Thứ Tư, 29 tháng 9, 2010

Cảnh Hà Nội qua những mảnh ghép thời gian

"Sau 1000 năm, Thăng Long - Hà Nội còn bao dấu tích? có khi nào bạn hỏi cái này có từ bao giờ, ngày xưa có khác gì không?", xuất phát từ câu hỏi này, độc giả Vũ Mạnh Hùng đã táo bạo thực hiện một dự án ảnh để dự thi Hà Nội của tôi.
"Tôi thực hiện bộ ảnh này cùng bạn bè. Chúng tôi cùng nhau chụp lại những hình ảnh của Hà Nội hiện đại rồi dùng ứng dụng máy tính ghép với hình ảnh xưa cũ từng được chụp ở đúng góc đó", anh Hùng cho biết. "Đây được coi như là bộ ảnh để chào mừng thủ đô Hà Nội nghìn năm tuổi của chúng tôi".
Cuộc thi ảnh Hà Nội của tôi đã đi đến những ngày nhận ảnh cuối cùng. Trong số hàng trăm bộ ảnh được các độc giả gửi về chương trình, có khoảng 260 bộ, tương đương với hơn 1.000 tấm ảnh được chọn lọc để gửi đến ban giám khảo. Cuộc thi vẫn tiếp tục nhận ảnh tham dự của độc giả đến hết ngày 2/10/2010. Đến ngày 5/10, danh sách top 30 ảnh có cơ hội nhận giải sẽ được ban giám khảo công bố. Lễ trao giải diễn ra ngày 12/10 tại tòa soạn Zing News ở Hà Nội.
Tổng giá trị giải thưởng của cuộc thi là 16 triệu đồng, trong đó người đoạt giải nhất sẽ nhận được 6 triệu, giải nhì 4 triệu, giải ba 2 triệu và 2 giải khuyến khích.
Bộ ảnh Hà Nội qua những mảnh ghép thời gian của Vũ Mạnh Hùng
(xem ảnh cỡ lớn tại đây)
Cảnh Hà Nội qua những mảnh ghép thời gian
Bưu điện Hà Nội.
Cảnh Hà Nội qua những mảnh ghép thời gian
Cầu Long Biên
Cảnh Hà Nội qua những mảnh ghép thời gian
Cầu Thê Húc.

NHỤC QUÁ! GIỮA THỦ ĐÔ MÌNH MÀ NÓ BẢO MÌNH LÀ KHÁCH




Trên đây là hình ảnh cổng chùa Vân Hồ (tên chữ là Linh Thông tự), nằm trên đường Lê Đại Hành.
Ngôi chùa mới được trùng tu lớn trong thời gian gần đây.
Cổng chùa có những mái cong rất Việt Nam, trông tựa như cổng chùa Kim Liên ở quận Tây Hồ.




Cổng chùa có biển ghi: Chùa Vân Hồ - di tích lịch sử văn hóa, cấm vi phạm.
Có một cặp sư tử đá, kiểu Tàu đứng chầu ở cửa. Hai cửa phụ ở hai bên đề chữ Tả nghi, Hữu nghi - những chữ thường thấy ở các đền.

Thứ Ba, 28 tháng 9, 2010

Trả "Đường đến thành Thăng Long "về đúng vị trí tầm phào của nó!

Tra Duong den thanh Thang Long ve dung vi tri tam phao cua no!SGTT.VN - Trong những ngày này, bộ phim Đường đến thành Thăng Long nhận được không ít chỉ trích. Dù đã nhân danh là phim phục vụ đại lễ, bào chữa bằng yếu kém của hạ tầng điện ảnh nước nhà, thậm chí viện dẫn các khái niệm “giao thoa”, “tiếp biến văn hoá” nhưng bộ phim này vẫn khó có thể được công chúng chào đón như một sản phẩm cung tiến cha ông. Vì sao?
Người Việt đã bị nhiều dân tộc đô hộ, xâm lược. Với bản tính hiếu hoà, số đông người Việt ngay dưới thời bị cai trị, vẫn đón nhận điểm sáng văn minh của chính quốc gia cai trị mình để biến nó thành vốn liếng và di sản dân tộc. Chữ quốc ngữ, trường Viễn Đông Bác cổ, đại học Y khoa Đông dương, chiếc áo dài của hoạ sĩ Lê Phổ… là những minh hoạ điển hình cho sự cầu học không hề hẹp hòi của người Việt. Nhưng với văn hoá Trung Hoa, thì không được như thế!
Trong một bài phỏng vấn mới đây, học giả Hữu Ngọc có đề cập đến một khái niệm do UNESCO đề xướng và nhấn mạnh: “tiếp biến văn hoá” (acculturation). Theo Hữu Ngọc, tiếp biến văn hoá xảy ra “khi hai nền văn hoá gặp nhau, mỗi nền văn hoá sẽ mất đi một ít và thu về một ít để tạo ra cái mới”. Nhưng định nghĩa về tiếp biến văn hoá của UNESCO, một vấn đề muôn thuở, không thể áp dụng cho văn minh Trung Hoa khi tiếp cận với văn hoá Việt. Ngoài công khai hoá về nông nghiệp của Sĩ Nhiếp, nền cai trị của người Trung Hoa hơn ngàn năm trên đất nước của chúng ta có thể tóm gọn vào hai chữ: áp đặt và đồng hoá. Nền văn hoá ngạo mạn ấy chỉ muốn lấy đi mà không trao tặng, loại trừ tất cả các giá trị không giống mình, sẵn sàng miệt thị đất nước văn hiến của chúng ta là bọn “Nam man”. Cũng chính những kẻ cai trị ấy thẳng tay đốt kinh sách, huỷ diệt không thương tiếc những tàng thư văn hoá của đất nước này. Chính những kẻ kiêu ngạo và cực kỳ tham lam ấy bắt các vua chúa Việt Nam tiến cống nho sĩ, nghệ nhân, mỹ nữ… sang Trung Quốc, thay vì để cho các giá trị văn hoá sống động, những bộ gene ưu việt ấy triển nở ngay trên chính quê hương của họ. Cuộc cai trị của người Hoa trên đất nước chúng ta đầy hung hãn và áp đặt. Và rất ít tính khai sáng, như nó vẫn đồng hành với mọi cuộc xâm lăng từ một nền văn minh khác.

Một số ảnh Tháp Chàm Bình Định

Tặng các Bạn 1 số ảnh Tháp Chàm Bình Định để thư giãn chút.




Tháp Cánh Tiên - Ảnh : Đào Tiến Dật



Tháp Dương Long - Ảnh : Đào Tiến Dật



Tháp Phú Lộc - Ảnh : Đào Tiến Dật

Thứ Hai, 27 tháng 9, 2010

Kỳ diệu, linh ứng đêm khai quang Đại Phật tượng núi Phật Tích

Dường như trời đất cũng linh ứng trong lễ khai quang Đại Phật tượng trên núi Phật Tích (Tiên Du, Bắc Ninh) Buổi chiều ngày 25 tháng 9, mặc dù ở Hà Nội mưa rất to, nhưng núi Phật Tích trời vẫn trong xanh, chỉ có những đám mây cuối trời vần vũ như chư Thiên cùng hộ trì.

Khi trời bắt đầu tối, thì mây cũng dồn về nhiều hơn, rồi sấm chớp nổi lên, ánh sáng rực cả bầu trời, và trên đỉnh núi, Đại Phật tượng cũng sáng rực rỡ. Trước giờ hành trì đại lễ gió thổi mạnh, mây vần vũ, sấm chớp cùng vang động. Ai cũng lo trời mưa, nhưng kỳ lạ thay, không có giọt mưa nào rơi xuống.

Và lạ kỳ hơn nữa, khi bài chú Đại Bi đà la ni được vang lên vang động giữa đất trời, thì sấm chớp ngừng hẳn. Đặc biệt, khi chư tăng đang trì chú, thì bỗng nhiên phía sau Đại Phật tượng, mây tan đi, để lộ ra vầng trăng vằng vặc giữa trời. Tiếng chú vang lên thì ánh trăng càng sáng tỏ.

Khi trì chú và hồi hướng dần kết thúc, thì mây trở lại, trăng mờ dần đi. Và cuối cùng, khi buổi lễ của chư tăng kết thúc, trời bắt đầu mưa xuống trên núi Phật Tích. Dường như trời đất linh ứng, hòa cùng chúng sinh trong đêm thiêng liêng này.
Phattuvietnam.net xin giới thiệu một số hình ảnh:

Thứ Bảy, 25 tháng 9, 2010

LỜI NGUYỀN TRÊN CÁC KHO BÁU CHĂM -Phần 2

Tháng 4.1997 nghe tin có người rà được một khối lượng lớn vàng bạc của huyện Phù Cát (Bình Định) lập tức chúng tôi tìm hiểu và được Thế Hà, một đồng nghiệp ở Đài Truyền thanh huyện cho biết: “Ngày 5.4.1997 anh Trần Văn An - người ở xã Cát Tân khi rà sắt để tìm phế liệu tại thôn Hưng Mỹ thuộc xã Cát Hưng đã phát hiện một hũ bằng đồng chứa nhiều đổ cổ (chén đĩa bằng vàng và bạc)... reo mừng vì sự giàu có bất ngờ An đã ôm chiếc hũ chạy đi mất. Những người đang làm cỏ mía quanh đó vội ùa lại và hợp sức khoét rộng cái hố, đào sâu hơn và vận may đã mỉm cười với họ. Ở độ sâu hơn 1,5m nhóm người này đã tìm thấy một hũ lớn bằng sành bên trong chứa nhiều vật dụng bằng vàng như bình đựng, đĩa, tô chén, một số khác trông như đồ trang sức với khối lượng ước tính khoảng 3kg. Những người này đã dùng rựa để chia đều số vàng này ra. Những gì mà ông An và nhóm người kia khai quật được nếu tính theo giá trị của vàng ước được 400 triệu đồng. Nhận được tin Công an Phù Cát đã tìm cách thu hồi, nhưng kết quả chỉ được 1 hũ, 6 bình đựng, 9 đĩa và vẻn vẹn có 5 lạng vàng...”


Chum Gò Sành (cao 70cm)
Phù điêu tượng thần Brahma

ự kiện này đã gieo vào những người chuyên rà tìm phế liệu giấc mộng tìm thấy kho báu của người Hời. Nhưng cứ như một trò cút bắt bí hiểm, hàng trăm nhóm với nhiều máy dò tìm kim loại chia nhau rà nát những cánh rừng, đồng ruộng, ven sông... nhưng “vàng Hời” vẫn im lặng không chịu lên tiếng. Khi nhiều nhóm chán nản bỏ cuộc thì cuối tháng 10.1997 ông Lê Văn An (trú ở thôn Phú Thọ, xã Tây Phú, huyện Tây Sơn) cùng một người đàn ông tên Liêm gốc gác ở Thanh Hóa đã gây chấn động khi khai quật được một số lượng lớn cổ vật bằng vàng.

Thứ Sáu, 24 tháng 9, 2010

LỜI NGUYỀN TRÊN CÁC KHO BÁU CHĂM -Phần 1

Những tượng cổ, kho vàng, báu vật của dân tộc Chăm luôn luôn là mơ ước của những người săn lùng cổ vật. Cơn sốt săn tìm báu vật, vàng Chăm đã bắt đầu từ mấy thế kỷ trước, đặc biệt là trên vùng kinh đô Vijaya (tức Bình Định ngày nay) và hạ nhiệt từ rất lâu, nhưng dứt hẳn thì chưa bao giờ. Chúng âm ỉ mãi cho đến nay với những huyền thoại hư ảo nhưng hấp dẫn.

Theo nhiều tư liệu khoa học, lịch sử thì người Pháp chính là những người đầu tiên phát hiện và đánh giá tầm vóc của văn hóa Chăm. Cũng chính họ là những người đầu tiên săn tìm, khai quật, vét cạn những cổ vật Chăm quý giá.

Năm 1886 gần 80 tấn đá chạm, phù điêu, tượng cổ các loại... đã được các chuyên gia Pháp gom lại từ Tháp Bánh Ít (tức Tháp Bạc theo cách gọi của người Pháp) để chuyển về Bảo tàng Lyon bằng tàu Mekong dưới sự giám sát của Tiến sĩ Maurice.

Trên đường vận chuyển, đến Hồng Hải, không rõ vì lý do gì con tàu này bị đắm. Những thổ dân Somalia nghĩ rằng đây là con tàu chở vàng bạc châu báu nhưng họ đã thất vọng khi những chiếc hòm vớt được chỉ có đá và đá... Sau này người ta không sao tìm lại được những thùng cổ vậy ấy và một bí mật bao trùm lên con tàu Mekong bởi hồ sơ con tàu, danh sách hàng hóa cũng bị thất lạc. [ít lâu sau khi phóng sự này đăng trên Thế giới Mới, có người cung cấp cho mình thông tin về con tàu này, đổi lại là mình copy dù người ta hai cuốn sách ở Thư viện Bình Định. Sở dĩ có việc này là vì những cuốn sách được bảo vệ rất kỹ. Mình "phô" được là vì có quan hệ riêng, và trước đó có tặng cho Thư viện phó bản môt cuốn sách mà thư viện tìm đã lâu mà không thấy].
Phù điêu tượng nũ thần Mahisamandhi - niên đại thế kỷ XII. Hiện vật này đã được tỉnh Bình Định đề nghị công nhận là bảo vật quốc gia. Năm 2005 nó đã được Nhà nước Việt Nam cho Bảo tàng Dân tộc học Vương quốc Bỉ mượn để trưng bày. Riêng chi phí để mua bảo hiểm của nó không thông thôi đã là 50.000 USD.

Thứ Năm, 23 tháng 9, 2010

Muôn Ma Hời sờ soạn dắt nhau đi


Miền trung nơi mà xưa kia là thủ đô của người Chăm pa rải dài từ Đà Nẵng cho đến Bình thuận. Chả biết vô tình hay hữu ý mà bây giờ dự báo thời tiết trên VTV luôn gộp lại 1 dải từ Đà Nẵng đến Bình Thuận như vố tình nhắc lại 1 thời vang bóng của 1 vương quốc mà vết tích để lại không phải là nhỏ. Những tháp Chàm lững lững chỉ vào trời xanh tồn tại qua bao cuộc bể dâu của đât nước và ghi dấu ấn vào nền văn hóa nhận loại qua chứng chỉ UNESCO như là bằng chứng công nhận 1 nền văn minh rực rỡ của Châu Á bị biến mất
Huyền lực của 1 nền văn hóa bị biến mất vẫn tồn tại trong dân gian qua những truyền thuyết, huyền thoại và thậm chí ghi dấu ấn phi vật thể lên rất nhiều thứ theo thời gian. Ví như bút danh Chế Lan Viên của nhà thơ Phan Ngọc Hoan được hình thành qua những cảm nhận hoài niệm về 1 nền văn hóa Chăm Pa tại Bình Định. Có lẽ Chế Lan Viên đã ngoại cảm được huyền lực Chăm Pa đến nỗi ông lấy bút danh họ Chế ( Tưởng nhớ về  Chế Bồng Nga, hay Che Bonguar, (tên thật là Po Binasor hay Po Bhinethuor) là niên hiệu của vị vua thuộc vương triều thứ 12 của nhà nước Chiêm Thành. Trong thời kỳ ông cầm quyền, nhà nước Chiêm Thành rất hùng mạnh, từng đem quân nhiều lần xâm phạm Đại Việt của nhà Trần. Không rõ ngày tháng năm sinh cũng như ngày tháng mất của ông, chỉ biết rằng ông bị giết năm 1390 khi đang đem quân tấn công Thăng Long lần thứ 4.) và viết những vần thơ ngoại cảm :
 
Đây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn,
Muôn Ma Hời sờ soạn dắt nhau đi.
Những rừng thẳm bóng chiều lan hỗn độn,
Lừng hương đưa, rộn rã tiếng từ quy.

 
Tôi vốn dĩ là người miền trung, sống cạnh những tháp Chàm. Tôi cũng bị ám ảnh rất nhiều từ câu thơ
Muôn ma Hời sờ soạn dắt nhau đi
Vậy ma Hời là ma gì, xin trích tư liệu nghiên cứu của Nguyễn Trọng:
Ma Hời là hồn ma của ai?
Trước khi tìm hiểu về Ma Hời mà rất ít sử liệu đề cập tới, chúng tôi muốn nói về từ ngữ Hời bởi đâu mà ra. Theo ông Nguyễn văn Huy, một nhà nghiên cứu công phu về Chiêm Thành thì từ ngữ Hời xuất phát từ ngôn ngữ Chàm: “Danh xưng Hời rất ít được nhắc đến, người ta chỉ thấy chữ này xuất hiện một vài lần trong tập thơ Điêu Tàn năm 1937, của Chế Lan Viên. Hời là cách đọc trại đi từ chữ Hroi (H’roi hay Ho Roi), tên của một bộ lạc sơn cước sinh sống trên vùng rừng núi phía Tây các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ( Chế Lan Viên sinh quán tại Bình Định). Người Hời thực ra cũng là người Champa, vì trước kia là thần dân của vương quốc Chiêm Thành di cư đi tận lên Tây Nguyên tránh loạn rồi định cư luôn ở đấy, họ vẫn còn giữ ngôn ngữ và một số phong tục tập quán của người Chàm đồng bằng trong những sinh hoạt thường nhật”.
Trong cuốn “Linh Địa Trà Kiệu”, ông Lê Công Đắc, sinh quán tại đây, đã viết nhiều về Ma Hời và Thành Hời. Ma Hời ở đây, như đã nói ở trên, là Ma Chàm. Còn Thành Hời tức là thành Trà Kiệu, tiếng Chàm là Sinhapura, đế đô của vương quốc Chàm trong nhiều thế kỷ, cho đến giữa thế kỷ VIII thì dời về Ninh Thuận, rồi Quảng Nam, và sau cùng là Trà Bàn Vijaya ở Bình Định. Trà Bàn là nói toàn vùng tỉnh Bình Định ngày nay, còn Đồ Bàn là kinh đô, nói theo tài liệu của một vài nhà khảo cổ ngoại quốc.
 
Năm 1471, kinh đô Đồ Bàn bị thất bại và tàn phá khi vua Lê Thánh Tôn đem quân chinh phạt Chiêm Thành, theo bài của ông Nguyễn Đức Hiệp ngày 4/12/04 phổ biến trên Internet. Theo ông này thì nhà vua đã dùng chính sách phá huỷ văn hóa để tiêu diệt dân tộc Chiêm Thành và năng lực tinh thần nước Chàm: đền đài, cung điện, tháp, bia ký, tư liệu phản ảnh đặc trưng của văn hoá Chàm đều bị phá huỷ, quân nhân và nghệ nhân bị tàn sát hay bị bắt đi. Có tài liệu khác lại nói rằng vua Lê Thánh Tông đã đem một đoàn thuyền và lục quân hùng mạnh đánh Vijaya. Sau khi chiếm được, nhà vua Lê Thánh Tông ra lệnh phá huỷ thành Đồ Bàn, giết hơn bốn chục ngàn quân Chàm và bắt đưa về Thăng Long hơn ba chục ngàn tù binh, trong đó có nhiều cung nữ biết ca hát và nhảy múa. Thời điểm này chưa phải là ngày vương quốc Chiêm Thành bị tiêu diệt hoàn toàn, biến mất trên lãnh thổ duyên hải miền Trung. Những cuộc nổi dậy và đánh phá lẻ tẻ của vương quốc Chàm bị thu hẹp còn kéo dài cho mãi tới năm 1692 thì Chúa Nguyễn đã đại thắng, đổi tên nước Chiêm Thành là Trấn Thuận Thành, gồm có Phan Rang, Phố Hải và Phan Rí. Trấn ngày xưa rộng như một tỉnh bây giờ.
...

HUYỀN THOẠI VỀ KHO BÁU CHĂM Ở THÁP CỔ BÌNH ĐỊNH

Vương quốc Chămpa (192-1822) đã sáng tạo ra một nền văn hóa độc đáo, mang đậm sắc thái riêng biệt. Đến nay, tỉnh Bình Định đã phát hiện khoảng 117 cổ vật thời Chămpa và 414 sản phẩm làm bằng gốm cổ thuộc nhiều giai đoạn khác nhau. Đáng chú ý là kỹ thuật xây dựng tháp Chàm - một trong những đề tài được đưa ra khảo luận khoa học...

Bí ẩn của tháp Chàm

Theo Viện Khảo cổ học Việt Nam, di tích văn hóa Chăm được phân bổ đều khắp trên dải đất các tỉnh duyên hải miền Trung, từ vĩ tuyến 11 đến 18, từ Quảng Bình vào đến Bình Thuận. ở Tây nguyên, các di tích Chăm cũng xuất hiện rải rác ở các địa phương như: Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Lâm Đồng. Bình Định xưa kia từng là kinh đô của Vương quốc Chăm, hiện ở đây vẫn còn lưu lại 14 ngôi tháp cổ. Những cuộc khai quật tự phát của cư dân đã tìm thấy nhiều di vật cổ có giá trị như buồng cau, lá trầu, những vật thờ cúng bằng vàng... nằm sâu dưới lòng đất từ cả ngàn năm nay. Bình Định thuộc vùng Vijava từ thế kỷ X đến XV, từng là kinh đô của Chămpa (1000-1471). Cùng với thành Chà Bàn, hàng loạt công trình tôn giáo cũng đã được xây dựng ở đây. Khác với di tích Chăm ở Quảng Nam rất tập trung, các di tích ở Bình Định lại được xây dựng rải rác khắp nơi. Hiện có 14 công trình kiến trúc tập trung tại 8 địa danh: Bánh ít, Dương Long, Hưng Thạnh, Cánh Tiên, Phú Lốc, Phú Thiện, Bình Lâm và Hòn Chuông. Ngoài ra, còn có 4 tòa thành cổ gồm Thị Nại, Đồ Bàn, An Thành, Uất Trì và hàng loạt tác phẩm điêu khắc - những phế tích của tháp Chàm như giếng cổ hình vuông, rắn Naga, trụ văn bia, tượng thần điểu Garuđa, phù điêu Lăng Ông, tượng tu sĩ, khu mộ cổ... đều được phát hiện tại Bình Định. Trong tất cả các cổ vật phát hiện được, đáng chú ý là di vật tượng tu sĩ ở chùa Linh Sơn thuộc thôn Hải Giang, xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn. Những cư dân ở đây trong khi canh tác đã phát hiện bức tượng chôn sâu dưới lòng đất và đã đào lên đem hiến cho chùa. Dân địa phương gọi là chùa Phật Lồi. ở Quy Nhơn, hiện vẫn còn dấu vết các lăng mộ cổ của người Chăm tại xã đảo Nhơn Châu. Lịch sử Vương quốc Chămpa từ thời hoàng kim đến lúc suy vong đã lưu lại cho hậu thế hàng chục ngôi tháp cổ với những kiểu kiến trúc, chạm trổ độc đáo, bí hiểm. Ở khu vực duyên hải miền Trung hiện có trên 19 khu tháp với hơn 40 ngôi tháp cổ lớn nhỏ.

BÍ MẬT CỦA MỘT CÂU KINH PHẬT


Vừa rồi, chúng tôi, những người bạn chí thân từ thời còn đi học ở Việt Nam trước 1975, rủ nhau qua Canada thăm mấy ông bạn khác. Chúng tôi đến thành phố Montreal vào mùa hè nên không lạnh lắm. Ở Mỹ hay Canada, nhà cửa, cách sinh hoạt không khác nhau mấy. Và việc đi thăm bạn bè thì cũng chẳng có gì đáng kể ra đây nếu không có một câu chuyện, mà nếu bạn nghe được, chắc cũng sẽ ngạc nhiên, đặt nhiều câu hỏi.

Chuyện hơi dài dòng, xin bạn kiên nhẫn.

Chúng tôi gồm ba cặp vợ chồng, được gia đình người bạn tiếp đón rất thân tình. Ông ta còn gọi các bạn khác ở gần đó, kéo đến, nên buổi họp mặt thật đông vui.

Khi bữa cơm gia đình đã mãn, các bà lo dọn dẹp chén bát để pha trà và các ông đang chuyện trò sôi nổi, thì ông bạn chủ nhà đổi đề tài: “Có một chuyện thực, xảy ra ở Việt Nam, khoảng năm 1982. Một chuyện kỳ lạ mà bà chị tôi vừa là người trong cuộc vừa là nhân chứng. Lúc còn ở Việt Nam, chị tôi dấu kín vì sợ đến tai công an thì sẽ bị tra hỏi, có thể bị tù cũng nên. Nay chị tôi đến xứ tự do, sẽ kể thoải mái. Trong câu chuyện, có gì thắc mắc, xin cứ hỏi chị tôi”.

Người chị của chủ nhà, đang ngồi với các bà, được yêu cầu kể chuyện. Chị ta xin phép vài phút để lên lầu, lát sau đi xuống, tay cầm một phong bì đặt trước mặt và bắt đầu kể. Mọi người yên lặng, lắng nghe.

- “Gia đình tôi, sau bảy lăm (1975), chỉ còn đàn bà vì đàn ông đều vô tù cải tạo hết cả. Khoảng năm tám mươi (1980), chúng tôi được móc nối để vượt biên nhưng vẫn phải chờ ít nhất một người đàn ông đi tù cải tạo về mới quyết định được. Năm đó, cậu em tôi được thả về, chúng tôi báo cho người tổ chức, họ bảo, có một chuyến, phải đi ngay. Từ Sài Gòn chúng tôi đón xe về Cà Mau dự đám cưới. Đám cưới thật nhưng ăn cưới chỉ là cái cớ. Dân địa phương thấy người lạ từ Sài Gòn về ăn cưới thì biết ngay, nhưng rình bắt là công việc của công an. Thế nên, ai cũng chờ đợi màn thứ hai là khuya nay, công an sẽ phục ở bãi đáp để tóm gọn quí vị quan khách nầy. Trò nầy xảy ra thường xuyên, nhưng họ không biết rằng vụ vượt biên nầy lại do chính công an địa phương đứng ra tổ chức, nên tối đó quí vị công an với các viên chức xã ấp có nhiệm vụ phải nốc rượu cho thật say, để sáng ra, ai cũng không biết gì cả!

Khuya đó, chúng tôi bị gọi dậy, cấp tốc lên đường. Từ nhà ra biển chỉ vài cây số. Trời quá tối. Chúng tôi âm thầm theo người trước mặt, đi vòng vèo trên các con đường đất. Trong bóng đêm tối đen, thỉnh thoảng, bên đường lại có một toán chui ra nhập bọn, tôi đoán, cả đoàn chúng tôi, ít ra cũng hơn trăm người. Mặc dù đã được dặn trước là khi xuống thuyền phải tuyệt đối yên lặng và trật tự, không được chen lấn cãi cọ, nhưng khi thấy mấy chiếc tắc xi (thuyền nhỏ đưa ra thuyền lớn), người ta ùa nhau lội xuống nước, tranh nhau leo lên thuyền. Cậu em tôi đi trước, tay bồng hai đứa con, vợ nó níu lưng đi sau, tôi níu áo cô ta để khỏi lạc nhau. Chỗ bãi đó toàn sình, ngập đến đầu gối khiến ai nấy bì bõm mãi mà chưa đến thuyền. Cậu em tôi phải kéo hai người đàn bà chúng tôi phía sau nên càng vướng víu, chậm chạp. Mọi người như những bóng ma âm thầm, chen nhau leo lên thuyền.
Khi cậu em tôi bỏ được hai đứa nhỏ lên thuyền, đẩy được vợ nó lên, đến lượt tôi thì bỗng có tiếng súng, tiếng la hét:

Thứ Tư, 22 tháng 9, 2010

BÍ THUẬT TAM MẬT TRONG PHONG THŨY TÂY TẠNG BALACK SECT


Bí thuật Tam Mật của trường phái Black sect của các nhà phong thủy Tây Tạng được xem là có tác dụng hữ hiệu nhất mặc dầu cho tới nay chưa ai giải thích rõ tại sao. Trong phép Tam Mật tựu trung là sự hài hào điều Khí cho môi trường và cơ thể - Nếu Khí yếu thì có khả năng giúp tăng cường. Nếu mạnh thì giảm Khí.

Bí thuật này hồm ba yếu tố chính là cơ thể , bọ óc hay tâm hồn và năng lực siêu nhiên. Vế cơ thể chính thì chúng ta có thể xử dụng đôi bàn tay bắt ấn để vận Khí. Về bộ óc , tâm hồn là làm cho có thể thấy , nhận biết hay gợi lại , tăng cường ý chí quyết tâm đạt điều ước muốn. Riêng phần năng lực siêu nhiên thì sẽ được hỗ trợ bằng cách cầu nguyện , đọc mật chú , dùng Mantra

Chính vì lẽ đó mà đôi khi ta bắt gặp trong phong thủy có một số phương thức nhuốm màu sắc huyền bí siêu linh. và dĩ nhiên trải qua bao nghìn năm lưu truyền đã có một số bị thất truyền hay lại trở thành tam sao thất bản làm phát sinh những hình thái đấy sai lạc và mê tín khiến phong thủy bị hiểu sai lạc. Vấn đề luyện công , thiền định , tập tỉnh tâm , tập điều khí hay thay đổi vị trí đồ vật , gắn gương soi , treo thủy tinh cầu , troòng cây xanh ở chỗ này , đăt bồn phu nước ở chỗ kia , di chuyển cái giường hay bàn làm việc tới vị trí thích ứng nào đó đều thược vào bí thuật của phép tam mật cả. ta thử lần lượt tìm hiểu sơ lược Bí thuật Tam mật :

TÁC ĐỘNG TỪ CƠ THỂ BÀN TAY
DÙNG BÀN TAY VÀ NGÓN TAY XUA TAN ÁC KHÍ

Giữ tâm bình yên không xao động. Hít Khí vào từ từ , đưa cánh tay ra trước. Ngón Út và Trỏ hướng tới trước trong khi hai ngón giữa và ngón đeo nhẫn co vào tâm lòng bàn tay , để ngón cái áp lên hai ngón đó

 Từ tình trạng trên , hãy búng hai ngón tay co ra. mỗi lần búng như vậy là một lần xua đuổi tà khí , sự tai biến nguy khốn. Nếu thưc hiện với tâm trạng tự tin , tuyệt đối nghĩ tới đấng tối cao Phật hay Chúa hay vị Thàn Linh , vị Giáo chủ tôn giáo nào mà mình tôn sùng và nhận năng lực mạnh mẽ từ người thì không những trục đi những thứ xấu xa trở ngại cũng như Âm Khí mà còn giữ lại được Dương Khí. Những người đã từng luyện công , khi thực hành bí quyết này cón có khả năng thấy thứ ánh sáng siêu đẳng phóng tỏa từ các ngón tay bung ra. Những nhà Phong Thủy trường phái Balack Sect gọi ánh sáng đó là Phật Quang .

Chuyện kì lạ ở Ả Rập: Bé gái khóc ra 'thủy tinh'


Không được đến trường, bị từ chối chữa bệnh vì không có tiền. Fatima, cô bé 10 tuổi đang rất đau khổ với căn bệnh lạ của mình, những giọt nước chảy ra từ mắt em luôn bị cứng lại thành những viên đá nhỏ như thủy tinh.

Hiện Fatima đang sống cùng gia đình tại Ajman, thuộc các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất.
Bố của em, ông Mohmmad Zafar đã đưa em đi kiểm tra mắt tại một bệnh viện ở thành phố Sharjah, ông hy vọng các bác sĩ có thể giúp ông tìm ra nguyên nhân của căn bệnh lạ kỳ này. 
Nhưng ông đã bị từ chối, vì không có đủ số tiền phí 250 dirham (khoảng 30 USD), số tiền đủ để ông được gặp bác sĩ.
Ông nói “Tôi bị thất nghiệp từ tháng hai đến nay. Chúng tôi không có thẻ y tế, vì vậy, các bệnh viện từ chối khám cho con gái của tôi".
Tuy nhiên, ông Zafar vẫn rất lo lắng cho đôi mắt của con gái mình, một lần nữa ông lại đưa con quay trở lại bệnh viện.

Thứ Ba, 21 tháng 9, 2010

Tức cảnh Trung thu

Ở Phố
Tiết Trung thu
Con nít tung tăng tàu vũ trụ
người máy, đèn lồng khắp phố
Người lớn hả hê
mang quà bánh về nhà.

Nơi Quê,
Con trẻ dìm trăng trong chậu,
Nhông nhông cầm sao cưỡi gió
khắp xóm cùng làng.

Omanizen
(Trung thu Canh dần)

"Bí ẩn" tấm ảnh chụp được quá khứ

Nhiều người chỉ dùng một “quy trình” cực kỳ đơn giản là: Ông ấy nói - tôi tin – tôi tin vì ông (bà) ấy là người tử tế.
LTS: Khác với những trào lưu văn hóa khác, cái sai cái đúng dễ bộc lộ sau chiều dài thời gian và những nghiên cứu, xem xét của những nhà khoa học, lĩnh vực tạm gọi là “tâm linh” không phải một chủng loại khoa học dễ phổ biến, dễ nghiên cứu, trắc nghiệm nhưng nó lại vô cùng dễ phổ cập vào đời sống cộng đồng.
 
Vì vậy, khoảng trống nó tạo ra giữa những giá trị thực của những bậc cao nhân đã ngộ chứng, đã tích tụ và hóa giải được những thông điệp của vũ trụ, của tinh thần con người với một đám “thần dân” không nhỏ thuộc dạng “ăn theo” đang làm vẩn đục cuộc sống.
 
Loạt bài viết này, bằng cái nhìn báo chí, cố gắng soi rọi vào nhiều chiều tri thức, về trạng thái “cận duy tâm” mà nó tạo ra ít nhiều tác hại cho cuộc sống.
 
Những chuyện thánh thần
 
Năm 1994 tôi về công tác tại xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất, Đồng Nai. Khi có thì giờ rảnh rỗi thường chụp ảnh cho bà con để làm thân và tăng thu nhập. Một sự cố rất hy hữu và khó hiểu đã xảy ra.
 
Nhà kia sau khi nhận tấm ảnh tôi trả, khen ảnh đẹp, trả tiền xong tình cờ họ phát hiện ra trong tấm ảnh, đằng sau hình ảnh thật của người chụp khá sắc nét, là một hình mặt người lờ mờ, rất khó nhìn rõ nét nhưng trăm phần có thực.
 
Gia đình này có hai luồng ý kiến. Cụ bà hơn bảy chục tuổi thì quả quyết đó là hình bóng cụ nội bên ngoại, khi bà còn là đứa trẻ 5 tuổi, có gặp cụ đôi lần và được cụ rất quý mến.
 
Bí ẩn từ những bức ảnh chụp
 
Anh con trai cả, là một nghệ sỹ xiếc mới nghỉ hưu thì lại đoán chắc là ông bác bên nội, ông này khẳng định cái cằm vuông, gương mặt không dài chắc chắn là ông bác đã hy sinh nay hiện về.

Hội thảo “Vương triều Mạc trong lịch sử Việt Nam”

 
 Góc hội thảo
(ĐCSVN)-
Nhân dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, ngày 21/9, tại Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn khu di tích Cổ Loa - Thành Cổ Hà Nội phối hợp với Hội Sử học Hà Nội tổ chức Hội thảo khoa học “Vương triều Mạc trong lịch sử Việt Nam”.

Báo cáo đề dẫn tại Hội thảo, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn khu di tích Cổ Loa - Thành Cổ Hà Nội, TS Nguyễn Văn Sơn nêu rõ: Trong các bộ chính sử thời phong kiến của nước ta như “Đại Việt sử ký toàn thư” thời Lê - Trịnh và “Việt sử thông giám cương mục” thời Nguyễn cũng như quan niệm của các sử gia đương thời trước thập kỷ 70 của thế kỷ XX thường coi triều Mạc là nguỵ triều, là nghịch thần. Nhưng từ những năm 1980 trở đi, giới sử học nước nhà đã có cái nhìn cởi mở hơn, đánh giá đúng hơn về triều Mạc. Nhiều cuộc hội thảo khoa học sau này đã có những đánh giá mang tính khoa học, khách quan về những đóng góp của nhà Mạc trong lịch sử nước nhà. Đặc biệt cuộc hội thảo khoa học năm 1994, tại Hải Phòng - quê hương của nhà Mạc đã khẳng định: nguồn gốc nhà Mạc khởi nguồn từ Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi thời Trần. Nhà Mạc thay nhà Lê là hiện tượng tiến bộ trong lịch sử. Tuy còn nhiều tranh cãi về chính sách ngoại giao “thần phục giả vờ, độc lập thực sự” của Nhà Mạc nhưng nhiều ý kiến cho rằng trong bối cảnh thù trong gặc ngoài, nhà Mạc đã dùng chính sách ngoại giao như vậy để tránh cho dân tộc bị nước ngoài xâm lược cũng có thể coi là thành công, từ đó có cái nhìn thông cảm hơn với những công và tội của nhà Mạc.

Thứ Hai, 20 tháng 9, 2010

ĐÂU LÀ SỰ THẬT VỀ TÔNG TÍCH CỦA LÝ CÔNG UẨN ?


Sự kiện Lý Công Uẩn không có cha cụ thể, mà con của thần nhân, cùng với những câu thơ sấm kí ở làng Cổ Pháp, rồi những điềm báo có thiên tử ra đời …biểu hiện của một cuộc vận động chính trị có tổ chức của giới trí thức tam giáo, đứng đầu là nhà sư đầy tài năng Vạn Hạnh, hoàn thành tâm nguyện trăm năm của quần chúng mà đại diện ban đầu là thiền sư Định Không của hương Diên Uẩn. Cuộc hôn phối có ý đồ, với đạo diễn kiêm chủ hôn Vạn Hạnh tại chùa Thiên Tâm, núi Tiêu Sơn, giữa bà Phạm thị Ngà với ” vị thần nhân dựa cột chùa “, một người họ Lý đang ẩn tích, đã được tiến hành. Thiền sư Vạn Hạnh tạo điều kiện cho bà họ Phạm vào rừng gặp ” thần nhân “, một cuộc hôn nhân bí mật, trong đó cha của Lý Công Uẩn có thể là một người đầy uy vọng của họ Lý vùng Cổ Pháp-Siêu Loại, tức Diên Uẩn-Thổ Lỗi, đang trong thời kì phải mai danh ẩn tích. Sự kiện bà mẹ Lý Công Uẩn phải vào rừng sinh sống, rồi khi đứa bé lên 3, bà phải gửi bé cho nhà sư Lý Khánh Văn nuôi dạy và cuối cùng giao cho sư Vạn Hạnh đào tạo chú bé Lý Công Uẩn thành hoàng đế, có thể là cơ sở của giả thuyết vừa nêu. Còn giả thuyết Lý Công Uẩn là con ruột của sư Vạn Hạnh thì quá ư táo bạo và bị các nhà sử học bác bỏ. Một vùng đất có nhiều phật tử như Cổ Pháp-Siêu Loại, không thể mù quáng đảnh lễ một vị quốc sư, đứng vào hàng tam bảo, lại làm việc phạm giới luật. Cuộc ” cách mạng lam “, chuyển giao quyền lực từ họ Lê, đã mất lòng dân, sang họ Lý, phản ánh một xu thế mới là thay chế độ quân trị sang nhân trị. Thực ra, việc Lý Vạn Hạnh lãnh đạo lớp trí thức tam giáo, nòng cốt là trí thức Phật giáo, cùng nhau giáo dưỡng và làm cuộc vận động để đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua, là kế thừa ” tâm nguyện  ” trăm năm kể từ thời thuộc Đường, thế kỷ IX, ấy là  “củng cố và phát triển miền Cổ Pháp, đưa những người con cháu của vọng tộc Lý lên ngôi vua, vừa tạo độc lập dân tộc Việt mà cũng chấn hưng đạo pháp ” của thiền sư Định Không (730-808).
     
1. Lý Công Uẩn, người thỏa niềm khát vọng của dân tộc Việt vào cuối thế kỷ X 
Nhà nước Văn Lang sụp đổ, dân tộc Việt phải chịu ách đô hộ của phong kiến phương bắc. Dẫu vài lần dân tộc Việt quật khởi, tưởng chừng nối được quốc thống, nhưng thời gian độc lập quá ngắn, phải lo chống giữ, không đủ vật lực tài lực để vun bồi văn hoá giáo dục, nên dân tộc Việt rất chậm phát triển vào thời Bắc thuộc. Vì lẽ đó mà triều Ngô, chưa có sự nghiệp đáng kể thì đất nước vấp phải loạn thập nhị sứ quân. Triều Đinh cũng chưa tạo được một cộng đồng thuần hậu thì gặp nạn tôi giết vua; để lại di chứng ấy cho Tiền Lê, với Lê Long Đỉnh, giết anh giành ngôi, làm việc lỗi đạo… Các triều vua Đinh Lê, bó hẹp trong vùng núi Ninh Bình, rất lợi thế về quân sự, có quân công trong lịch sử, nhưng không đủ sức tạo nên một kinh đô Hoa Lư phát triển toàn diện ; thậm chí để lại những việc làm quá ư vô đạo! Thời bấy giờ đã có một Phong Khê với bề dày văn hoá Văn Lang, một trung tâm Phật Giáo Luy Lâu-Thuận Thành, phía đông sông Hồng, nam sông Đuống, đã phát triển bền vững…Đại bộ phận nhân dân có nhu cầu bức thiết về văn hoá, có khát vọng về một minh quân, biết đáp ứng lòng dân…Và Lý Công Uẩn đã xuất hiện kịp thời để đáp ứng nhu cầu bức thiết ấy. Lý Công Uẩn không phải là con thần cháu thánh của truyền thuyết, chẳng phải là thiên tử của vị ngọc hoàng mơ hồ nào đó của cổ tích …mà ngài là một vì vua đươc nhân dân ” hoài thai ” suốt một thời đau đáu cho tiền đồ dân tộc; được sự giáo dưỡng đầy tâm huyết của lớp trí thức tam giáo tiến bộ của thế kỷ X.     


Chùa Cổ Pháp, còn gọi là chùa Dặn, nơi nhà sư Lý Khánh Văn
nuôi dưỡng Lý Công Uẩn từ tuổi lên 3
     
 Giới trí thức tiến bộ lúc bấy giờ, đứng đầu là thiền sư Vạn Hạnh, phải chọn lựa một con đường cho dân tộc. Trong tam giáo thì phải thừa nhận Phật giáo là mạnh nhất về cả tinh thần lẫn vật chất.

Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2010

THÁP CỬU PHẦM LIÊN HOA VÀ TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO VN

Lời dẫn của Nguyễn Xuân Diện,


Bài viết dưới đây trích trong cuốn sách Cửu phẩm liên hoa trong kiến trúc cổ Việt Nam của Trang Thanh Hiền (vợ tôi) là một công trình nghiên cứu hẹp về một phần trong nghệ thuật Phật giáo, thông qua ba cây tháp Cửu Phẩm Liên hoa ở chùa Bút Tháp, chùa Giám và chùa Động Ngọ.

Cuốn sách này được in 500 bản tại Nxb Thế giới, Hà Nội, năm 2007, bởi kinh phí tài trợ của Quỹ Thụy Điển - Việt Nam Phát triển văn hóa. Năm sau, cuốn sách này được trao Giải Đồng Sách Đẹp và Giải Đồng Sách Hay của ngành xuất bản toàn quốc.

Khi Hội chợ Sách quốc tế được tổ chức tại Thái Lan. Các nước đều dâng sách vào Hoàng cung của Đức Vua Thái Lan. Việt Nam chọn dâng vào Thư viện Hoàng cung Thái Lan 2 cuốn: Non nước Việt NamCửu Phẩm Liên hoa trong kiến trúc cổ VN. Hai cuốn sách được bọc lụa vàng và để trên khay vàng trao tận tay công chúa Thái Lan Maha Chakri Sirindhorn.

Một tin vui đã đến với chúng tôi, cuốn sách này được một công ty quyết định tái bản 1000 bản để chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội và Đại hội Phật giáo Thế giới (tại HN vào tháng 11). Ngoài ra, nhân Đại hội Phật giáo Thế giới, công ty này cũng cho dịch tóm tắt sang tiếng Anh và in 1000 bản.

THÁP CỬU PHẨM LIÊN HOA VÀ TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Trang Thanh Hiền

Chúng ta biết rằng hình tượng Cửu Phẩm Liên Hoa trong kiến trúc Phật giáo Việt Nam, chính là sự phát triển ở mức độ đỉnh cao của tín ngưỡng Tịnh Độ tông. Tuy nhiên tư tưởng này không chỉ đến thế kỷ XVII mới khởi phát khi loại hình kiến trúc này trở nên thịnh hành. Nó là một quá trình vận động phát triển lâu dài. Khi tháp Cửu Phẩm Liên Hoa hình thành, các giá trị Tịnh Độ này chỉ chiếm vai trò chủ đạo chứ không phải vị trí độc tôn. Bởi lẽ lịch sử tư tưởng Phật giáo Việt Nam không phải lúc nào cũng thuần nhất một tông phái. Đặc biệt ở thế kỷ XVll, các tư tưởng Thiền - Tịnh - Mật đã luôn song hành. Tháp Cửu Phẩm Liên Hoa là biểu hiện đầy đủ của các dòng tư tưởng này.

Thời Lý, tín ngưỡng Tịnh Độ tông đã rất phát triển với sự xuất hiện phổ biến thức tượng Adiđà. Ba pho tượng Phật Adiđà thời Lý bằng đá còn lại hiện nay, là tượng chùa Phật Tích, chùa Một Mái (Hà Tây) và tượng Chùa Ngô Xá (Chương Sơn, Nam Định). Trong ba pho này thì pho chùa Phật Tích là pho tượng đẹp nhất, tuy có nhiều người cho rằng, đây không phải là tượng Adiđà. Nhưng pho tượng chùa Một Mái thì chắc chắn theo sự xác nhận của dòng chữ khác trên bệ tượng. Những dòng chữ này ghi chép như sau: Luật sư ở núi Thạch Thất, pháp hiệu là Trì Bát, nhân tưởng niệm Phật Adiđà ở thế giới Tây phương Cực lạc nên đã phổ khuyến đạo tục dựng một đạo tràng lớn, muốn tạo tượng mà chưa thể được mãi đến năm Hội Phong thứ 8 (1099), ông mới làm được tượng Adiđà ở đây. Sư Trì Bát được khắc tên trên bệ tượng chùa Một Mái chính là nhà sư thuộc thế hệ thứ 12 của phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi - là học trò của thiền sư Sùng Phạm ở chùa Pháp Vân (Chùa Dâu, Hà Bắc). Điểu này cho thấy Tịnh Độ Tông có mặt trong cả phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi.

Thứ Năm, 16 tháng 9, 2010

Về tâm linh: "Nếu chưa biết, xin đừng phủ nhận"

Một chiếc lá cây khi sống tạo ra một trường sinh học quanh nó, khi mất đi trường sinh học đó vẫn được bảo tồn. Với con người, điều đó có tồn tại không? Nếu có, đằng sau sự sống sẽ không còn là cái chết nữa. Những câu hỏi và logic vấn đề đã đưa GS.TS Đoàn Xuân Mượu, nguyên Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh Dịch tễ TƯ nghiên cứu sâu về lĩnh vực này. Sau hơn 30 năm thai nghén, ông vừa cho ra đời 3 tập sách mang tên: Con người và khoa học về tâm linh.

Hiểu sự huyền bí sẽ không còn mê tín dị đoan

giáo sư đầu ngành về vi trùng, virus, tại sao ông lại chuyển sang viết sách nghiên cứu "tâm linh"? Ông không sợ người ta cho rằng thế là mê tín dị đoan?

Virus nhỏ lắm. Nó còn nhỏ dưới mức vi khuẩn, mắt không nhìn thấy được. Trong thế giới tự nhiên đã có lúc ta ghi nhận những thứ không nhìn thấy được là vô hình. Trong quá trình nghiên cứu, tôi thấy thế giới vô hình rất sống động, từ đó tôi liên tưởng đến đời sống con người ở những điều ta không nhìn thấy.
Cùng với quá trình nghiên cứu y học tôi cũng bắt tay nghiên cứu những điều về con người mà xưa vẫn cho là "bí ẩn", là mê tín dị đoan... Dưới ánh sáng khoa học, những "bí ẩn" đó không còn chỗ nương thân cho những gì gọi là mê tín, kỳ quặc.

Nói như thế theo tôi hiểu ông công nhận thế giới tâm linh là có thật?


Tôi không dám làm trọng tài trong tất cả những vấn đề mà thế giới đang tranh luận, chưa ngã ngũ. Tôi chỉ là người đọc nhiều, tâm huyết đến lĩnh vực "đời người" và cố gắng đưa những gì chưa biết ra ánh sáng.

Ông có thể nói rõ hơn?


3.000 năm qua, chúng ta tìm hiểu vũ trụ nhiều hơn tìm hiểu chính mình. Do đó, vốn hiểu biết về thế giới tự nhiên lớn hơn hiểu biết chính bản thân, kể cả nguồn gốc chính mình và những khả năng đặc biệt của con người.
Trước đây, khoa học chính thống theo mô thức thực chứng duy lý, dựa trên nền tảng vật lý cổ điển của Newton không giải thích được các hiện tượng đặc biệt này. Nó không công nhận thế giới siêu hình và cho rằng nguyên tử là nguyên tố bé nhất.

Thứ Sáu, 10 tháng 9, 2010

Kỳ IV: Ngôi nhà của ngọn lửa oan nghiệt

Đó là ngôi nhà mặt tiền số 24 đường Lý Thái Tổ, P2, Q3, TPHCM, nơi hiện nay nếu có dịp đi ngang qua, nhiều người sẽ không khỏi chạnh lòng khi biết rằng trước kia, đây là một cửa hàng lớn chuyên kinh doanh xe gắn máy với từng dãy xe bóng loáng xếp hàng. Ấy vậy mà chỉ trong vòng hơn 1 giờ đồng hồ, vụ hỏa hoạn thảm khốc đã biến tất cả ra tro bụi, kể cả 7 thành viên trong ngôi nhà. Hơn 6 năm trôi qua, ngôi nhà vẫn còn nguyên những vệt khói ám đen đủi, trơ gan cùng tuế nguyệt, mặc cho đời sống nhộn nhịp mỗi ngày vẫn diễn ra xung quanh...
Ngọn lửa oan nghiệt


<-Ngôi nhà 24 Lý Thái Tổ hiện nay.

Rạng sáng ngày 11-12-2001, một ngọn lửa phát ra từ tầng trệt ngôi nhà, bốc lên dữ dội và lan rất nhanh. Cao su từ vỏ ruột xe cháy tạo ra từng luồng khói đen đặc, mù mịt, trong khi mọi người đang ngon giấc, đến khi phát hiện thì đã quá trễ.


Do buôn bán, làm ăn nên nhà có 2 lớp cửa sắt kiên cố và cũng như nhiều nhà phố khác ngôi nhà này không có lối thoát hậu, ban công và cửa sổ là nơi duy nhất mọi người có thể lao ra nhưng không phải ai cũng đủ bình tĩnh tìm lối thoát khi nguy cấp. Nhiều người chứng kiến lúc đó vẫn còn nhớ như in hình ảnh một bà mẹ trẻ bụng mang bầu, tay ôm con lẩy bẩy ở lan can, đứa bé trên tay chị khóc thét. Vì tầng một khá thấp nên mọi người hét bảo chị quăng con xuống họ đỡ giùm, những người khác tìm được tấm bạt, căng ra bảo chị nhảy xuống, thế nhưng không hiểu sao chị cứ ôm con chạy ra chạy vào, vài lần rồi không thấy ra nữa…


Người mẹ ấy là chị La Thị Thanh L. Được biết, chồng chị vừa đi công tác nước ngoài thì thảm cảnh xảy ra.


Vợ chồng người hàng xóm nhà số 34 gần đấy ấm ức nhớ lại: “Bụng mang dạ chửa không dám nhảy xuống đã đành. Chẳng hiểu sao không chịu quăng con xuống…”. Nhiều người đoán do cô ta quá hoảng loạn nên quẫn trí. Người khác lại bảo thấy cô ta bình thản đi trở vào dường như muốn tự tử vì nghĩ cha mẹ, anh chị đã chết hết… Và hẳn nhiên không ai biết nguyên nhân thực sự, trừ người đã mất.

Thứ Năm, 9 tháng 9, 2010

'Phát hiện' cuốn sách khổng lồ 2 người khiêng

Tập thơ - thư pháp độc đáo có tựa Hoa Lư thi tập vừa được công bố. Đây là cuốn sách bằng gỗ, muốn di chuyển phải cần hai người khiêng vì có kích thước khổng lồ (109 cm x 70 cm x 10 cm) và nặng tới 54kg.
Bìa tập thơ – thư pháp nặng 54 kg có giấy dát vàng bên trong và bìa gỗ đỏ.
Bìa tập thơ - thư pháp nặng 54 kg có giấy dát vàng bên trong và bìa gỗ đỏ.
Bìa sách được làm bằng gỗ đỏ quý hiếm, chạm khắc công phu hình rồng và các thông tin tên sách, tên tác giả, người thực hiện.
Hoa Lư thi tập là phiên bản kỷ lục của tập thơ Hoa Lư thi tập (tác giả GS.TS Hoàng Quang Thuận - Viện trưởng Viện công nghệ viễn thông, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Trong khi tập thơ chưa ra mắt, những người quan tâm đã có thể đọc trước phiên bản đặc biệt do họa sĩ Trần Quốc Ẩn thực hiện.
Lật qua trang đầu tiên, phần gây chú ý nhất là nội dung bài Chiếu dời đô bằng tiếng Hán và tiếng Việt được in trên giấy dát vàng nhập khẩu từ Hong Kong.

Thứ Ba, 7 tháng 9, 2010

CÂU ĐỐI, HOÀNH PHI VÀ ĐỀ TỰ Ở ĐỀN NGỌC SƠN

Đền Ngọc Sơn, một di tích nổi tiếng ngay tại trung tâm thủ đô Hà Nội, có một giá trị đặc biệt do nằm trong Hồ Gươm, một danh thắng đồng thời là di tích lịch sử.
Hồ xưa rất rộng, là một khúc sông Nhị còn lưu lại trên đất liền, sau khi sông đổi dòng, và có những con đê đắp lên để ngăn chặn lụt lội, bảo vệ cuộc sống cùng tài sản con người ở ven sông.
Theo sách La Thành cổ tích vịnh của Trần Bá Lãm (1757 - 1815), hồ từng là nơi tập thủy quân dưới triều Trần, nên có tên là Đầm Thủy Quân. Lại theo sách Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú (1782 - 1840), Lê Thái Tổ một hôm dạo chơi trên hồ, có con rùa lớn nổi lên, vua cầm gươm chỉ, rùa liền đớp lấy gươm lặn xuống nước, nên có tên là Hồ Hoàn Kiếm (Hồ trả lại thanh gươm vua được thần trao cho để đánh đuổi quân Minh xâm lược), gọi tắt là Kiếm Hồ (Hồ Gươm).
Sang thời Lê Trung Hưng, sau khi Chúa Trịnh lập phủ chúa ở phía Nam Tháp Báo Thiên (khu vực phố Nhà Chung hiện nay), một con đường đã được đắp từ Cửa Nam thành tới lầu Ngũ Long (khoảng Viện Bảo tàng lịch sử hiện nay), chia hồ thành 2 phần: nửa bên trái là Tả Vọng, nửa bên phải là Hữu Vọng (“Vọng” ở đây có nghĩa là nhìn về phủ chúa). Hồ Hữu Vọng về sau bị lấp dần, dấu vết còn lại là phố Vọng Đức (tên một thôn của thế kỷ XIX, do 2 thôn Hữu Vọng và Đức Bác hợp nhất mà thành). Còn Hồ Tả Vọng tức phần Hồ Gươm còn lại đến ngày nay.
Phía tây bắc Hồ Tả Vọng có một gò đất tên là Tượng Nhĩ Sơn (núi tai voi). Lý Thái Tổ sau khi định đô ở Thăng Long (1010) đổi tên gò là Ngọc Tượng Sơn (núi Voi Ngọc), và tới đời Trần, gọi tắt là Ngọc Sơn (núi Ngọc). Lúc này trên gò đảo đã có một ngôi chùa nhỏ, nhưng lâu ngày thành xiêu vẹo. Đến đời Lê Vĩnh Hựu (1735 - 1739), chúa Trịnh Giang dựng lên cung Khánh Thụy ở đây và đắp hai quả núi phía đông, đối diện với Ngọc Sơn, gọi là Ngọc Bội và Đào Tai để kỷ niệm chiến thắng năm 1751 của Trịnh Doanh bắt được Nguyễn Danh Phương, một lãnh tụ nông dân khởi nghĩa.

Tận mắt "quái vật biển" 230 triệu năm ở rừng Cúc Phương

VTC News) - Trong số hàng triệu loài thú khổng lồ sinh ra, chết đi, xương thịt trở về với cát bụi, có một chú Bò sát răng phiến, là loài bò sát có thể sống dưới biển hoặc trên bờ, thường được gọi là Ngư Long, hay “quái vật biển” trong các truyền thuyết, rơi vào vùng có nhiều trầm tích.  
 

Giữa những ngày mưa gió đi tìm bộ xương “khủng long” giữa Vườn Quốc gia Cúc Phương thật vất vả. Hướng vào rừng hoàn toàn không có đường, thi thoảng mới lộ một vài vết đi lại cắt dọc ngang của những người bản địa vào rừng kiếm sống. Người dân quanh vùng thường đi sâu vào Vườn Quốc gia Cúc Phương để bắt cua núi, ốc núi, hai thứ đặc sản rất có giá trị. Một số người sống như thời nguyên thủy trong rừng già để săn bắn. Họ làm cả giàn trên cây rồi ngồi trên đó ngày đêm phục kích bắn thú.
Mùa mưa, rừng Cúc Phương ẩm ướt, nên thứ nhiều nhất trong rừng là vắt. Loài vắt xanh bám trên lá, chờ người và thú đi qua là bám vào tìm da thịt hút máu. Vắt đất thì một miệng cắn xuống đất, một miệng ngỏng lên trời ngo ngoe. Hễ chân người dẫm vào, là nó bám riết tìm đường chui vào trong ống quần. Lúc đầu, tôi vừa đi vừa lấy dao gạt vắt khỏi giầy và ống quần, sau thấy mất thời gian quá thì thây kệ cứ đi, không thèm để ý. Cuốc bộ chừng dăm bảy trăm mét, ngồi nghỉ, mới tiện tay gạt lũ vắt khỏi giày tất, rồi tháo giày kiểm tra một lượt, truy tìm bọn vắt đang say mê hút máu ra khỏi chân.

"Tường thành đá" - nơi chứa hóa thạch "quái vật biển" 230 triệu năm tuổi. 

Chúng tôi trèo qua những sườn núi tai mèo sắc nhọn, lội qua những thung sâu ngập nước mùa mưa đến quá trưa thì một “tường thành đá” hiện ra giữa rậm rạm cây cối. Một bức tường đá thẳng đứng, kéo dài tít tắp và cao ngang với một tòa nhà 10 tầng. Bức tường đá tự nhiên phẳng lì lên màu đen bóng. Nhìn bức tường đá tự nhiên này, tôi chợt nhớ đến “thành đá Tà Cơn” trong rừng già Vĩnh Thạnh (Bình Định). “Thành đá” này nếu không phải do tạo hóa vô tình làm ra, thì chỉ có thể là “siêu nhân” mới tạo ra được.
Anh Hiến bảo nghỉ chân dưới “thành đá”, rồi nói: “Đề nghị nhà báo vận dụng khả năng hiểu biết của mình về lĩnh vực địa chất để tìm hiểu xem ngọn núi này có gì đặc biệt không?”. Thấy anh Hiếu đề nghị thế, tôi nghĩ có chuyện gì thú vị, nên lần mò dưới chân “tường thành đá” đen bóng này để tìm hiểu.
Tôi khá bất ngờ khi phát hiện ra nhiều biểu hiện của hóa thạch quanh ngọn núi này. Những khối đá đen bóng giống như mới nhô lên từ lòng đất. Trên bề mặt của những khối đá đó ẩn hiện những hình thù của những thân cây. Để ý kỹ, tôi mới phát hiện ra, khu vực này là một quần thể hóa thạch thân cây. Những thân cây to chừng vài người ôm đã hóa đá từ hàng trăm triệu năm trước vẫn hiện rõ những u mấu, những thăn thớ trông như thớ gỗ.

Tác giả và anh Lương Khắc Hiến bên khối đá chứa hóa thạch Bò sát răng phiến. 

Tôi trình bày phát hiện của mình về một quần thể hóa thạch cây cối, anh Lương Khắc Hiến cười tủm tỉm dặn tôi dò xét kỹ trên vách đá xem phát hiện được gì. Tôi bập tay vào những u mấu trèo lên các vách đá để xem xét tỉ mẩn. Khi trèo đến độ cao 4 mét của một vách đá thấp, nằm dưới chân “bức tường đá” cao vòi vọi, tôi sững sờ khi thấy những mấu đá trồi ra, trông rõ ràng như những khúc xương sống xếp theo một hàng dài ngoằng. Thì ra, đây chính là hóa thạch của loài bò sát 230 triệu năm tuổi mà Ban Lãnh đạo Vườn Quốc gia Cúc Phương giấu kín chục năm nay. Thì ra, đây là thứ mà cả chục năm nay, chỉ số ít các nhà khoa học nổi tiếng được tận mắt chiêm ngưỡng, nghiên cứu.
Qua ánh sáng lờ nhờ yếu ớt lọt qua những kẽ lá của khu rừng rậm, tôi quan sát kỹ lưỡng bộ xương hóa thạch được cho là độc nhất vô nhị ở vùng Đông Nam Á rộng lớn này. Một dãy đốt sống gồm 12 đốt nguyên vẹn, rõ ràng, lồi ra khỏi mặt phẳng phiến đá như được một nghệ sĩ tài hoa đẽo tạc. Những đốt sống hình trụ, thót giữa, mặt lõm sâu chẳng khác gì đốt sống của các loài thú lớn ngày nay.

Hóa thạch như một tác phẩm điêu khắc trên vách đá phẳng. 

Chủ Nhật, 5 tháng 9, 2010

Kỳ III: Đi tìm ngôi mộ chú Hỏa

Khi còn sống đã có không ít giai thoại ly kỳ về bản thân, về gia đình và về ngôi nhà rất đặc biệt của mình; khi mất, chú Hỏa lại gây tò mò bởi những bí ẩn tiếp nối về nơi mình được chôn cất. Vì sao?

Những chiếc lá tìm về cội

Tháng 7-2006, vài thành viên trong dòng họ Hui Bon Hoa từ Pháp trở về, mục đích thăm lại cảnh trí cũ, mồ mả cha ông và tìm hiểu lịch sử gia đình. Họ ngụ tại khách sạn Majestic, “Nơi ông cố của chúng tôi đã xây dựng từ thập niên 20 của thế kỷ trước, với sự giúp sức của một kiến trúc sư người Pháp và hoàn tất vào năm 1925. Hiện trang web của khách sạn, ở phần lịch sử cũng có ghi, tuy sai một chút ở tên ông tôi” - một thành viên trong đoàn tên Eddie Hui-Bon-Hoa - cho biết.

Tháng 4-1975, Eddie theo gia đình sang Pháp khi còn trong bụng mẹ. Những thành viên trong dòng họ Hui Bon Hoa ghé thăm ngôi nhà lừng lẫy của dòng họ và tỏ ý hài lòng thấy nơi đây giờ trở thành một bảo tàng lớn của thành phố. “Có lẽ đây là thay đổi tốt nhất đối với ngôi nhà bởi chúng tôi luôn có thể vào tham quan và chí ít chúng tôi cũng có thể biết được tình trạng bảo quản nó” - Eddie chia sẻ. Có thể điều duy nhất khiến họ không hài lòng là nhìn thấy một sân chơi cầu lông thô sơ ngay giữa khoảng sân đẹp nhất của ngôi nhà, ít nhiều phá đi màu sắc và không gian tổng thể, đồng thời làm vơi đi vẻ cổ kính và mỹ quan của một bảo tàng.

Bà Nguyễn Thị Đức, Giám đốc bảo tàng đã tiếp đón các thành viên gia đình Hui Bon Hoa một cách thân tình và cử người tháp tùng đoàn trong các chuyến tham quan. “Các thành viên đều thuộc đời cháu của chú Hỏa, họ lại sống ở nước ngoài khá lâu nên ký ức về gia đình trước đây không còn nhiều, dù chúng tôi có ý tìm hiểu” - bà Đức cho biết.

Bí ẩn bao trùm

Rất nhiều người cao tuổi vẫn còn nhớ, khi mất chú Hỏa đã được gia đình an táng ở khu vực gần núi Chiêu Thái (nay là núi Châu Thới). Họ nói chú Hỏa đã xem phong thủy rất kỹ mới chọn khu vực này, vì đó là nơi có long mạch hiếm thấy, thích hợp làm nơi an nghỉ, đồng thời con cháu nhiều đời sau nhờ đấy mà làm ăn thịnh vượng.

Thứ Năm, 2 tháng 9, 2010

Những tờ tiền giấy đẹp nhất thế giới

Tiền giấy của vùng đất nào được thiết kế ấn tượng nhất? David Standish - tác giả cuốn “The Art of Money” đã chọn ra các mẫu sau.

Thuộc địa Pháp tại Thái Bình Dương (The French Pacific Territories) (đồng Franc).
Quốc đảo Maldives (đồng Rufiyaa).

Kỳ II: “Hồn ma” trong ngôi nhà cổ

Cũng như chuyện chú Hỏa xuất thân ra sao và vì đâu trở nên giàu có lạ thường, chuyện về “hồn ma” trong dinh thự chú Hỏa cũng có nhiều giai thoại huyền hoặc chẳng kém...

Giai thoại



Căn phòng này, theo nhiều người, là căn phòng trước kia con gái chú Hỏa ở. Ảnh: S.P

Vào thời ấy, ngoài bộ phim “Con ma nhà họ Hứa” do đạo diễn Lê Mộng Hoàng thực hiện trước 1975, đã có không ít sách báo và cả sân khấu cũng không bỏ lỡ cơ hội khai thác đề tài này bên cạnh những câu chuyện truyền khẩu góp phần làm cho sự thật càng thêm mờ mịt.


Theo những lời đồn đại, chú Hỏa có hàng chục người con trai nhưng con gái thì chỉ có một, lại rất xinh đẹp nên chú đặc biệt cưng chiều. Bỗng nhiên, không còn ai thấy cô con gái ấy xuất hiện nữa. Từ đó, vào những đêm khuya thanh vắng, từ trong tòa nhà vẳng ra tiếng kêu khóc thảm thiết. Rồi một sáng, người Sài Gòn giở nhật trình ra, ngỡ ngàng thấy có mẩu tin chú Hỏa đăng cáo phó báo con gái mất. Mẩu tin còn cho biết do con gái bị bạo bệnh ra đi bất đắc kỳ tử, lại nhằm vào giờ trùng nên tang lễ chỉ làm sơ sài, thi hài sẽ được đưa đi an táng tại khu đất thuộc Long Hải, cạnh ngôi biệt thự nghỉ mát của gia đình.