Hiển thị các bài đăng có nhãn Tu tạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tu tạo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 10 tháng 12, 2010

Kiêng kị trong xây dựng nhà cửa ở Đài Loan


OZ-Theo tôi thấy những kiêng kị dưới đây không chỉ ở Đài Loan mà Việt Nam những người biết Phong thủy cũng đều tránh, trong đó xét phần lớn về khoa học là hợp lý. Bài sưu tập trên Hoangthantai không rõ nguồn.

Người Đài Loan hiện nay vẫn bảo lưu nhiều điều kiêng kỵ khi xây dựng nhà cửa và tuân theo cả các điều kiêng kỵ mới về nhà ở trong cuộc sống hiện đại. Cụ thể như sau:
Kiêng mở cửa ra nhìn thấy mồ mả vì mồ mả thuộc âm địa, nên người trong nhà sẽ dễ bị ám ảnh không tốt cho sức khỏe.
Kiêng lưng nhà dựa vào núi.
Kiêng tường trắng ngói xanh vì đó là biểu hiện nhà có tang.
Kiêng hành lang dài chạy xuyên nhà vì không lành.
Kiêng vị trí lộ xung (hướng đường chĩa thẳng vào nhà)
Khi động thổ, kiêng tuổi năm thái tuế vì ở trên đầu thái tuế sẽ gặp rất nhiều nguy hiểm, rủi ro.
Kiêng nhà ở cạnh đường nơi trũng thấp khí hỗn tạp, có hại.
Kiêng góc mái nhà nhọn uốn lượn chĩa thẳng vào cửa ra vào hoặc cửa sổ vì dễ gặp tai họa nghiêm trọng.
Kiêng tượng đồng, tượng đá cỡ lớn.
Kiêng ở chung cư cao tầng gần đường cầu vượt hay đường cao tốc vì nó giống như thanh kiếm dài chém ngang sườn, tinh thần không yên, dễ gặp rủi ro.
Kiêng nhà ở thấp dưới đường sắt vì vận khí thấp, khó gặp may mắn.
Kiêng nhà cửa cao đuồn đuỗn sẽ không an toàn, làm ăn bị cản trở.
Kiêng nhà cao tầng đứng chơ vơ, ở lâu sẽ bị cô lập, khó gặp may.
Kiêng cỏ và cây cối mọc um tùm vì đó là biểu hiện vận mạt, khó phát triển.

Những nghi lễ khi làm nhà mới của người xưa

Từ khi bắt tay vào làm nhà đến khi ngôi nhà được hoàn tất, thưở xưa người Việt phải tiến hành nhiều nghi lễ.
1.- Lễ bình cơ (平基): Gia chủ đem lễ vật cúng trên miếng đất chọn làm nhà, dọn dẹp sạch sẻ khu đất đó. Rồi sau gia chủ mới đi mời thợ đến bàn việc làm nhà.
2.- Lễ  trúc cơ (築基) :- bắt đầu đắp nền nhà.
3.- Lễ phạt mộc (伐木) (lễ khởi công): Gia chủ làm hai mâm cỗ, một để cúng tổ tiên và thổ thần, một để cúng tổ sư thợ mộc. Cúng xong người thợ cả cầm rìu chặt ba nhát vào cây gỗ định làm cột cái để làm phép. Người thợ cả nhất thiết phải “lên rui mực” (định kích thước ngôi nhà vào một thanh tre gọi là rui mực, sào nhà hay thước tầm). Sau đó, nhóm thợ bắt đầu công việc cưa xẻ gỗ.
4.- Lễ định táng (tảng) (定磉)hay còn gọi là lễ in tảng: làm lễ để đổ nền nhà, định nơi đặt cục  táng (đá kê chân cột)
5.- Lễ tàng giá (藏架) :- còn gọi là sàn vài ( ráp thử các vài cột của căn nhà). Chỗ nào chưa tốt thì sửa chữa lại.
6.-Lễ  thượng lương (上梁) (gác đòn dông  hay lễ cất nóc ):- lễ này được coi là quan trọng nhất không thể bỏ qua. Chọn được ngày tốt, gia chủ nhờ một người nào đó trong thân tộc, vợ chồng song toàn, lắm con nhiều cháu làm ăn phát đạt để đưa cây đòn dông (vịn vào) cùng với số lượng mấy người phụ đỡ lên gian chính giữa. Trong khi làm lễ, cây đòn dông đó được buộc hai cành lá thiên tuế, một vài vuông vải đỏ hay lụa đại hồng có vẻ hình bát quái, quyển lịch Tàu hay sách chữ Nho.
7.- Lễ cái ốc (蓋屋) :- bắt đầu lợp nhà
8.- Lễ nhập trạch (入宅) (an thổ 安土) :- lễ này cúng báo để tổ tiên biết, nhà đã làm xong. Trong số lễ vật đó có gạo rang trộn với nước để rắc vào bốn góc nhà.
9.- Lễ động sàng (動床): cúng báo gia tiên để dọn về nhà mới và được kê gia cụ vào nhà.
10.- Lễ  tân gia (新家) (lễ  hoàn thành完城 hay còn gọi là lễ lạc thành落成, lễ cài sào):-  gia chủ làm lễ cúng gia tiên rồi gác thước tầm lên hai đầu cột cái của gian chính giữa.
Lễ này tổ chức ăn uống mời bà con họ hàng, khách khứa  xa  gần tới dự. Những người được mời thường đem tiền, câu đối, pháo đến chúc mừng gia chủ.
11.-Lễ  hoàn công (還工) (trả công thợ) :- lễ này do thợ tổ chức cúng Tổ Sư  Lỗ Ban ,để nhận tiền công.
12.-Lễ an cư (安居): làm lễ tạ tổ tiên, thổ thần để báo cho biết chủ nhân đã làm ăn yên ổn trong nhà mới.
(Nhược  Thủy-Theo Ngọc Hạp)

Thứ Ba, 7 tháng 12, 2010

PHÉP THẢ ĐÒN TAY NHÀ

Phép thả đòn tay nhà, người ta thường tính theo Trực, muốn tính theo Trực phải biết thứ tự của Trực, cách tìm Trực chủ và Trực thuộc Ngũ hành.
1THỨ TỰ CỦA 12 TRỰC: Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thâu, Khai, Bế.
2. TÌM TRỰC CHỦ NHÀ: Muốn tìm Trực phải biết người đó tuổi gì, mạng gì rồi theo câu này mà tìm:
“Trâu Vàng, Chó Lửa, Dê Gỗ, Đất Nước Rồng”.
Trâu là Sửu, Vàng là Kim. Người mạng Kim thời khởi Kiến tại Sửu thuận tới tuổi của người đó thì biết được Trực.
Chó là Tuất, Lửa là Hỏa. Người mạng Hỏa thì khởi Kiến tại Tuất tính như trên.
Dê là Mùi, Gỗ là Mộc. Người mạng Mộc khởi Kiến tại Mùi tính như trên.
Đất, Nước là Thổ và Thủy, Rồng là cung Thìn. Người mạng Thổ hay mạng Thủy thì khởi Kiến tại cung Thìn rồi tính như trên.
Như người tuổi Hợi, mạng Mộc, khởi Kiến tại Mùi, Trừ tại Thân, Mãn tại Dậu, Bình tại Tuất, Định tại Hợi. Vậy người tuổi Hợi, mạng Mộc thuộc Trực Định. Tùy mạng của người điểm đến tuổi là đúng.
3. TRỰC THUỘC NGŨ HÀNH (Có bài thơ cổ nói rõ):
Cầm gươm mà chém ThànhKhai,
Người  có tài 3 gả thuộc KIM.
Định thì độc MỘC thù hiềm
TrừNguyThâu THỦY Bình tâm chế hoài
Chấp tay, Phá trận HỎA sài
MãnKiến tranh THỔ đua tài ai hơn.
Hai câu đầu nói 3 Trực  Thành, Khai và Bế thuộc KIM.
Câu 3 nói chỉ có một Trực Định thuộc MỘC.
Câu 4 nói bốn Trực: Trừ, Nguy, Thâu, Bình đều thuộc THỦY.
Câu 5: nói Trực Chấp và Trực Phá thuộc HỎA
Câu 6: nói Trực Mãn và Trực Kiến thuộc THỔ.
Sổ đòn tay mái nhà có hiệp Trực mà Trực thuộc Ngũ hành nên có sự sanh hạp hoặc xung khắc. Đòn dông làm Trạch chủ, Đòn tay thuộc vợ con và của cải, nếu Trạch chủ khắc xuống Đòn tay thì vợ con đau ốm, của tiền hao tán, bằng khắc ngược lại thì Trạch chủ bị nguy: tai nạn, đau ốm liên miên.

Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2010

PHƯƠNG HƯỚNG TU TẠO

Nói đến phương hướng tu tạo gồm có hướng nhà, hướng bếp và hướng cửa ngỏ ra vào.
Về phương thì có 8 phương là Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông nam, Tây nam, Đông bắc, Tây bắc.
Phương Đông là phương Chấn hay phương Mẹo, phương Tây là phương Đoài hay phương Dậu. Phương Nam là phương Ly hay phương Ngọ. Phương Bắc là phương Khảm hay phương Tý. Phương Đông nam là phương Tốn, phương Tây nam là phương Khôn, phương Đông bắc là phương Cấn, phương Tây bắc là phương Càn.
Về hướng thì có 24 hướng cũng gọi là 24 sơn hay 24 sơn hướng là Tuất, Càn, Hợi; Nhâm, Tý, Quý; Sửu, Cấn, Dần: Giáp, Mẹo, Ất; Thìn, Tốn, Tỵ; Bính, Ngọ, Đinh; Mùi, Khôn, Thân; Canh, Dậu, Tân.
Nhà ở, người ta day theo 8 phương hay 8 cung mà chọn tốt xấu; còn lò, bếp và cửa ngõ thì dựa theo 24 hướng mà chọn tốt xấu. Xin coi đồ hình tóm lược về phương vị Bát quái sau đây:
Vị trí của 8 cung và 24 sơn hướng ở hình Bát quái trên là vị trí cố định không thay đổi. Vòng ngoài là 24 hướng để lò, bếp vị trí nào tốt dùng khoanh trống (o), vị trị nào xấu để chấm đen (•). Trong 8 cung có chia ra làm: Đông tứ trạch và Tây tứ trạch.
Đông tứ trạch là: Khảm, Ly, Chấn, Tốn.
Tây tứ trạch là: Khôn, Cấn, Càn, Đoài.
1. VỀ HƯỚNG NHÀ :
Những người tuổi thuộc Đông tứ trạch làm nhà phải day mặt qua phương Đông tứ trạch mới tốt, còn 4 cung Tây tứ trạch là hung.
Những người tuổi thuộc Tây tứ trạch làm nhà phải ngó mặt qua Tây tứ trạch mới tốt, còn 4 cung thuộc Đông tứ trạch là hung.
Thí dụ: Người tuổi mạng Khảm (tuổi thuộc cung Khảm), nếu làm nhà day qua hướng: KHẢM được Phục vì, hướng LY được Phước đức (Diên niên) hướng CHẤN được Thiên y, hướng TỐN được Sanh khí; nhược bằng ngó qua hướng KHÔN phạm Tuyệt mạng, hướng CẤN phạm Ngũ quỷ, hướng CÀN phạm Lục sát, hướng ĐOÀI phạm Họa hại … các tuổi khác sau sẽ có bản đồ, các bạn cứ theo đây suy tìm ở bản đồ thì rõ.
2.CÁCH ĐẶT LÒ BẾP:

PHÉP LÀM CỬA LỚN(ĐẠI MÔN)

Về ĐẠI MÔN, ta nên đọc thêm bài này ở Thông Thiên Chiếu Thủy Kinh cho rộng nghĩa:
1. Quỷ nhập Lôi môn thương Trưởng tử,
2. Hỏa kiến Thiên môn thương Lão Ông,
3. Ly xâm Tây Đoài phương thương Nữ.
4. Tốn nhập Khôn vị Mẫu ly Ông,
5. Đoài phòng Chấn, Tốn Trưởng nhi nữ,
6. Cấn, Ly Âm phụ hoại gia phong,
7. Cấn, Khảm tiểu khẩu đa tật bịnh
8. Khôn, Khảm Trung nam mạng tảo chung.
Muốn hiểu bài này, cần phải nhắc lại mấy điểm sau đây:
1. NGŨ HÀNH TƯƠNG SANH: Kim sanh Thủy, Thủy sanh Mộc, Mộc sanh Hỏa, Hỏa sanh Thổ, Thổ sanh Kim.
2. NGŨ HÀNH TƯƠNG KHẮC: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.
3. BÁT QUÁI SỞ THUỘC NGŨ HÀNH: Càn, Đoài thuộc Kim, Khôn, Cấn thuộc Thổ, Chấn, Tốn thuộc Mộc, Khảm=Thủy, Ly=Hỏa.
4. BÁT QUÁI TIÊU BIỂU:
CÀN: Trời, Cha, Ông già, Chồng.
KHÔN: Đất, Mẹ, Bà gia, Vợ.
CHẤN: Sấm, Trưởng nam (con trai lớn)
TỐN: Gió, Trưởng nữ (con gái lớn)
KHẢM: Nước, Trung nam (con trai giữa)
LY: Lửa, Trung nữ (con gái giữa)
CẤN: Núi, Thiếu nam (con trai út)
ĐOÀI: Đầm (hồ), Thiếu nữ (con gái út)
(Càn vi Thiên, Khôn vi Địa, Chấn vi Lôi, Tốn vi Phong, Khảm vi Thủy, Ly vi Hỏa, Cấn vi Sơn, Đoài vi Trạch)
Giải thích bài trên:
CÂU 1: Quỷ nhập Lôi môn thương Trưởng tử: Quỷ tức Ngũ quỷ. Lôi môn, Lôi là Chấn Mộc. Chấn mà phạm Ngũ quỷ tức Chấn phối với Càn (Càn phối với Chấn cũng phạm Ngũ quỷ). Như chồng Càn vợ Chấn hay chủ nhà Càn tu tạo phương Chấn hoặc trái lại, đều phạm Ngũ quỷ. Cửa chánh phương Càn, khởi tạo phòng ốc hướng Đông Chấn là hung. Bởi Càn thuộc Kim khắc Chấn Mộc. Chấn thuộc Trưởng nam, nên ứng hại ngưòi con trai trưởng. Cung Càn thuộc Tây tứ trạch, cung Chấn thuộc Đông tứ trạch, Tây phối với Đông không hợp, nên bất cứ người mạng nào ở đó cũng hung. Để bàn thờ hướng Chấn cũng kỵ người mạng Càn, người mạng Càn mà cửa hướng Chấn cũng hại Trưởng tử, cưới tuổi Chấn sanh con cũng khó dạy, tạo phòng hướng Chấn đến ngày tháng ứng hung chết Trưởng tử. Nam, nữ mạng Càn đường ra vào hướng Chấn cũng hung.

Thứ Hai, 10 tháng 5, 2010

Tìm hiểu Lỗ Ban và ứng dụng thước lỗ ban trong phong thủy


Lỗ Ban tương truyền là ông tổ của nghề mộc đã được hoá thân thành Thánh đã phát minh ra cây thước Lỗ Ban. 
Cây thước Lỗ Ban có rất nhiều thuyết khác nhau liên quan đến xuất xứ của nó. Chỉ biết rằng trong Phong Thuỷ thì nó được ứng dụng để đo chiều dài trong thiết kế nhà cửa và âm phần...
Thước Lỗ Ban hiện đại
Lỗ Ban là ai?

Lỗ Ban (hoặc) được xem là ông tổ của nghề mộc và nghề xây dựng. Có vài thuyết về lai lịch của ông. Lỗ Ban là thợ mộc giỏi của nước Lỗ (nay là tỉnh Sơn Đông) thời Xuân Thu (770-476 TCN). Tên ông là Ban (hoặc), họ là Công Thâu . Lỗ Ban nghĩa là "ông Ban người nước Lỗ".

Tượng thờ Lỗ Ban ở Đài Loan. Chân tượng có khắc chữ
Xảo thánh Tiên sư , tức là Lỗ Ban Công . (http://taipedia.cca.gov.tw).

E.T.C. Werner (A Dictionary of Chinese Mythology) cho rằng Lỗ Ban sinh năm 506 TCN. Cha là Công Thâu Hiền. Công Thâu Ban thuở trẻ là thợ giỏi về các loại vật liệu như gỗ, đá, kim loại. Năm 40 tuổi ông ở ẩn trên núi Lịch Sơn, tu luyện pháp thuật.

Một thuyết khác cho rằng Lỗ Ban là người Đôn Hoàng , Túc Châu (nay là huyện Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc), thời Chiến Quốc (475-221 TCN). Ông có tài nghệ tinh xảo, chế tạo diều gỗ cho người ngồi trên đó bay đi do thám thành trì nước Tống.

Một thuyết khác lại cho rằng ông tên là Công Thâu Ban, thường gọi là Công Thâu Tử , vốn là con của Lỗ Mục Công (có sách chép là Lỗ Chiêu Công). Tương truyền Công Thâu Tử chế tạo nhiều loại máy móc, có thể dùng trong tác chiến, thí dụ như thang mây (vân thê) bắc lên tường thành để công phá thành. Mặc Tử là người chủ trương phản chiến, từng đánh bại Công Thâu Ban về kỹ thuật công phá thành. Sách Mặc Tử, thiên Công Thâu chép: "Công Thâu Ban làm thang mây cho nước Sở xong, sắp đem đi đánh Tống. Mặc Tử nghe tin, bèn đi suốt mười ngày mười đêm từ nước Lỗ đến kinh đô của nước Sở để yết kiến Công Thâu Ban. [...] Mặc Tử cởi đai lưng giả làm thành, lấy thẻ tre giả làm khí giới. Công Thâu Ban chín lần bày cách đánh thành giả ấy nhưng Mặc Tử chín lần cự lại. Công Thâu Ban dùng hết khí giới đánh thành mà Mặc Tử thì còn cách chống giữ. Công Thâu Ban chịu thua".

Theo các thuyết trên, từ điển Từ Hải nói nên xem Lỗ Ban và Công Thâu Ban là hai người khác nhau. Trong dân gian thường truyền tụng về sự linh nghiệm của bùa Lỗ Ban, thước Lỗ Ban, v.v... Thợ mộc và thợ xây dựng thờ Lỗ Ban làm tổ sư, ngày vía là 13 tháng 6 Âm lịch.

Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2010

Tuyển trạch cầu chân-Quyển 2

Quyển 2 :
SÁCH CHỌN NGÀY GIỜ DỰNG NHÀ – CHÔN NGƯỜI CHẾT, NAM NỮ HỢP HÔN
BÀN VỀ BỔ LONG
(Làm nhà, để mộ như nhau)
Khâu bình Phủ nói: “ Trước hết xem gió nước để quyết định dấu vết, sau xem năm, tháng nên đồng nhau, Cát, Hung hợp lý xen lẽ huyền diệu, nên quay tới Sơn đầu tìm vượng Long.”
Phàm vào làng nào mà thấy Sao, Ngọn núi lạ lùng khác hẳn, Long Thần tốt đẹp trội hẳn lên, làng ấy giàu sang không nghi ngờ gì. Làng nào mà thấy sườn núi quanh co rối loạn, Long Thần thấp yếu, làng ấy nghèo hèn không nghi ngờ gì. Gốc họa phúc đều thuộc về Long, chọn ngày mà không bổ Long, thì hà tất chọn. Biết thuyết bổ Long, thì đã nắm được cái then chốt huyền bí của đạo ấy.
(Sách có nói: “Phú Long nên tìm phú niên, nguyệt. Quý Long thì tìm Quý kỳ Quý cách. Tìm Sơn gia biết được chân phú quý, nên kén phú quý cả hai tình tin thực”, cho nên người xưa đều lấy bổ Long làm trọng).
Phàm Long ở xa không bàn, chỉ đơn độc lấy Mạch tới Huyệt là chủ, lấy Chính lý Ngũ Hành bàn sinh khắc, Tứ Trụ Bát tự sinh giúp vào thì Cát, khắc tiết thì Hung.
Tịch mậu nói: Long thì có Long vào đằng đầu, có Long ở chính thần. Long vào đằng đầu, là chí khí tới đằng đầu một tiết nhỏ. Long chính thân, hoặc quanh bên tả, quanh bên hữu, mà tiết ấy nhiều ; hoặc cao, thấp, dầy, mập, mà tiết ấy dài, nên bảo rằng Long đi thấp đại mới thành Long vậy. Bổ Long vào đằng đầu phát phúc chóng, Bổ Long chính thân phát phúc chậm mà được khá lâu . Nhưng Bổ Long chính thân chỉ bàn thế lớn, như Long Càn Hợi, Nhâm Tý, đều đến bản vị để phân ngũ hành, mà mưu toan chọn để bổ. Bổ Long vào đằng đầu thì lấy bình phân 60 mà xét khí thuộc Giáp Tý nào, cho nên người xưa có dùng Tứ trụ Nạp Âm, để bổ Long Nạp Âm.
Như Trường Trưởng lão làm cho Hoàng thị ở Uyển cương, Phong thành, khóa táng đó. Xét bổ Long thân ấy là vu khoát xa xôi. Bổ Long vào đằng đầu tất lấy bình phân 60 là câu nệ vậy. Người xưa dù có dùng, mà xét lấy Mạch vào đằng đầu xem 24 phương vị, nắm được ngũ hành là chánh tông.
Không cần hỏi Âm trạch Dương trạch, đến chỗ kết huyệt, tất có một dây Mạch nhỏ, tử tế mà xét định, tức lấy La Kinh xét cho đúng ngôi chữ gì, nếu thuộc Mộc thì dùng cục Hợi Mão Mùi, thuộc Kim thì dùng cục Tỵ Dậu Sửu, thuộc Hỏa thì dùng cục Dần Ngọ Tuất, thuộc Thủy thì dùng cục Thân Tí Thìn, đó là cục Vượng vậy. Hoặc dùng cục Ấn mà Sinh (như Hỏa long dùng cục Mộc, Mộc Long dùng cục Thủy, Thủy long dùng cục Kim ..v…v…) cũng được. Nhưng Long hùng mà đới Sát, nên dùng cục Tài (như Hỏa long thì dùng cục Kim …v…v…). Nếu trong hang núi đất âm u, trội lên mở ra cái lỗ trũng, gần huyệt chỉ có vòng tròn không mạch nhỏ, vòng tròn nếu rộng không phải là mạch, nên ở sau núi, chỗ thắt đáy lưng ong, xét mà bổ vào. Phàm chỗ Tỉnh, Thành, Quận, Huyện, phải hướng Ngọ thì hướng Bính Đinh. Hướng Ngọ tất Long Nhâm Tý; hướng Bính Đinh tất Long Hợi Cấn đều lấy cục Thân Tí Thìn, nhưng Mạch chính đã kết vào Nha Thự (nơi công sở các quan). Dân cư hoặc Đông, hoặc Tây, đều là trên Mạch chia ra từng chi mà tới ngang, chẳng biết thuộc Ngũ Hành nào, chỉ lấy bổ Toa Sơn là chủ. Từ đây trở ra ngoài đều bổ Mạch, mà chỗ đất âm u càng khẩn yếu, vì táng là nhân một sợi dây sinh khí. Khí Long suy hay vượng, hoàn toàn xem Nguyệt lệnh (lấy chính lệnh đã chép để làm trong 12 tháng). Cho nên bổ Long tất ở tháng Tam Hợp, hoặc tháng Lâm Quan, thì tháng Mộ cũng là tháng Vượng, không phải là lệ suy, bệnh vậy. Vì cung Sửu có Tân Kim, cung Thìn có Quý Thủy, cung Mùi có Ất Mộc, cung Tuất có Đinh Hỏa, cố nhiên biết 4 cung; Mộ là Vượng chứ không phải là Suy, cho nên phải dùng cục Tam Hợp.
Phàm Bổ Long hoàn toàn ở Tứ Trụ Địa Chi, vì Thiên Can khí nhẹ, Địa Chi sức nặng. Cũng có khi lấy Thiên nguyên nhất Khí mà bổ, như Giáp Long dùng 4 Giáp; cũng có khi lấy Địa nguyên nhất Khí mà bổ, như Mão Long dùng loại 4 Mão, thì rất thần diệu, nhưng khí được nhiều, hơn 10 năm mới gặp một lần, mà lại hoặc Nguyệt gia, Nhật gia, Sơn hướng đều không hợp, thì có thể làm gượng được ru! Không bằng cục Tam Hợp hoạt động dễ lấy.
Cục Tam hợp chỉ cốt ở trong tháng Tam Hợp, tháng Sinh, tháng Vượng, tháng Mộ đều được. Nếu trong 3 tháng ấy có Hung thần chiếm phương, thì tháng Lâm quan cũng khá gọi là cục Tam Hợp kiêm Lâm quan Địa Chi nhất khí. Hoặc là Tứ Sinh, Tứ Vượng thì không nên, dùng chữ Tứ Mộ Tam Hợp bất tất tất hoàn toàn 2 chữ cũng được (như cục Thủy dùng Thân Tý hai chữ, hoặc Thân Thìn 2 chữ đều là Hội Cục). 12 Long tính Âm nên dùng Âm khóa, 12 Long tính Dương nên dùng Dương khóa. Dương Công có câu: “ cốt yếu Âm Dương không lẫn lộn ” là thế đó. Nhưng Long Ngũ hành đều có Dương, có Âm, mà cục Hợi Mão Mùi, Tỵ Dậu Sửu, đều là Âm cả; cục Thân Tí Thìn, Dần Ngọ Tuất, đều lại là Dương cả. Cho nên khóa cũ cũng không câu nệ lắm về thuyết Âm Dương.
Người xưa Tạo Táng tám chữ, phần nhiều lấy Địa Chi Bổ Long, lấy Thiên can bổ Chủ Mệnh, hoặc cùng với Mệnh Tỷ Kiên nhất khí, hoặc hợp Tài, hoặc hợp Quan, hoặc hợp Lộc Mã Quý nhân; lại hoặc Thiên Can hợp Mệnh, mà Lộc Mã Quý Nhân tới Sơn. Địa Chi lại bổ Long Mạch, thì là Thượng Thượng cục của Bát Tự vậy. Một bọn nhà sư đời Đường, Thác trưởng Lão đời Tống, đều lấy Tứ Trụ Nạp Âm để bổ Long, bản mộ nạp âm, cũng rất ứng ứng nghiệm, nhưng không bằng sức của Địa Chi.
Lại có thể bàn về Nạp Âm, thì phép ấy là không bàn Nạp Âm của Bản Long, mà ở Mộ thượng của Long khởi Nạp Âm để bàn Sinh Khắc, như năm Canh Dần làm Tuất Sơn, Tuất Long. Chính Ngũ hành thuộc Thổ Thủy Thổ mộ. Năm Thìn cung dùng Ngũ Hỗ độn đến Thìn là Canh Thìn, Kim âm Bát Tự nên lấy Kim âm, Thổ Âm thì cát, Hỏa âm thì khắc Long Mộ, là Hung. Đây vốn là Hồng Phạm chuyển vận, mà người bàn cùng với ý của một bọn nhà sư và Thác Trưởng Lão có khác, cũng nên tham khảo để xem thêm.
Phàm lấy cục Tam Hợp bổ Thủy Long; cục Mộc Tam hợp bổ Mộc Long là cục Vượng. Thượng cát là lấy Tam hợp cục Kim sinh Thủy Long, Tam hợp cục Thủy sinh Mộc Long là cục Tướng, lại là cục Ấn thụ. Cát thứ là: Thủy Long dùng Tam Hợp cục Thủy là cục Tài, nhưng Long Hùng đới có Sát, bất tất lại Bổ nữa, thì dùng Tam Hợp cục Tài, không bổ cũng không tiết lậu.

Thứ Tư, 7 tháng 4, 2010

THƯỚC LỖ BAN

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại thước LỖ BAN: 43cm, 48cm, 52cm, 23cm... Nay NCD xin giới thiệu hai loại được xem là thông dụng, tức là đã in sẵn trên cây thước kéo bày bán trên thị trường. Xin các anh chị, các bạn hãy nhớ cho: Hàng trên dùng cho Dương Trạch, Hàng dưới dùng cho Âm Trạch. Ở đây, vì không để choán chỗ nhiều, nên NCD sẽ ghi chung hàng, cách nhau bởi một vạch ngang, mong các anh chị thông cảm nhé!
5cm: Nghinh Phúc_ Khẩu Thiệt, Bệnh Lâm.
6- 7- 8cm: Trên dưới đều xấu, kỵ dùng.
9cm: Lao Chấp_ Hỷ Sự.
10cm: Cô Quả_ Tấn Bửu.
11cm: Trường Khố_ Nạp Phúc.
12- 13- 14- 15cm: Trên dưới đều xấu , kỵ dùng.
16cm: Thất Thoát_ Đại Cát.
17cm: Thiêm Đinh_ Tài Vượng.
18cm: Ích Lợi_ Ích Lợi.
19cm: Quý T _ Thiên Khố.
20cm: Quý Tử_ Phú Quý.

Tuyển Trạch Cầu Chân-Quyển 1

Tựa tập Tuyển Trạch Cầu Chân  
Tư Mã Ôn có nói: Bói nhà ở, bói lành, trước bàn việc người, sau hỏi bói rùa, không đất thường, ngày thường vậy. Kịp đến thời nhà Tần nhà Tấn, sự huyền bí Âm Dương đã tiết lậu, đạo khắc trạch nảy nở dần dần. Dương Quân Tùng đời đường mở sự sâu xa ra, dựng nhà ở chôn người chết nên chọn ngày, vốn là lẽ chính của Ngũ Hành, thuận thời tiết của 4 mùa, sau xét đến Vượng, Tướng, Hưu, Tù. Thi hành thì lấy Sinh, Khắc, Chế, Hóa, Phù Long, Tướng Chủ, theo lành, tránh dữ, khúc chiết hết cái diệu (hay), do đó làm nên thiên Tạo Mệnh để trao cho Tăng Văn Sơn, Trần Hi Di truyền bá. Các ông Ngô Thành, Ngô Cảnh Loan, Liêu Kim Tinh đều là người danh tiếng các triều đại cũng đều noi theo Tạo Mệnh của Dương Công. Nhưng những thuật giả dối khoe khoang sự lạ của các nhà có kéo nhau, phụ họa nhau, nhờ danh Dương Công để làm hổn độn ở trên đời.
Than ôi ! Lòng trời há có chán bậc tiên hiền tiết lậu hết mà khiến bọn giả dối này làm rối loạn sự thực ru!
Trước tôi bị sa vào cái thuật ấy, may được Mạch Chu thiên sứ cho biết bến mê, được giác ngộ ý Tạo Mệnh, chỉ một cuốn Tuyển trạch ấy chở đầy xe, xếp đầy nhà, thật giả đều truyền bá ở đời này, dù có kẻ biết là giả, nhưng xét ra chưa từng trỏ thẳng cái chỗ không phải, thời đời sau há chẳng bị nhầm mãi mãi ru! Do đó không thể giữ được buồn mà than rằng: “Những cây cỏ xấu mà không trừ bỏ thời lúa tốt lành làm sao mà mọc lên được?”.
Thực không phải nói vu vơ vậy! Chừng ấy mới rộng lấy các sách, chọn cái lý gì chính đáng thời chép ra, cái nhầm thời bỏ đi, tôn sung tạo mệnh của Dương Công, theo các vì sao nói trong Hiệp kỷ của Quốc Triệu, xếp đặt thành thiên phụ thêm ý kiến vào nửa, ở trong thiên có sự chồng chất lên, chả là những ý cùng nhau phát minh ra, nhân đặt tên thiên là Tuyển Trạch Cầu Chân .
Năm Gia Khánh thứ 14, năm Kỷ Tỵ, mùa thu tháng 8 Cách Thành Minh Viễn .
Hồ Huy Ứng quang thị viết ra ở nhà Huệ Cát .


Tựa của Tụ Chân
Thiên Tuyển Trạch Cầu Chân tự đâu mà thành ra? Thành ra tự tay Minh Viên Hồ Quân. Hồ Quân làm sao mà làm ra thiên này? Hồ Quân không nỡ để thuật giả dối làm ngu người ta, cho nên lấy ở bài bàn có danh tiếng để cầu được chính xác. Thiên này do Hồ Quân làm ra tại sao tôi lại làm bài tựa? Vì Minh Viễn Hồ Quân là bạn tốt của tôi, tôi vốn chứa sức học từ thuở bình sinh, phàm những sách Kinh, Sử, Tử, chẳng sách nào là chẳng học đầy đủ mà rất tinh về thuật lý.

Tuyển Trạch Cầu Chân

Tôi có một cái tật cố hữu gặp được một cuốn sách hay thì đọc quên ăn quên ngủ cho xong, mươi bữa có khi lại quên mất nội dung lại giở sách ra đọc lại nghiền ngẫm, cái lối đọc đó tôi chẳng biết gọi lài gì, nhưng  cái lối đọc nhanh, chậm, chậm dần, chậm nữa, chậm chậm nữa ..đối với tôi có nhiều điều thú vị.
Tuyển Trạch Cầu Chân-Cuốn sách này huynh Trường Minh post bên TGVH, tôi xin phép post lại trên Blog của mình để có thêm tư liệu nghiên cứu và hầu bằng hữu nếu ghé qua đây có cái để đọc. Theo sách thì "chọn cái lý gì chính đáng thời chép ra, cái nhầm thời bỏ đi, tôn sung tạo mệnh của Dương Công, theo các vì sao nói trong Hiệp kỷ của Quốc Triệu, xếp đặt thành thiên phụ thêm ý kiến vào nửa, ở trong thiên có sự chồng chất lên, chả là những ý cùng nhau phát minh ra, nhân đặt tên thiên là Tuyển Trạch Cầu Chân (Năm Gia Khánh thứ 14, năm Kỷ Tỵ, mùa thu tháng 8 Cách Thành Minh Viễn. Hồ Huy Ứng quang thị viết ra ở nhà Huệ Cát.)

Theo đó sách gồm 7 cuốn nội dung như sau :
Quyển 1:
_ Tựa tập Tuyển Trạch Cầu Chân
_ Tựa của Tụ Chân
_ Tuyển Trạch biện chính
_ Bàn về sự nhầm lẫn của các phép Đẩu Thủ
_ Bàn về Tuyển Trạch
_ Bài biểu của Ngô Cảnh Loan dâng cuốn "Âm Dương Thiên cơ"
_ Bài biểu của Ngô Cảnh Loan nói về "Tuyển Trạch Ngũ Hành":
_ Nêu sự cốt yếu về Tuyển Trạch
_ Bài ca về Tuyển Trạch diệu dụng
_ Bàn về sinh khắc chế hoá
_ Bài ca Tạo Mệnh thiên kim
_ Nói rõ Tinh, Thần
_ Kinh Nghi Long
_ Bàn bạc chính xác về Thần Sát

Quyển 2: Cách chọn ngày giờ dựng nhà_ chôn người chết_ nam nữ hợp hôn.
_ Bàn về Bổ Long.
_ Khoá xưa về Bổ Long
_ Bàn về Phù Sơn
_ Bàn về Lập Hướng
_ Bàn về Tướng Chủ
_ Cách cục về Tạo Mệnh
_ Bàn về lấy dùng Chính Ngũ Hành Sinh, Vượng
_ Tóm bàn về Tứ Trụ
_ Phép dùng Niên
_ Phép dùng Nguyệt
_ Phép dùng Nhật
_ Phép dùng Thời
_ Tứ Đại Cát thời
_ Lệ về Âm Dương Quý
_ Biểu tổng quát 720 khoá giờ Quý Nhân đăng Thiên Môn

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2010

BÁT QUÁI TRẠCH ĐỒ

Sau đây là đồ Bát quái để coi phương hướng, phòng trang (phòng ốc), bếp núc và cửa nẻo. Tám đồ này chỉ rõ nhà trạch nào hạp tuổi nào, cũng có thể coi người mạng gì (Càn hay Khảm …) phương nào tốt, phương nào xấu. Vòng trong là 8 tượng Bát quái, vòng 2 là 8 phương, vòng 3 là 24 sơn để bếp, vòng 4 là 24 sơn để cửa.
Khi tìm phương hướng phải dùng La bàn mới đúng được. Cây kim La bàn lúc nào cũng chỉ hướng Chánh Bắc, đuôi kim là Chánh Nam. Nếu ta đứng nhìn theo hướng cây kim của La bàn chỉ, thì trước mặt là Chánh Bắc, sau lưng là Chánh Nam, bên tay mặt là Chánh Đông, bên tay trái là Chánh Tây.
Trong La bàn người ta chỉ về bốn phương chánh, thường dùng những chữ viết tắc này: N=Bắc=North; S=Nam=South; E=Đông=East; W=Tây=West.
Khi muốn tìm phương tùy theo chủ nhà mạng gì: Càn hay Khảm … để chọn đồ Bát quái ở sau, rồi lấy La bàn đặt lên giữa đồ Bát quái đó, xây cái La bàn sao cho cây kim của La bàn chỉ đúng chữ N trong La bàn và xây bảng đồ Bát quái cho phương Bắc đúng chỗ cây kim La bàn. Bấy giờ mới tìm phương tốt xấu.
Nên biết các tượng Bát quái trong 8 đồ Bát quái ở sau đều xây đầu vào trong đuôi trở ra ngoài (thượng hào bên trong, hạ hào bên ngoài).


TRẠCH CÀN TU TẠO
CÀN phối với ĐOÀI tuy được SANH KHÍ nhưng kỵ nhau chớ dùng