiện…
Mã Trường Lạc có cái tên cúng cơm rất đẹp nhưng giới “đào mồ cuốc mả” chỉ gọi y đơn giản là Lạc “mả”. Y dáng người thấp lùn, cái bụng tròn vo, tướng đi lặc lè. Điểm đại quý của y là cái đầu to, trên đó gắn cái mũi y như mũi kỳ lân, mắt rất sâu, hai hàng lông mày mọc rất dài, rất đậm. Lạc “mả” khá có tiếng trong giới buôn đồ cổ, nổi tiếng liều lĩnh, sẵn sàng đào trộm những ngôi mộ cổ nếu biết trong đó có đồ quý. Thành tích cộm nhất của y là dám vào một bảo tàng nổi tiếng cắt phăng cái đầu của một pho tượng quí để mang đi bán cho một thương gia người Thái. Y từng lên tận Sơn La, Lai Châu… qua tận Lào, Miên để tìm trống đồng cổ…. Có nhiều tiền, lại có cái tài ăn nói siêu hạng, y lấy được một cô hoa khôi người Tuyên Quang da trắng, chân dài, cao hơn y cả cái đầu. Sau này vì có xích mích gì đó với giang hồ đất Bắc nên y vọt vào Sài Gòn lấy thêm một cô vợ vừa trẻ, vừa đẹp, vừa nổi tiếng theo đúng típ “ăn 5 sao, ở 5 sao, lấy vợ siêu sao”. Được một thời gian thì tiền bạc hết nhẵn, lại đẻ thêm một đống nợ. Lạc “mả” đánh liều “khua môi múa mỏ” với đại ca T.B để người này đưa tiền cho y xuống đất An Giang tìm “cái cục nho nhỏ nhưng bán được hàng mấy triệu đô”.
Đại ca T.B là dân quận tư, giám đốc cả mấy công ty chuyên về xây dựng và san lấp mặt bằng, có xe ben, xe cuốc đủ cả. Nhưng nghề chính của ông ta là cho vay nặng lãi và đòi nợ mướn…Có trong tay những hợp đồng xây dựng và san lấp cỡ lớn, đại ca T.B mượn ngân hàng được tiền tỉ tỉ. Ông ta dùng tiền đó cho vay nóng và giúp giải ngân cho những công ty đang nợ để lấy hoa hồng. Tiền đẻ ra tiền, chẳng mấy chốc đại ca T.B trở thành đại gia T.B. Nhưng ông ta rất khôn ngoan, không bao giờ kinh doanh vũ trường và cờ bạc, mảnh đất độc quyền của “anh Năm”. Bất hợp pháp trong cái vỏ bọc vô cùng hợp pháp nên đại ca T.B ngày càng trở nên giàu có, đàn em theo về đông như kiến.
Đi lên đi xuống đất An Giang suốt mấy năm, tiêu hết “mấy cân thóc” của đại ca T.B mà chỉ mang về được mấy cục sắt gỉ, Lạc “mả” cảm thấy sắp bị chui xuống mả nên lo sốt vó…..
Lạc “mả” không đi một mình mà y dẫn theo một người, người này còn khá trẻ nhưng hình dung tiều tụy mà thần sắc lại rất u ám. Sau vài câu xã giao thông thường, Lạc “mả” đi ngay vào chuyện chính “nói thật với bác, nhà em xuống An Giang để tìm đồng đen cho đại ca T.B, nhưng chỉ toàn gặp quân lừa đảo với đồng đen giả” – “sao nghe đồn chú tìm được một pho tượng nữ thần đẹp lắm” – Lạc “mả” lật đật nói tiếp “chuyện này thật không dám giấu, tìm mãi không được đồng đen, em gặp một bọn ở Tri Tôn nói là trong lúc đào ao thấy một pho tượng đẹp lắm nên nghĩ là nếu mang pho tượng này về bán thì cũng gỡ gạc được chút đỉnh, có tiền trả cho đại ca T.B” – y ngừng lại, uống một hớp nước, thở phì phò rồi nói tiếp “bọn chúng dẫn em đến nơi, thấy pho tượng còn ngập dưới sình liền kêu một thằng nhảy xuống lấy búa đục một miếng ở bệ của pho tượng mang lên xem thì thấy đúng là mảnh gạch của Phù Nam, liền đưa cho tụi nó 2 cây vàng, móc pho tượng lên. Pho tượng dính sình đen thui, lật đật cho vào bao bố chở đi ngay vì sợ công an xã đến làm khó dễ. Không dè về đến khách sạn, mang ra rửa thì thấy chỉ có cái bệ là tụi nó lấy gạch Phù Nam dán lại, còn pho tượng thì bằng đất nung mới làm. Em tức quá đập bể pho tượng luôn…” ĐHC cười thầm “gian hùng như Lạc “mả” mà còn có lúc bị lừa, đúng là y bị con ma đồng đen nó ám nên mới thành ra như vậy”.
Lạc “mả” nói tiếp: “trong lúc đi lang thang ở Chợ Mới, vô tình gặp được người này, nói chuyện với anh ta thấy câu chuyện cũng có vẻ rất thật nên dẫn về đây xem nhà bác có giúp gì được không”. Xem ra Lạc “mả” cùng đường nên tìm cách lôi ĐHC vào, nếu may thì tìm được đồng đen cho y, còn không thì cũng có cái để nói với đại ca T.B hòng thoát nạn. Người mà Lạc “mả” dẫn tới không phải người Việt mà là một nhà sư người Cao Miên, anh ta khoảng 23 – 24 tuổi, gốc là người Việt nên nói được tiếng Việt lõm bõm. Theo như lời kể thì vào khoảng  năm 79, khi bộ đội Việt Nam tiến qua giải phóng Campuchia thoát khỏi bọn diệt chủng PônPốt thì có một số người đi theo sau, thừa khi nước đục thả câu …..Ngôi chùa của anh ta lúc đó chỉ còn có mỗi sư trụ trì cũng đã già lắm rồi. Chùa chỉ là một ngôi chùa nhỏ nên chẳng có cái gì quý cả, chỉ có một pho tượng Phật nhỏ bằng vàng. Sư trụ trì cất giữ rất kỹ nhưng không hiểu vì sao bọn người kia biết được, chúng tìm được pho tượng, bắn chết sư trụ trì, mang pho tượng chạy đi trước khi dân làng và bộ đội Việt nam kịp đến. Pho tượng được mua đi bán lại,…. cuối cùng lọt vào tay bà Chín V, một bà trùm buôn bán vàng ở Châu Đốc. Bà Chín V là người Việt gốc Miên, là một phật tử rất sùng đạo, bà hay qua lại bên Miên nên thấy pho tượng thì nhận ra đây chính là pho tượng bị cướp ở ngôi chùa nhỏ, liền mang qua Miên, cúng dường trả lại cho chùa. Các sư ở chùa nhận lại được pho tượng thì mừng lắm. Sau bao nhiêu năm lưu lạc pho tượng linh thiêng lại trở về nơi đất Phật. Đúng là có Phật Tổ phù hộ. Nào ngờ Hia (Sư huynh) xem kỹ lại thì nói pho tượng tuy là đúng nhưng cái ruột bên trong đã bị mất rồi. Hia không chịu nói đó là cái gì, mà nói cần phải qua Việt Nam để tìm lại vật đó. Hia không biết nói tiếng Việt nên dẫn anh ta theo. Hai nguời nhờ một “Pi-âm”(cảnh sát Miên) dẫn đường qua Việt Nam. Sau đó lên Châu Đốc tìm bà Chín V nhưng bà ta đã đi Trung Quốc, phải mấy tháng nữa mới về. Hia (Sư huynh) nói anh ta tạm ở lại nhà bà Chín V, Hia đi khoảng vài ngày sẽ về, anh ta chờ mãi, chờ mãi….cả mấy tháng trời mà Hia cũng không về. Anh ta quyết định ra đi tìm Hia (Sư huynh), lang thang khắp nơi, hết vùng Châu Đốc,Tịnh Biên, Tri Tôn, Bảy núi….rồi tới Chợ Mới, Phú Tân, Tân Châu, Bác Đai,…. qua tận Hồng Ngự, Sa Đéc .v.v….cả hơn hai năm nay mà cũng chẳng tìm thấy Hia đâu, muốn trình báo công an Việt Nam thì lại sợ không ai tin, sẽ bị trục xuất về nước vì lúc qua hai người đi theo đường của những người đi buôn nên chẳng có giấy tờ gì. Lạc “mả” nói “nhà sư này kể rằng Hia của anh ta võ nghệ, pháp thuật rất cao, tại sao lại biến mất như vậy mà không nhắn nhủ gì lại ? Anh ta nhớ lúc còn nhỏ, thấy pho tượng có oai lực phi thường, những người bị trúng phải tà ma, bùa ngải mê man gì thì chỉ cần đến gần pho tượng là hết liền. Pho tượng để trong chùa thì không bao giờ có ma quỷ, âm hồn, chuột bọ, rắn rít dám bén mảng tới. Nhiều tay tà sư bùa ngải cao thâm thấy pho tượng thì rất sợ hãi, cao bay xa chạy.
Lạc “mả” nghi ngờ cái “cục nhưn” của pho tượng chính là đồng đen nên mới dẫn nhà sư theo. Y nói “Theo nhà em biết thì đồng đen khắc tà rất mạnh nên người xưa mới cho vào bên trong ruột tượng Phật, người nào bị trúng phải tà khí, bùa ngải, ma nhập v.v…chỉ cần đứng cạnh là hết liền chứ chưa cần phải cúng kiếng gì cả - đồng đen cứng vô cùng, lửa đến gần nó thì dạt ra, dùng búa tạ đập nó cũng không để lại dấu vết, nó chỉ to bằng đầu ngón tay cái nhưng nặng đến hàng mấy ký lô. Người xưa cho vào trong ruột tượng, pho tượng nhiều khi lại sơn đen nên nhiều người không biết nói là tượng đồng đen chứ thực ra chỉ có viên đồng đen nhỏ bên trong ruột thôi, nó cứng phi thường như vậy nên không thể khắc, đúc gì được”. Lạc “mả” kết luận nếu câu chuyện của nhà sư là thật thì có thể truy theo tung tích những kẻ cướp tượng ngày xưa biết đâu có thể tìm ra nó.
ĐHC không mặn mà gì cái chuyện đi tìm đồng đen ở An Giang của Lạc “mả”, chuyện này thật quá nguy hiểm. Vùng đất này rất nhiều pháp sư bùa ngải người Việt hoặc người Miên thuộc hàng cao thủ, lỡ gây thù chuốc oán với họ thì kể như tàn đời. Còn giáo phái Hòa Hảo có những vùng thuộc lãnh địa riêng của họ, người ngoài bất khả xâm phạm…. Các băng buôn lậu hàng hóa, vàng, vũ khí, ma túy đang hoành hành ở An Giang. Do đó công an hình sự và bộ đội biên phòng cũng càn quét rất rát, đi xuống vào thời điểm này e rằng “ An Giang đi dễ khó về”.
Tuy nhiên một sự việc bất ngờ ngoài ý muốn đã làm thay đổi mọi sự. Thấy nhà sư người Miên thần sắc rất u ám nên ĐHC khuyên anh ở đây nghỉ ngơi một thời gian. Dẫn anh ta đi xem trang trại, anh tỏ ra rất thích thú nhưng không nói gì nhiều. Được khoảng ba ngày thì chiều hôm đó, sau khi tắm xong, nhà sư lên tấm phản nằm rồi anh ta không bao giờ tỉnh dậy nữa. Cái chết đột tử của nhà sư người Miên đúng là một tai họa, anh ta chẳng có giấy tờ gì trong người, chỉ biết anh ta tên là Chau-Bona-Rutsa ….Ngôi chùa anh ta ở thuộc tỉnh Tà-keo. Đồ đạc của anh để lại cũng chỉ mấy bộ đồ cũ, bình bát và một cái xà-rông. May mà Đại gia N.K “tiền nhiều như nước trong nguồn chảy ra” lo liệu nên sau hơn một tháng mọi việc cũng êm xuôi, tạm thời chôn nhà sư trong trang trại, bao giờ tìm được ngôi chùa sẽ cải táng sau.
Cái chết kỳ bí của  nhà sư người Miên cần phải để tâm suy nghĩ, lúc chết miệng anh ta hơi rỉ nước đen, lòng bàn tay, bàn chân có ánh xanh xanh…..Khi ĐHC nói với Lạc “mả” rằng nhà sư bị trúng phải ngải độc mà chết thì thấy Lạc “mả” “mặt xanh nhớt như tàu lá chuối”, rõ ràng y có chuyện còn giấu, quan hệ của y và nhà sư không hẳn giản đơn như vậy. Nhưng nhà sư chết rồi, anh ta không thể nói ra được nữa. Bị trúng ngải độc thường là phải chết liền, nhà sư này còn sống được thêm cả năm mười ngày nữa chứng tỏ kẻ ra tay pháp thuật phải rất cao cường, đã đạt đến trình độ muốn người ta chết lúc nào là chết lúc đó. Phen này Lạc “mả” cõng rắn về nhà, không đi với y về An Giang thì cũng không được.

Chiều hôm đó, sau khi uống tuần rượu tạm biệt Đại gia N.K, ĐHC và Lạc “mả” lên đường. Đại gia N.K rất nhiệt tình, cho tài xế lấy “con” Camry đời mới đưa ĐHC và Lạc “mả” xuống An Giang. Trên đường đi, xe ghé ngang qua Sài Gòn hoa lệ, đường phố thật đông đúc và náo nhiệt, đến nhà hàng Bát Đạt tại Chợ Lớn vào khoảng 8h tối, ăn món “Súp bát bửu” để phục hồi khí lực. Từ khi nghe lý do cái chết của nhà sư, thần sắc Lạc “mả” xem ra “xuống màu” trông thấy. Y đi đứng nói năng không còn tự tin như trước, hai con mắt lúc nào cũng dáo dác, ngó trước ngó sau. Ngồi ăn tối mà Lạc “mả” cứ suy nghĩ đâu đâu, không còn họat bát như trước.
Đến bắc Vàm Cống thì đã hơn 2h sáng. Trên chuyến phà chỉ có xe của ĐHC và một vài người buôn gánh bán bưng nữa. Đêm trên dòng sông Hậu thật thanh bình, phẳng lặng. Làn gió thổi nhẹ nhàng, mát rượi, sóng nước lăn tăn gợi nhớ về những ngày quá khứ...
Còn nữa
(Đại Hồng Cát- Nguồn: hoangthantai.com)