Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2010

HÁI LỘC ĐẦU NĂM & XUẤT HÀNH & KHAI TRƯƠNG ĐẦU NĂM TÂN MÃO (2011)

HÁI LỘC ĐẦU NĂM & XUẤT HÀNH  & KHAI TRƯƠNG
ĐẦU NĂM  TÂN MÃO   (2011)



*Giao thừa thắp hương khấn vái : “Thái Tuế Tân Mão  niên  PHẠM NỊNH   Tinh Quân”    chứng minh.

*Đốt nhang nghinh đón tài lộc đầu năm : lúc 23 giờ 30 đêm giao thừa, đi về hướng  Đông bắc  hái lộc.

*Xuất hành đầu năm: từ 3 giờ 30 đến 05 giờ khuya, sáng mùng một từ  9g đến 11 giờ.

-Đi về hướng Đông bắc đón  Hỉ Thần


-Tài Thần, Quí Thần tuy ở chính Bắc nhưng phạm Ngạc Thần (không nên đi)

*Giờ kỵ xuất hành: từ 23g đến 01g đêm giao thừa—Ngày mùng một : từ 11g15 đến 13g  và 15 g đến 19 giờ.

*Hướng kỵ xuất hành :  Chính bắc  (Ngạc thần,Ngũ quỷ)

*Cúng đầu năm (mùng 3) , khấn vái : “Trịnh Vương  Hành Khiển Tôn Thần cùng Thạch Tinh    Hành Binh Tôn Thần và  Liêu Tào Phán Quan”, phù hộ độ trì tai qua nạn khỏi v.v…

*Ngày khai trương đầu năm:-

-Ngày 04 /1 (kỵ tuổi Tuất), 06 /1 (kỵ tuổi Tí), 10/1 (kỵ tuổi Thìn ),  12/1 (kỵ tuổi Ngọ), 15 /1 (kỵ tuổi Dậu), ngày 24 / 1 (kỵ tuổi Ngọ),  ngày 30/1 ( kỵ tuổi Tí)
(Nguồn: Thầy Nhược Thủy- HTT)

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2011


imageThiệp điện tử mừng năm mới

Chủ Nhật, 19 tháng 12, 2010

Cao nhân huyền thuật nơi đại ngàn (*)


Ba phát nổ chát chúa liên tiếp phát ra khiến mọi người đinh tai nhức óc.
Thế nhưng, lạ kì thay, chiếc áo mà ông Lâm treo trên cây gậy vẫn chẳng 
hề lay động.

Người bí hiểm
Theo Chủ tịch UBND xã Đinh Hợp, ở thung lũng Ma Coong (Tân Trạch, huyện 
Bố Trạch, Quảng Bình), nhiều người đã dùng những biện pháp kỳ quái để chữa bệnh. Họ là những người được người dân ca tụng, săn đón. Tuy nhiên, có một người cực kỳ quái đản ở đất này thì lại rất ít người biết đến. Theo ông Đinh Hợp, cao nhân ẩn tích đó la ông Đinh Ngọc, hiện đang sống ở bản Cà Roòng 1. Ông Hợp bảo, ông học các phương pháp chữa bệnh bí  truyền cũng chính từ ông Đinh Ngọc. Một sáng, theo chân ông Đinh Hợp, chúng tôi xuống bản Cà Roòng 1 để tìm  gặp vị cao nhân bí ẩn ấy. Nhà ông Đinh Ngọc ở cuối bản, nằm ngay dưới  chân đồi, nơi có những cây săng lẻ to cỡ mấy người ôm. Theo chủ tịch xã  Đinh Hợp thì năm nay, sư phụ Đinh Ngọc đã tròm trèm 100 tuổi, ông không có con, đang sống cùng một người cháu gái.


Ông Đinh Hợp với thầy của mình, cao nhân ẩn tích Đinh Ngọc. 
Từ lâu lắm rồi chẳng ai thấy ông không ra khỏi ngôi nhà sàn vắng lặng  tiếng người ấy. Khi chúng tôi đến, ông Đinh Ngọc đang ngồi bệt dưới bếp, ngậm cái tẩu được cắt gọt cầu kì, bóng nhoáng. Ông để dâu dài, trông 
đạo mạo, bí hiểm như một đạo sĩ tu luyện lâu năm. Thấy chúng tôi đến,  ông ngồi thẳng dậy, mắt nhìn vô tư lự, nét mặt chẳng biểu hiện bất cứ  cảm xúc gì. Cung cách ấy càng khiến chúng tôi tò mò.

Thứ Bảy, 18 tháng 12, 2010

Cao thủ võ lâm trong lịch sử

Trong các tác phẩm võ hiệp của Kim Dung, nhiều nhân vật lịch sử có thật, như: Khưu Xứ Cơ, Kiều Phong, Quách Tĩnh, Dương Quá... tưởng đã bị lãng quên theo dòng chảy thời gian lại tái ngộ hậu thế với một dung mạo mới

Trong thế giới võ hiệp của Kim Dung, Khưu Xứ Cơ là một đạo sĩ chuyên hành hiệp trượng nghĩa. Là cao thủ bậc nhất trong Toàn Chân thất tử - 7 đại đệ tử của Trung Thần Thông Vương Trùng Dương, ông đã dùng võ công thâm hậu của mình để trừ gian diệt bạo, cứu khổn phò nguy.

Tôn xưng “Khưu thần tiên”

Trong Xạ điêu anh hùng truyện của Kim Dung, Khưu Xứ Cơ  từng lặn lội từ Trung Nguyên sang tận Mông Cổ tìm tung tích vợ con của hai huynh đệ kết nghĩa là Quách Khiếu Thiên (cha Quách Tĩnh) và Dương Khiết Tâm (cha Dương Khang, ông nội Dương Quá) để tìm cách giúp đỡ.
Khưu Xứ Cơ (1148-1227), đạo hiệu Trường Xuân Tử, là người Sơn Đông - Trung Quốc ngày nay. Năm 18 tuổi, Khưu bái Vương Trùng Dương làm thầy, trở thành một trong Toàn Chân thất tử. Khi Vương Trùng Dương mất, Khưu cư tang bên mộ thầy 3 năm, sau đó ẩn cư tu luyện 13 năm nữa rồi lập ra Long Môn phái, đồ đệ rất đông, nổi tiếng khắp nơi.

Thứ Tư, 15 tháng 12, 2010

Vương Trùng Dương lập giáo

Với quan niệm xuyên suốt “thiên ngoại hữu thiên” (ngoài trời còn có trời), trong thế giới võ hiệp của Kim Dung, không ai có võ công vô địch thiên hạ. Song, giáo chủ Toàn Chân giáo Vương Trùng Dương là một ngoại lệ

Cuối năm 2009 vừa qua, tại Trùng Dương cung ở huyện Lư, tỉnh  Thiểm Tây, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hiệp hội Đạo giáo Trung Quốc đã long trọng cử hành đại lễ cung táng (đặt lại) linh cữu tổ sư Toàn Chân giáo Vương Trùng Dương.

Trước đó, vào thời kỳ “cách mạng văn hóa”, mộ của ông bị đào lên, hài cốt vứt lăn lóc ra ngoài. Một người dân địa phương thấy bất nhẫn bèn lén thu nhặt hài cốt Vương Trùng Dương đem an táng.



Bức họa Vương Trùng Dương và Toàn Chân thất tử
Võ công cái thế

Trong Xạ điêu anh hùng truyện và Thần điêu hiệp lữ của Kim Dung, Vương Trùng Dương tuy là một đạo sĩ xa lánh hồng trần, sống ẩn dật với cỏ cây nhưng thấy cảnh người dân điêu đứng lầm than vì quân Kim xâm lược, ông đã nhập thế để cứu độ chúng sinh, lãnh đạo nhân dân đứng lên chống giặc. Các đệ tử của ông trong Toàn Chân thất tử cũng thế.

Thứ Hai, 13 tháng 12, 2010

Kỳ thư trong đao Đồ Long

Nhạc Phi là danh tướng đời Tống, tinh thông binh pháp, võ nghệ siêu quần. Trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, đao Đồ Long giấu binh pháp Vũ Mục di thư của ông luôn là mục tiêu tranh đoạt của võ lâm

Như đã nêu ở kỳ trước, trong Ỷ Thiên Đồ Long ký, Kim Dung viết rằng khi thành Tương Dương lâm nguy trước sự uy hiếp của quân Mông Cổ, vợ chồng Hoàng Dung - Quách Tĩnh đã bí mật đúc kiếm Ỷ Thiên giấu bí kíp võ công Cửu âm chân kinh cùng Hàng long thập bát chưởng và đao Đồ Long giấu Vũ Mục di thư của danh tướng Nhạc Phi.

Bộ binh pháp này dạy đủ các phương pháp định mưu, xét việc, tấn công, phòng thủ, luyện quân, khiển tướng, lập trận...

Hậu duệ Nhạc Phi trước ngôi mộ của ông

Tranh đoạt đẫm máu

Trong Anh hùng xạ điêu của Kim Dung, sau khi Nhạc Phi bị giết hại, Vũ Mục di thư được giấu trong kinh đô Lâm An.
Chúa Kim muốn đoạt kỳ thư này để học cách tiêu diệt cả quân Tống và quân Mông Cổ nên nhờ cha con Tây Độc Âu Dương Phong cùng nhiều cao thủ võ lâm truy tìm. Không ngờ, sách đã bị bang chủ Thiết Chưởng bang Thượng Quan Kiếm Nam lấy về giấu ở đỉnh núi Thiết Chưởng.
Về sau, Quách Tĩnh và Hoàng Dung tình cờ phát hiện họa đồ nơi giấu binh thư bèn lên đỉnh Thiết Chưởng lấy Vũ Mục di thư về được.

Thứ Bảy, 11 tháng 12, 2010

Bí mật Cửu âm chân kinh

Hư và thực cứ bàng bạc, biến ảo đa đoan với các nhân vật, sự kiện, bí kíp võ công... trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung như chính những chiêu thức võ công mà ông hư cấu

Cuối tháng 4-2010, tại núi Oa Hình, xã Hứa Phường, huyện Sùng Nhân - Giang Tây, các nhà khảo cổ Trung Quốc đã phát hiện một ngôi mộ cổ. Căn cứ vào việc phục dựng bia mộ đã hư hại cùng các cổ vật thu nhặt được, các nhà khảo cổ xác định chủ nhân ngôi mộ này chính là Hoàng Thường - nhà chính trị, triết học, văn học nổi tiếng đời Tống.

Thông tin này lập tức gây sốt dư luận ở Trung Quốc. Điều mà hầu hết mọi người đều quan tâm là Hoàng Thường có đúng là tác giả Cửu âm chân kinh, bí kíp tuyệt học võ công mà Kim Dung đã viết hay không?

Sóng gió võ lâm

Trong Xạ điêu anh hùng truyện viết năm 1957, Kim Dung nói về xuất xứ của Cửu âm chân kinh như sau: Tương truyền Đạt Ma sư tổ của phái Thiếu Lâm lúc mới từ Tây Trúc sang Trung Quốc đã giao chiến với nhiều võ sĩ trung thổ và có thắng, có bại. Sau đó, ông lui về ở ẩn, quay mặt vào tường suốt 9 năm, thấu triệt được các tinh hoa võ học rồi viết thành bộ Cửu âm chân kinh.

Tuy nhiên, trong bản mới đã được sửa chữa, Kim Dung mượn lời Lão Ngoan đồng Châu Bá Thông, sư đệ Vương Trùng Dương - giáo chủ Toàn Chân giáo, cho rằng bí kíp Cửu âm chân kinh là do Hoàng Thường viết. Theo đó, Hoàng Thường là một vị quan “thế ngoại cao nhân”.

Thời Bắc Tống, hoàng đế Huy Tông hạ chiếu tập hợp tất cả di thư của đạo gia trong thiên hạ để làm bộ Vạn thọ Đạo tạng và Hoàng Thường phụ trách trông coi việc khắc in. Vì sợ khắc lầm chữ sẽ bị tội khi quân nên ông đã dồn hết tâm trí để đối chiếu cẩn thận từng câu chữ. Dần dần, Hoàng Thường trở nên tinh thông Đạo học, ngộ ra được tầng sâu của võ công. Ông theo đó tu luyện cả nội - ngoại công, trở thành cao thủ.
 

Thứ Sáu, 10 tháng 12, 2010

Kiêng kị trong xây dựng nhà cửa ở Đài Loan


OZ-Theo tôi thấy những kiêng kị dưới đây không chỉ ở Đài Loan mà Việt Nam những người biết Phong thủy cũng đều tránh, trong đó xét phần lớn về khoa học là hợp lý. Bài sưu tập trên Hoangthantai không rõ nguồn.

Người Đài Loan hiện nay vẫn bảo lưu nhiều điều kiêng kỵ khi xây dựng nhà cửa và tuân theo cả các điều kiêng kỵ mới về nhà ở trong cuộc sống hiện đại. Cụ thể như sau:
Kiêng mở cửa ra nhìn thấy mồ mả vì mồ mả thuộc âm địa, nên người trong nhà sẽ dễ bị ám ảnh không tốt cho sức khỏe.
Kiêng lưng nhà dựa vào núi.
Kiêng tường trắng ngói xanh vì đó là biểu hiện nhà có tang.
Kiêng hành lang dài chạy xuyên nhà vì không lành.
Kiêng vị trí lộ xung (hướng đường chĩa thẳng vào nhà)
Khi động thổ, kiêng tuổi năm thái tuế vì ở trên đầu thái tuế sẽ gặp rất nhiều nguy hiểm, rủi ro.
Kiêng nhà ở cạnh đường nơi trũng thấp khí hỗn tạp, có hại.
Kiêng góc mái nhà nhọn uốn lượn chĩa thẳng vào cửa ra vào hoặc cửa sổ vì dễ gặp tai họa nghiêm trọng.
Kiêng tượng đồng, tượng đá cỡ lớn.
Kiêng ở chung cư cao tầng gần đường cầu vượt hay đường cao tốc vì nó giống như thanh kiếm dài chém ngang sườn, tinh thần không yên, dễ gặp rủi ro.
Kiêng nhà ở thấp dưới đường sắt vì vận khí thấp, khó gặp may mắn.
Kiêng nhà cửa cao đuồn đuỗn sẽ không an toàn, làm ăn bị cản trở.
Kiêng nhà cao tầng đứng chơ vơ, ở lâu sẽ bị cô lập, khó gặp may.
Kiêng cỏ và cây cối mọc um tùm vì đó là biểu hiện vận mạt, khó phát triển.

Những nghi lễ khi làm nhà mới của người xưa

Từ khi bắt tay vào làm nhà đến khi ngôi nhà được hoàn tất, thưở xưa người Việt phải tiến hành nhiều nghi lễ.
1.- Lễ bình cơ (平基): Gia chủ đem lễ vật cúng trên miếng đất chọn làm nhà, dọn dẹp sạch sẻ khu đất đó. Rồi sau gia chủ mới đi mời thợ đến bàn việc làm nhà.
2.- Lễ  trúc cơ (築基) :- bắt đầu đắp nền nhà.
3.- Lễ phạt mộc (伐木) (lễ khởi công): Gia chủ làm hai mâm cỗ, một để cúng tổ tiên và thổ thần, một để cúng tổ sư thợ mộc. Cúng xong người thợ cả cầm rìu chặt ba nhát vào cây gỗ định làm cột cái để làm phép. Người thợ cả nhất thiết phải “lên rui mực” (định kích thước ngôi nhà vào một thanh tre gọi là rui mực, sào nhà hay thước tầm). Sau đó, nhóm thợ bắt đầu công việc cưa xẻ gỗ.
4.- Lễ định táng (tảng) (定磉)hay còn gọi là lễ in tảng: làm lễ để đổ nền nhà, định nơi đặt cục  táng (đá kê chân cột)
5.- Lễ tàng giá (藏架) :- còn gọi là sàn vài ( ráp thử các vài cột của căn nhà). Chỗ nào chưa tốt thì sửa chữa lại.
6.-Lễ  thượng lương (上梁) (gác đòn dông  hay lễ cất nóc ):- lễ này được coi là quan trọng nhất không thể bỏ qua. Chọn được ngày tốt, gia chủ nhờ một người nào đó trong thân tộc, vợ chồng song toàn, lắm con nhiều cháu làm ăn phát đạt để đưa cây đòn dông (vịn vào) cùng với số lượng mấy người phụ đỡ lên gian chính giữa. Trong khi làm lễ, cây đòn dông đó được buộc hai cành lá thiên tuế, một vài vuông vải đỏ hay lụa đại hồng có vẻ hình bát quái, quyển lịch Tàu hay sách chữ Nho.
7.- Lễ cái ốc (蓋屋) :- bắt đầu lợp nhà
8.- Lễ nhập trạch (入宅) (an thổ 安土) :- lễ này cúng báo để tổ tiên biết, nhà đã làm xong. Trong số lễ vật đó có gạo rang trộn với nước để rắc vào bốn góc nhà.
9.- Lễ động sàng (動床): cúng báo gia tiên để dọn về nhà mới và được kê gia cụ vào nhà.
10.- Lễ  tân gia (新家) (lễ  hoàn thành完城 hay còn gọi là lễ lạc thành落成, lễ cài sào):-  gia chủ làm lễ cúng gia tiên rồi gác thước tầm lên hai đầu cột cái của gian chính giữa.
Lễ này tổ chức ăn uống mời bà con họ hàng, khách khứa  xa  gần tới dự. Những người được mời thường đem tiền, câu đối, pháo đến chúc mừng gia chủ.
11.-Lễ  hoàn công (還工) (trả công thợ) :- lễ này do thợ tổ chức cúng Tổ Sư  Lỗ Ban ,để nhận tiền công.
12.-Lễ an cư (安居): làm lễ tạ tổ tiên, thổ thần để báo cho biết chủ nhân đã làm ăn yên ổn trong nhà mới.
(Nhược  Thủy-Theo Ngọc Hạp)

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2010

BÀN VỀ BA KIẾT TINH

Ba kiết tinh ấy là: Sát công, Trực tinh, Nhơn chuyên.
Đây là ba Đại kiết tinh trong 9 vị theo thứ tự như sau: Yểu tinh, Hoắc tinh, Hòa đao, SÁT CÔNG, TRỰC TINH, Bốc mộc, Giác kỷ, NHƠN CHUYÊN, và Lập tảo.
1. YỂU TINH: Phàm thượng quan, cưới gã, dời chỗ, mở tiệm, khởi tạo, nhập trạch, phạm nhằm ngày có sao này, trong vòng một năm, nhơn khẩu tai hung, quan tư, mất trộm, nhà cửa ruộng vườn bị thối bại.
2. HOẮC TINH: Phàm tạo tác, cưới gả, dời chỗ, thượng quan, mở tiệm, chôn cất, phạm nhằm sao này, trong vòng 1 năm, trăm sự suy bại, lục súc tử thương, sanh con chẳng ra gì, đàn bà dâm loạn, hỏa tai, đạo tặc, quan sự, bị người khinh dễ.
3. HÒA ĐAO: Phàm thượng quan, tạo tác, dời chỗ ở, mở cửa hàng, phạm nhằm sao này nội trong 1 năm có thể gặp các việc: bịnh tật, hiếu phục, hổ thương (bị cọp làm hại) chết người.
4. SÁT CỐNG: (Tức là HIỂN TINH): Phàm tạo tác, mở đầu, cưới gả, dời chỗ ở, mở cửa hàng, thượng quan, chôn cất vân vân … gặp được sao này trong vòng 3 năm, tài lộc, chức vị tăng nhiều, đất vườn nhà cửa thêm nhiều, chủ về có con quý, lại được cha hiền con hiếu, tôi tớ có nết na, gặp nhiều việc tốt.
5. TRỰC TINH: Phàm thượng quan, cưới gả, mở tiệm, dời chỗ, tu tạo, mai táng gặp được sao này thì có nhiều việc tốt lành: làm quan thì được gia quan tấn lộc, người thường thì trăm việc được xứng tâm, buôn bán làm ăn thì thêm giàu có. Nhưng nếu gặp KIM THẦN THẤT SÁT nhứt định không trừ được sự hung. Kim thần thất sát sau sẽ bàn tới ở mục này.

Thứ Ba, 7 tháng 12, 2010

PHÉP THẢ ĐÒN TAY NHÀ

Phép thả đòn tay nhà, người ta thường tính theo Trực, muốn tính theo Trực phải biết thứ tự của Trực, cách tìm Trực chủ và Trực thuộc Ngũ hành.
1THỨ TỰ CỦA 12 TRỰC: Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thâu, Khai, Bế.
2. TÌM TRỰC CHỦ NHÀ: Muốn tìm Trực phải biết người đó tuổi gì, mạng gì rồi theo câu này mà tìm:
“Trâu Vàng, Chó Lửa, Dê Gỗ, Đất Nước Rồng”.
Trâu là Sửu, Vàng là Kim. Người mạng Kim thời khởi Kiến tại Sửu thuận tới tuổi của người đó thì biết được Trực.
Chó là Tuất, Lửa là Hỏa. Người mạng Hỏa thì khởi Kiến tại Tuất tính như trên.
Dê là Mùi, Gỗ là Mộc. Người mạng Mộc khởi Kiến tại Mùi tính như trên.
Đất, Nước là Thổ và Thủy, Rồng là cung Thìn. Người mạng Thổ hay mạng Thủy thì khởi Kiến tại cung Thìn rồi tính như trên.
Như người tuổi Hợi, mạng Mộc, khởi Kiến tại Mùi, Trừ tại Thân, Mãn tại Dậu, Bình tại Tuất, Định tại Hợi. Vậy người tuổi Hợi, mạng Mộc thuộc Trực Định. Tùy mạng của người điểm đến tuổi là đúng.
3. TRỰC THUỘC NGŨ HÀNH (Có bài thơ cổ nói rõ):
Cầm gươm mà chém ThànhKhai,
Người  có tài 3 gả thuộc KIM.
Định thì độc MỘC thù hiềm
TrừNguyThâu THỦY Bình tâm chế hoài
Chấp tay, Phá trận HỎA sài
MãnKiến tranh THỔ đua tài ai hơn.
Hai câu đầu nói 3 Trực  Thành, Khai và Bế thuộc KIM.
Câu 3 nói chỉ có một Trực Định thuộc MỘC.
Câu 4 nói bốn Trực: Trừ, Nguy, Thâu, Bình đều thuộc THỦY.
Câu 5: nói Trực Chấp và Trực Phá thuộc HỎA
Câu 6: nói Trực Mãn và Trực Kiến thuộc THỔ.
Sổ đòn tay mái nhà có hiệp Trực mà Trực thuộc Ngũ hành nên có sự sanh hạp hoặc xung khắc. Đòn dông làm Trạch chủ, Đòn tay thuộc vợ con và của cải, nếu Trạch chủ khắc xuống Đòn tay thì vợ con đau ốm, của tiền hao tán, bằng khắc ngược lại thì Trạch chủ bị nguy: tai nạn, đau ốm liên miên.

Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2010

Xem ngày tốt xấu

Việc chọn ngày tốt, tránh ngày xấu từ lâu đã trở thành truyền thống văn hoá của các dân tộc Đông phương. Nhưng phương pháp chọn ngày tốt, tránh ngày xấu cho đến tận bây giờ vẫn còn gây tranh cãi. Bởi vì nguyên lý và thực tại nào để có những ngày được coi là tốt hay xấu vẫn còn là những điều bí ẩn cần tiếp tục khám phá…
Một hiện tượng lịch sử được ghi nhận về sự lúng túng trong việc coi ngày tốt xấu xưa nhất là trong Sử Ký của Tư Mã Thiên, bài “Nhật giả liệt truyện”. Trong đó miêu tả Hán Vũ Đế đã triệu tập toàn bộ những thầy chuyên coi ngày của các phương pháp khác nhau trên khắp đế quốc Hán để coi ngày cho ông ta lấy vợ. Các thày đã cãi nhau suốt ngày mà không thể chọn ra ngày tốt cho Hán Vũ Đế. Cuối cùng Hán Vũ Đế phải tự quyết định chọn phương pháp Ngũ hành để tìm ngày tốt cho mình.
Việc chọn ngày tốt, tránh ngày xấu từ lâu đã trở thành truyền thống văn hoá của các dân tộc Đông phương. Nhưng phương pháp chọn ngày tốt, tránh ngày xấu cho đến tận bây giờ vẫn còn gây tranh cãi. Bởi vì nguyên lý và thực tại nào để có những ngày được coi là tốt hay xấu vẫn còn là những điều bí ẩn cần tiếp tục khám phá. Bài viết này là một cố gắng của các thành viên nghiên cứu thuộc Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương soạn, tập hợp những tư liệu còn lưu truyền trong dân gian về các quy ước ngày tốt xấu và phương pháp chọn ngày trên cơ sở những tư liệu sưu tầm được.
Phương pháp:
Tập hợp càng nhiều càng tốt những tư liệu qui ước chọn ngày tốt xấu còn lưu truyền. So sánh đối chiếu với Vạn Niên Lịch. Loại bỏ tất cả những ngày được coi là xấu trong tất cả các tư liệu sưu tầm được. Sau đó chọn ngày tốt nhất trong những ngày còn lại.
a.Ưu điểm của phương pháp này là:
Do chưa tìm hiểu được nguyên lý và thực tại nào làm nên tính qui ước về ngày xấu tốt với con người, cho nên việc loại trừ tất cả những ngày xấu mà sách xưa để lại.
b.Nhược điểm của phương pháp này là:
Có khả năng có những tư liệu đã thất truyền, hoặc sưu tầm chưa đầy đủ sẽ để lọt những ngày xấu mà các tư liệu sưu tầm được không nhắc đến. Đôi khi chính những ngày xấu trong những tư liệu chưa sưu tầm được, lại rất quan trọng.
Bởi vậy, chúng tôi chân thành mong các nhà nghiên cứu và những ai còn có những tư liệu liên quan đến ngày tốt xấu, hãy trao đổi với chúng tôi để việc nghiên cứu liên quan ngày càng hoàn tất, phục vụ cho cuộc sống con người.
Dưới đây là những tư liệu liên quan đến ngày tốt xấu mà chúng tôi đã sưu tầm được để quí vị tham khảo.
1.LOẠI BỎ NHỮNG NGÀY XẤU TRONG THÁNG

XÉT NGÀY HUNG KHÔNG KỴ

Người xưa đã từng kinh nghiệm là những ngày bị phạm Đại hung tinh và hung tinh thì phải chừa, các ngày thứ hung có nhiều kiết tinh thì dùng được. Những đại kiết tinh là: Thiên đức, Nguyệt đức, Thiên đức hiệp, Nguyệt đức hiệp, Tuế đức, Tuế đức hiệp, Thiên xá, Thiên nguyên, Lục hiệp, Tam hiệp có thế lực mạnh mẽ chế ngự được các hung tinh, nhưng không chế nổi Hồng sa sát vàTam sát là Kim thần thất sát, và kế đó cũng không chế nổi Nguyệt phá là Đại hao là Trực phá đều là Đại hung tinh. Ngoài các sát tinh trên, còn như Tứ ly, Tứ tuyệt, Nguyệt kỵ, Nguyệt hình, Nguyệt hại, Nguyệt yểm, Đại thời, Thiên lại, Tứ phế vân vân … đều là thứ hung. Có khi có những hung tinh mà vẫn coi như không có như trường hợp sau đây:
1. Ngày Nghiêu bại có Bất tương không kỵ.
2. Ngày Nhơn cách kỵ các ngày Sính lễ, có Bất tương cũng không kỵ.
3. Ngày Nguyệt kỵ có nhiều Kiết tinh dùng được.
4. Ngày Bạch hổ là mùa Xuân có sao Tỉnh, mùa Hè có sao Vĩ, mùa Thu sao Ngưu, mùa Đông sao Bích, có Kỳ lân thì không kỵ.
(Ngày Kỳ lân là tháng 1: ngày Tuất; tháng 2: ngày Tý; tháng 3: ngày Dần; tháng 4: ngày Thìn; tháng 5: ngày Ngọ; tháng 6: ngày Thân; tháng 7: ngày Tuất; tháng 8: ngày Tý; tháng 9: ngày Dần; tháng 10: ngày Thìn; tháng 11: ngày …; tháng 12 : ngày Thân).
5. Ngày Thâu tước là mùa Xuân sao Nguy, mùa Hè sao Mão, mùa Thu sao Vị, mùa Đông sao Tất, có Phụng hoàng khỏi kỵ.
(Ngày Phụng hoàng: tháng 1, 7: ngày Thìn; tháng 2, 8: ngày Ngọ; tháng 3,9: ngày Thân; tháng 4, 10: ngày Tuất; tháng 5, 11: ngày Tý; tháng 12: ngày Dần).
6. Ngày Thiên quả, Địa quả (Địa quả tức Ngưu lang) là tháng dương gặp ngày dương: Thân, Tý, Thìn, Dần, Ngọ, Tuất hoặc tháng âm dùng ngày âm: Tỵ, Dậu, Sửu, Hợi, Mẹo, Mùi mới là Thiên quả, Địa quả, còn tháng Dương hiệp ngày Âm hay tháng Âm hiệp ngày Dương là không phải.
7. Ngày Phục đoạn: Những ngày Can và Chi khắc nhau mới phải, không khắc nhau không phải là Phục đoạn không kỵ.
CAN khắc CHI, như ngày Ất Sửu, Ất là Can thuộc Mộc khắc Sửu là Chi thuộc Thổ.

PHƯƠNG HƯỚNG TU TẠO

Nói đến phương hướng tu tạo gồm có hướng nhà, hướng bếp và hướng cửa ngỏ ra vào.
Về phương thì có 8 phương là Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông nam, Tây nam, Đông bắc, Tây bắc.
Phương Đông là phương Chấn hay phương Mẹo, phương Tây là phương Đoài hay phương Dậu. Phương Nam là phương Ly hay phương Ngọ. Phương Bắc là phương Khảm hay phương Tý. Phương Đông nam là phương Tốn, phương Tây nam là phương Khôn, phương Đông bắc là phương Cấn, phương Tây bắc là phương Càn.
Về hướng thì có 24 hướng cũng gọi là 24 sơn hay 24 sơn hướng là Tuất, Càn, Hợi; Nhâm, Tý, Quý; Sửu, Cấn, Dần: Giáp, Mẹo, Ất; Thìn, Tốn, Tỵ; Bính, Ngọ, Đinh; Mùi, Khôn, Thân; Canh, Dậu, Tân.
Nhà ở, người ta day theo 8 phương hay 8 cung mà chọn tốt xấu; còn lò, bếp và cửa ngõ thì dựa theo 24 hướng mà chọn tốt xấu. Xin coi đồ hình tóm lược về phương vị Bát quái sau đây:
Vị trí của 8 cung và 24 sơn hướng ở hình Bát quái trên là vị trí cố định không thay đổi. Vòng ngoài là 24 hướng để lò, bếp vị trí nào tốt dùng khoanh trống (o), vị trị nào xấu để chấm đen (•). Trong 8 cung có chia ra làm: Đông tứ trạch và Tây tứ trạch.
Đông tứ trạch là: Khảm, Ly, Chấn, Tốn.
Tây tứ trạch là: Khôn, Cấn, Càn, Đoài.
1. VỀ HƯỚNG NHÀ :
Những người tuổi thuộc Đông tứ trạch làm nhà phải day mặt qua phương Đông tứ trạch mới tốt, còn 4 cung Tây tứ trạch là hung.
Những người tuổi thuộc Tây tứ trạch làm nhà phải ngó mặt qua Tây tứ trạch mới tốt, còn 4 cung thuộc Đông tứ trạch là hung.
Thí dụ: Người tuổi mạng Khảm (tuổi thuộc cung Khảm), nếu làm nhà day qua hướng: KHẢM được Phục vì, hướng LY được Phước đức (Diên niên) hướng CHẤN được Thiên y, hướng TỐN được Sanh khí; nhược bằng ngó qua hướng KHÔN phạm Tuyệt mạng, hướng CẤN phạm Ngũ quỷ, hướng CÀN phạm Lục sát, hướng ĐOÀI phạm Họa hại … các tuổi khác sau sẽ có bản đồ, các bạn cứ theo đây suy tìm ở bản đồ thì rõ.
2.CÁCH ĐẶT LÒ BẾP:

PHÉP LÀM CỬA LỚN(ĐẠI MÔN)

Về ĐẠI MÔN, ta nên đọc thêm bài này ở Thông Thiên Chiếu Thủy Kinh cho rộng nghĩa:
1. Quỷ nhập Lôi môn thương Trưởng tử,
2. Hỏa kiến Thiên môn thương Lão Ông,
3. Ly xâm Tây Đoài phương thương Nữ.
4. Tốn nhập Khôn vị Mẫu ly Ông,
5. Đoài phòng Chấn, Tốn Trưởng nhi nữ,
6. Cấn, Ly Âm phụ hoại gia phong,
7. Cấn, Khảm tiểu khẩu đa tật bịnh
8. Khôn, Khảm Trung nam mạng tảo chung.
Muốn hiểu bài này, cần phải nhắc lại mấy điểm sau đây:
1. NGŨ HÀNH TƯƠNG SANH: Kim sanh Thủy, Thủy sanh Mộc, Mộc sanh Hỏa, Hỏa sanh Thổ, Thổ sanh Kim.
2. NGŨ HÀNH TƯƠNG KHẮC: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.
3. BÁT QUÁI SỞ THUỘC NGŨ HÀNH: Càn, Đoài thuộc Kim, Khôn, Cấn thuộc Thổ, Chấn, Tốn thuộc Mộc, Khảm=Thủy, Ly=Hỏa.
4. BÁT QUÁI TIÊU BIỂU:
CÀN: Trời, Cha, Ông già, Chồng.
KHÔN: Đất, Mẹ, Bà gia, Vợ.
CHẤN: Sấm, Trưởng nam (con trai lớn)
TỐN: Gió, Trưởng nữ (con gái lớn)
KHẢM: Nước, Trung nam (con trai giữa)
LY: Lửa, Trung nữ (con gái giữa)
CẤN: Núi, Thiếu nam (con trai út)
ĐOÀI: Đầm (hồ), Thiếu nữ (con gái út)
(Càn vi Thiên, Khôn vi Địa, Chấn vi Lôi, Tốn vi Phong, Khảm vi Thủy, Ly vi Hỏa, Cấn vi Sơn, Đoài vi Trạch)
Giải thích bài trên:
CÂU 1: Quỷ nhập Lôi môn thương Trưởng tử: Quỷ tức Ngũ quỷ. Lôi môn, Lôi là Chấn Mộc. Chấn mà phạm Ngũ quỷ tức Chấn phối với Càn (Càn phối với Chấn cũng phạm Ngũ quỷ). Như chồng Càn vợ Chấn hay chủ nhà Càn tu tạo phương Chấn hoặc trái lại, đều phạm Ngũ quỷ. Cửa chánh phương Càn, khởi tạo phòng ốc hướng Đông Chấn là hung. Bởi Càn thuộc Kim khắc Chấn Mộc. Chấn thuộc Trưởng nam, nên ứng hại ngưòi con trai trưởng. Cung Càn thuộc Tây tứ trạch, cung Chấn thuộc Đông tứ trạch, Tây phối với Đông không hợp, nên bất cứ người mạng nào ở đó cũng hung. Để bàn thờ hướng Chấn cũng kỵ người mạng Càn, người mạng Càn mà cửa hướng Chấn cũng hại Trưởng tử, cưới tuổi Chấn sanh con cũng khó dạy, tạo phòng hướng Chấn đến ngày tháng ứng hung chết Trưởng tử. Nam, nữ mạng Càn đường ra vào hướng Chấn cũng hung.

CÁC TÊN KHÔNG THÍCH HỢP CỦA 12 TUỔI

Nhược Thủy
1.- Phần nầy để chúng ta tham khảo thêm cho biết (cái nào dùng được thì dùng) vì đây là tên đặt theo phong tục tập quán người Trung Hoa, chúng ta ít dùng các tên như vậy. Tuy nhiên, gần đây giới trẻ VN cũng thấy xuất hiện những tên “mới lạ”.
Tài liệu nầy đồng thời cũng có tính gợi  ý cho chúng ta chọn một số tên mới (cho có vẻ khác thường với người Việt).
2.- Nội dung “TÍNH DANH HỌC” còn rất nhiều, nhưng sức khỏe của tôi thì có hạn. Sau phần nầy, xin phép nghỉ dưỡng sức thời gian ngắn. Mong quí huynh đệ thông cảm.
3.- Mến tặng và chân thành cám ơn tất cả huynh đệ đã quan tâm theo dõi nội dung :-
“MỚI XUẤT HIỆN LẦN ĐẦU Ở VIỆT NAM”
(ý kiến chủ quan của tôi là thế, nếu sai thì … thông cảm giùm)
Đồng thời, cũng mong đón nhận những đóng góp quí báu của những bậc cao nhân, để chủ đề nầy thêm phong phú và hoàn chỉnh.
01生肖屬鼠忌逢的名字:
不喜逢:○桂美、○美慧、○素英、○美月、○月雪、○淑美、○美華 ○瓊文、○婌美、○美蘭、○翠箐、○馨儀、○心梅、○美霞 ○煜立、○立旺、○德仁、○耀文、○曜炆、○炳南、○燦榮 ○智育、○建明、○俊明、○敏晃、○政盈、○冠智、○俊仁 ○志祥、○俊傑、○駿杰、○暐翔、○書楀、○新強、○庠偉
以上名字逢到較會影響夫妻感情、身體、財庫、老運勞碌等問題。
1.- TÊN KHÔNG THÍCH HỢP CỦA TUỔI TÍ:-
QUẾ MỸ 、 MỸ HUỆ  、 TỐ ANH 、 MỸ NGUYỆT 、 NGUYỆT TUYẾT 、 THỤC MỸ 、 MỸ HOA   QUỲNH VĂN 、  THỤC MỸ 、 MỸ LAN 、 THUÝ  THANH、 HINH NGHI 、 TÂM MAI 、 MỸ HÀ ,   DỤC LẬP 、 LẬP VƯỢNG 、 ĐỨC NHÂN 、 DIỆU VĂN 、 DIỆU VĂN 、 BỈNH  NAM 、 XÁN VINH ,  TRÍ DỤC 、 KIẾN MINH 、 TUẤN MINH 、 MẪN HOẢNG  、 CHÍNH DOANH 、 QUAN  TRÍ 、 TUẤN NHÂN ,  CHÍ TƯỜNG 、 TUẤN KIỆT 、 VĨ TƯỜNG 、 THƯ VŨ 、 TÂN CƯỜNG  、 TƯỜNG VĨ .
*Ảnh hưởng đến các vấn đề  về :- tình cảm vợ chồng, sức khỏe thân thể, hao tốn tiền bạc, vận hạn lúc tuổi về già v.v…
(Các tuổi khác cũng như vậy)
02生肖屬牛忌逢的名字:
不喜逢:○春霞、○美紅、○月梅、○雪驊、○美珠、○靜月、○旻緻 ○文心、○致意、○淑真、○淑貞、○淑敏、○嘉敏、○珮縈 ○美香、○美惠、○崇朋、○代杰、○冠成、○俊祥、○智明 ○祥盛、○俊明、○智名、○宗斌、○文彬、○啟榮、○火旺 ○志光、○志文、○智文、○信得、○名煌、○烽為、○琮光
2.-  TÊN KHÔNG THÍCH HỢP CỦA TUỔI SỬU:-

Cúng Mụ Bà (đầy tháng)

Lời giới thiệu
Công việc cúng đầy tháng và cúng giáp năm (tròn tuổi, thôi nôi…) thì tùy theo tập quán từng địa phương mà có cách thức khác nhau. Tôi sưu tầm được năm cách cúng (và còn nhiều cách khác nữa …)
Nay giới thiệu cùng quí huynh đệ tạm tham khảo và chọn theo sở thích để áp dụng, hoặc sửa đổi thay thế chút ít cho phù hợp với phong tục, tập quán địa phương mình.Ít ra thì cũng có cái để làm chỗ dựa.
Nhược Thủy
——————————————
1.Cách cúng thứ  1 (không rõ nguồn)
*Sắm lễ cúng mụ: 12 miếng nhỏ và 1 miếng to nhất
1/ 13 nắm cơm chim
2/13 nắm xôi chim
3/ 13 con cá nhỏ
4/ 13 con ốc
5/ 13 miếng chả
6/ 13 cái nem rán
7/ 13 miếng giò
8/ 13 con tôm
9/ 13 lát thịt luộc
10/ 13 miếng xu hào xào or luộc
11/ 13 miếng đậu phụ rán
12/ 13 quả đậu luộc
13/ 1 bát canh trong đó có 13 miếng bí
Tất cả nấu chín
*Ngoài ra:
- 12 miếng trầu tiêm cánh phượng và 1 quả cau chúa ở giữa
- 13 bông hoa đủ màu cắm vào 1 lọ
- 13 ngọn nến bé
- 13 lá trầu không
- 13 lễ tiền vàng
- 13 nén hương cắm ở 13 đĩa (13 đĩa đặt xung quanh mâm)
- 13 chén nước sôi để nguội
- 1 đĩa quả đẹp
Lễ xong hoá vàng (đốt giấy tiền vàng bạc). Đổ nước vào chậu dùng khăn lau cho bé. Mẹ ăn 13 thứ, mỗi thứ 1 tí.
* Bài khấn vái cúng:-
Con lạy thần tiên đế
Con lạy chư Phật
Con lạy quan Đương Niên Quản Cai
Con lạy quan Thần Hoàng Bản Thổ, Thổ Địa Chính Thần, đất lành chim đậu
Con lạy mười hai bà mụ:

Đặt tên con theo các loài cây.

Một cách đặt tên phổ biến khác là đặt theo các loài cây. Cách này dùng để đặt tên cho cả bé trai lẫn bé gái, nhưng phổ biến hơn thường dùng để đặt tên con trai.
BÁCH: cây Bách chia là Viên Bách, Trắc Bách, Bặc Địa Bách.
Viên Bách là loài cây thân gỗ, quanh năm xanh tươi. Viên Bách chịu lạnh, chịu khô rất tốt.
Trắc Bách cũng chịu lạnh, chịu khô tốt nhưng là loại cây rậm rạp xanh tốt quanh năm.
Bặc Địa Bách còn gọi là Địa Bách. Có thể nói Địa Bách có tư thế phong cách rất độc đáo: cây nằm rạp trên mặt đất, cành cây có thể vươn dài tới vài mét trên mặt đất và lá cành xanh biếc.
Vì cây Tùng và Bách có nhiều điểm tương đồng, nên người ta hay gọi gộp hai cây lại. Khi đặt tên cho con bạn có thể mở rộng, sáng tạo ra tên riêng của mình dựa vào những đặc tính của cây.
PHONG: cây Phong là loài cây thân gỗ, lá rụng, lá mọc cách mỗi đốt một lá, mùa thu lá biến màu đỏ, nở hoa vàng. Xưa nay có nhiều người vẫn dùng Phong đặt tên với nghĩa là gió, nhưng bạn hoàn toàn có thể đặt tên Phong cho con mình với nghĩa là cây.
QUANG (cây Báng): Hiện nay người ta quen dùng Quang đặt tên với nghĩa là ánh sáng. Nhưng Quang còn là một loài cây. Đây là loại cây gỗ, lá xanh quanh năm, lá xít nhau hình lông vũ, quả hình dùi tròn, sinh trưởng tại vùng nhiệt đới. Là loài cây rất hữu ích: tủy trong cây có thể làm tinh bột và sơ trong vỏ cây có thể làm dây thừng.

PHÉP TÍNH SANH TRAI HAY GÁI

Tht tht t thp cu
Vn nương hà nguyt h
Tr kh mu sanh niên 
Tái gia nht thp c
Nam đơn, N song s 
Nhược th Nam h N 
Đn phùng ngũ, bát nh
Phùng th khng bt xương

CÁCH TÍNH:
1.      Lấy hằng số: 49
2.      Cộng với tháng người mẹ thọ thai
3.      Rồi trừ với tuổi của người mẹ năm thọ thai
4.      Đem con số trừ còn lại đó cộng với hằng số: 19
5.      Hể ra số lẻ là con Trai, số chẵn là con Gái.
THÍ DỤ 1:
Mẹ 24 tuổi, thọ thai vào tháng 2. Tính coi sanh trai hay gái.
Hằng số:                                   49
Tháng thọ thai: cộng(+)  2
được:                                       51
Tuổi mẹ năm thọ thai:    trừ (-)   24
còn                                           27
Hằng số:           cộng (+)           19
được:                                       46  —> 6
Con số 46, số 6 là số chẵn, vậy sanh con gái.
THÍ DỤ 2:
Mẹ 41 tuổi, thọ thai vào tháng 12. Tính coi sanh trai hay gái.

Hằng số:                                   49
Tháng thọ thai:cộng(+)  12
được:                                       61
Tuổi mẹ năm thọ thai:    trừ (-)   41
còn                                           20
Hằng số:           cộng (+)           19
được:                                       39  —> 9
Con số 46, số 6 là số chẵn, vậy sanh con trai.
Nguồn : Sách Nghi lễ-Thích Hoàn Thông