Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012

KHI KHIÊM TỐN TA ĐƯỢC GÌ MẤT GÌ?

Tâm lý thường gặp là sợ nếu khiêm tốn thì sẽ bị người khác xem thường, bị chê bai là kém cỏi. Thật ra khi khiêm tốn, cái ta mất đi chỉ là các thói xấu: tính kiêu căng, tự cao, khoe khoang, hợm hĩnh, những thứ nếu giữ nó ta sẽ mất rất nhiều trong cuộc sống. La Rochefoucauld Chỉ rõ: “Ta tỏ vẻ hơn người thì người sẽ trở thành kẻ thù của ta; chịu nhường người thì người sẽ liên kết với ta”.
Người khiêm tốn nhận được nhiều lợi thế trong cuộc sống, hiểu kiến thức của mình rất giới hạn, nên biết lắng nghe điều hay, lẽ phải từ mọi người, nhỏ nhẹ khi nói chuyện hoặc tranh luận, không chạm lòng tự ái của người khác. Người có tài như Newton còn nghĩ: “Những điều chúng ta biết chỉ là một giọt nước, những điều chúng ta không biết là cả một đại dương”.

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2012

Một Gốc Dứa Có 21 Trái

Trung tuần tháng Tư năm 1993, nhằm mùa Pimay Lao ( Tết Lào ) tôi về lại Lào nhân chuyến công tác thiện nguyện cho Hội Học Đường Không Biên Giới ( Ecoles Sans Frontière ) và đã được nhìn tận mắt một cảnh lạ tại Ban That, cách Savannakhet 15 cây số, nơi tọa lạc tháp IngHang nổi tiếng, trong đó, theo truyền thuyết có lưu giữ xá lợi của Đức Phật là một sợi tóc. Cảnh lạ đó là một gốc dứa ( thơm / khóm ) lại kết được những hăm mốt ( 21) trái ! Con rể chủ vườn là người Việt, em trai của một người bạn cũ nay đã qua đời. Lần thứ nhất tôi theo gia đình ra xem, chùm dứa 21 trái, mỗi trái to cở nắm tay người lớn. Thâm tâm tôi thắc mắc nhưng chưa dám mạo muội kiểm chứng. Khách viếng tấp nập. Mỗi đầu người vào xem phải cúng dàng 100 Kịp ( tiền Lào ) để góp phần vào việc tu bổ các chùa trong vùng. Truyền hình Lào có đến thu hình và cho phổ biến khắp nước. Một tuần sau tôi ra xem lại, đi cùng cô bạn học cũ tên L. từ HongKong về thăm nhà, 21 trái dứa đã to hơn chút đỉnh và đã được chủ vườn làm hai vòng hàng rào bao quanh, lại có thêm hương hoa nhang khói nghi ngút, người Lào gọi là Bu-Sa.

Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2012

Cuộc đấu phép giữa Ma Lai và thầy phù thủy

Theo lẽ còn một số thiên sứ mang hình ảnh Ấn Phật mà người Lào rất sùng kính như Phra In ( Thượng Đế ), Phí Thén, Phí Phrả ( Trời ), Nang Thorani ( nữ thần đất ), Thén Tẻng hay Pissanoukan ( thần mỹ thuật ), Thén Lổ ( thần chủ trì việc hợp nhất và tổ chức nhân quần ) v.v... và có thể lạm bàn liên miên về vô số Phí thuần Lào khác trên đất Lào như Phí Đôồng ( ma đồng ), Phí Pà ( ma rừng ), Phí phửm ( ma núi ), Phí Pủ tà ( tổ tiên, ông bà ), Phí Phò ( cha ), Phí Mè ( mẹ ) ... song thiển nghĩ như trên cũng tạm đủ để hiểu sơ về Phí, nhất là tạm đủ để hình dung tiềm năng tưởng tượng dồi dào của người Lào trong quá trình tạo ra thế giới Phí của riêng họ, trên đất nước họ, trong cuộc sống và lẽ sống của chính họ mà xét ra còn thật hơn thế giới - nghe nói và chỉ mới nghe nói sẽ đồ sộ huy hoàng - mà một nhúm người đã và đang tàn tâm, tàn lực mộng mơ. Dân số Lào quá ít lại quá đôn hậu để có thể thử thách lâu hơn nữa trong việc tạo dựng thế giới đồ sộ huy hoàng viễn mơ nầy. Cũng như ở hải ngoại, chuyện bán đất trên trời trong cộng đồng tị nạn đã đi trước cơ quan NASA của Hoa Kỳ những hai, ba mươi năm nay. Đa số rao giá cả là tùy hỉ, tùy tâm. Bán đất trên trời để ganh đua phóng lao tạo dựng những cơ ngơi nghênh ngang dưới đất vốn chính họ cho là cõi ta bà cát bụi, huyễn mộng, hư không ... :

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2012

Ma quỉ trên đất Lào


Tác giả Hàn Lệ Nhân

Khi bạn hỏi một người Lào : " Ma là gì, có thật hay không ( Phí mèn nhắng, mi thẻ lứ bò ? " . Họ sẽ thành thật trả lời : " Cũng không biết nữa ( kà bò chắc léo ) hay chằng-và là nơ ( thì thế ). Câu trà lời thứ nhì có ngụ ý Có và Không, tức bạn muốn hiểu sao thì hiểu hay nếu muốn, tùy hoàn cảnh để mà hiểu. Khi bạn hỏi họ đã từng thấy ma ( phí ) chưa mà họ có vẻ hốt hoảng trả lời bạn bằng mấy tiếng " hoày ( oái ) " hay " dzồ ( ồ ) " thì bạn nên tế nhị, lịch sự ngừng ngay việc đặt câu hỏi. Mấy tiếng " hoày ", " dzồ " là một cách biểu lộ sự … kh'lăm của họ !


Họ không thể hoặc không muốn giải thích cho bạn nhưng tựu trung Phí đối với họ là tất cả hay không là gì hết ; hoặc bất cứ một đồ vật, một hình tướng nào cũng có thể tiềm ẩn một linh hồn, một loại Phí với một tên gọi riêng biệt :


Nhận Diện Các Phí


1. Phí Koong Koi (Ma Koong Koi)


Phí Koong Koi : Ma cô độc, ma rừng núi … thích ăn ruột, gan, lòng thú và … người sống.

Thứ Hai, 15 tháng 10, 2012

Những kiêng kỵ trên đất Lào


Tác giả Hàn Lệ Nhân

Mỗi người sống lâu năm trên đất Lào dù muốn dù không đều giấu trong tâm linh cùng lúc hai hai niềm tin. Một niềm tin có định nghĩa thoát tục, xa vời : Tôn giáo. Một niềm tin với định nghĩa trần thế, hiện tiền : Dị đoan, mê tín hay tín ngưỡng dân gian. Trên lý thuyết hai niềm tin nầy đã được phân ranh rõ ràng, với hai nội dung, hai hình thức và hai cứu cánh khác nhau. Qua dị đoan, mê tín người Lào cầu tìm hạnh phúc và sức khoẻ, sự an toàn và sự bảo bọc trước mắt và tức khắc cho mỗi cá nhân và cho cộng đồng ; còn qua tôn giáo ( Phật giáo tiểu thừa nói riêng ), ngoài cứu cánh nói trên, họ cầu một giải pháp tạm thời cho các hệ lụy tâm linh trong đời sống hiện tại tức hiện sinh hay hư sinh đồng thời dự phóng một sinh lộ siêu thời gian, ngoài kiếp người tức siêu sinh hay niết bàn. Trên thực tế tại đất nước Lào, hai niềm tin nầy sinh hoạt bổ túc hài hoà, cởi mở tự nhiên trong tâm linh 6 triệu con người, đến nổi chính họ, trong đời sống hàng ngày hay trong các dịp lễ lạc, hầu như không còn băn khoăn bóc tách giữa niềm tin tôn giáo ( thứ Phụt = thờ Phật ) hay niềm tin dị đoan ( thứ Phí = thờ Ma ). Có thể khẳng định mà không sợ lầm lẫn rằng hai niềm tin nầy trên đất Lào có một mối tương quan kỳ lạ tạo nên một cấu trúc tín ngưỡng đặc thù cho đại thể dân tộc Lào (1). Các dịp lễ có tính cách dị đoan như Bun Bang Phay ( Hội pháo thăng thiên, lễ cầu mưa ), Bun Suồng Hưa ( Hội nước, lễ đua thuyền ) …

Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2012

Thư giãn:Ngắm tuyệt tác nghệ thuật body painting

Thoạt nhìn, chúng ta cứ tưởng những tác phẩm này chỉ là hình nền với đầy màu sắc sặc sỡ. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ và cẩn thận hơn, cơ thể người mẫu hiện ra hòa quyện cùng với sắc màu của phông nền.

Thông điệp mà Cecilia Paredes muốn gửi tới trong mỗi tác phẩm của mình rằng, cơ thể người phụ nữ rất thiêng liêng, mỗi người có một góc nhìn khác nhau và từ đó thấy được có thể thấy hết được sự thần kỳ mà tạo hóa đã ban tặng cho họ.

Cecilia Paredes sinh ra tại Lima, Peru, cô sống và làm việc tại Costa Rica từ năm 1998 đến năm 2004. Sau đó, cô chuyển tới Philadelphia, Hoa Kỳ. Các tác phẩm của Paredes được đón nhận nhiệt tình bởi người hâm mộ trên khắp thế giới.

Cùng ngắm những tác phẩm nghệ thuật phá cách này:


THỬ VÉN MÀN HUYỀN THOẠI AN DƯƠNG VƯƠNG

KS. PHAN DUY KHA
Cổ Loa thành ốc khác thường
Ngàn năm dấu tích chiến trường còn đây.
(Ca dao cổ)
Cũng như thời đại các vua Hùng, triều đại An Dương Vương được lịch sử ghi lại chủ yếu dựa vào truyền thuyết. Khác với thời các vua Hùng, các truyền thuyết về An Dương Vương xoay quanh một “thực thể” có thật – thành Cổ Loa. Người ta có thể thêu dệt nên huyền thoại nhưng không thể “bịa” ra cả một tòa thành. Thành Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội) là chứng tích vật chất hùng hồn của triều đại An Dương Vương. Tương truyền Cổ Loa có chín vòng thành, nay còn lại dấu tích ba vòng. Thành nội hình chữ nhật, có chu vi l,6Km, cao 5m, mặt thành rộng l0m, chân thành từ 20 – 30m. Thành giữa hình đa giác, có chu vi 6,5km, cao 6 – 12m. Thành ngoại có chu vi 8km, cao trung bình 4 -5m (trải hơn 2.200 năm bị nắng mưa bào mòn và con người tàn phá mà thành còn như thế, chắc rằng khi mới xây dựng, thành rất hùng vĩ!). Nơi đây, Thục An Dương Vương và triều đình của ông trị vì quốc gia được 50 năm (257 – 208 trước Công nguyên)(1).

Bùa ngải trên đất Lào

Chưa một chính thể nào hợp pháp hóa Khoóng-đì (bùa ngải) và khoóng-hặc-sá (vật phòng thân), nhưng không vì thế mà hai môn nầy bị giảm giá trị đối với dân Lào - tất cả, bất luận bộ tộc và giai tầng xã hội. Hầu như không người Lào nào không giữ một vài món bửu bối phòng thân tục gọi Khoóng-hặc-sá cũng như không ai ở Lào mà không từng nghe nói tới Khoóng-đì, còn được gọi là Vicha Akhom (vi-sa a-khôm).

Khoóng-hặc-sá là gì ?


- Khoóng-hặc-sá hay Vật Phòng Thân là tên gọi chung cho các lọai Kà-thá (bửu bối) do các sư Lào làm ra với mục đích duy nhất và đầy thiện ý là giúp các tín hữu trong việc phòng thân, tự vệ ; hòan tòan không thể dùng Khoóng-hặc-sá để tấn công hay làm hại người khác.


Kà-thá có nhiều hình dạng khác nhau:


A. Một miếng vải màu vàng nghệ có ghi vài bí ngữ và ẩn số hay vẽ hình kỷ hà khó hiểu.

Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

Thực hư giếng thần xứ Mường và khúc gỗ 'trấn' long mạch

Từ lâu lắm rồi, người bản Khộp xã Ngọc Lâu (Lạc Sơn, Hòa Bình) đã thấy giếng thần ngự ngay đầu bản. Và dưới đáy của giếng thần là khúc gỗ kỳ lạ cũng không biết có tự bao giờ. Nếu vớt khúc gỗ ấy lên, cả bản Khộp sẽ không còn một giọt nước.
Giếng không bao giờ cạn

Ông Bùi Văn Chấn, Chủ tịch UBND xã Ngọc Lâu tự hào: “Xã miền núi chúng tôi có cái giếng thần nghìn tuổi. Dù trời có hạn thì đồng ruộng cũng không sợ hết nước”. Nói xong, ông dẫn chúng tôi đến bản Khộp cao chót vót trên đỉnh núi để mục sở thị giếng thần kỳ lạ này.

Quan sát kỹ, đó là một mó nước đã được xây dựng lại, bốn bên được đổ bằng bê tông vuông vức. Ông Bùi Văn Huy, Trưởng ban Văn hóa xã Ngọc Lâu cho hay: “Trước đây, giếng thần là một mó nước tự nhiên. Vì sợ bị mai một nên chúng tôi cho xây dựng tường bao để bảo vệ. Tuy nhiên, tính linh thiêng và mực nước trong giếng vẫn không hề thay đổi”. Lạ cái, trải qua nhiều mùa khô hạn, nhưng nước giếng chưa bao giờ vơi cạn dù cho cả làng có múc đổ đi hay dùng máy bơm ra ngoài.

VỀ TẤM BIA THỜI TÙY (601) MỚI PHÁT HIỆN Ở CHÙA GIÀN – HUỆ TRẠCH TỰ

Nguyễn Quang Hà[1]
Chùa xã Trí Quả (Huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) tên chữ là “Huệ Trạch tự”, hay còn có tên Nôm là chùa Giàn - Một trong Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Điện, Pháp Lôi, Pháp Vũ) trong tín ngưỡng thờ tự ở vùng Dâu. Hiện nay  các vị trong làng kể lại về lai lịch của chùa: Vào thời Trần, con trai của Đức vua Trần Hưng Đạo là Trần Hồng khi đánh giặc Mông Nguyên được Phật độ cho nên đã đánh thắng giặc do đó ban cho tên chùa là “Huệ Trạch tự) (惠澤寺). Chùa trước đây có gác chuông cổ nhưng đã bị phá đi để làm cầu. Trong chùa còn một chiếc chuông đồng niên đại thời Lê, trên 4 núm có khắc “Huệ Trạch tự chung” (惠澤寺鍾). Ngoài sân, trước tòa Tam bảo hiện còn tấm bia 4 mặt, mặt chính trên trán bia ghi: “Huệ Trạch tự”(惠澤寺), mặt thứ tư phần niên đại ghi: Chính Hòa nhị thập niên (1700) nội dung về việc cúng tiền xây gác chuông và cúng ruộng vào chùa. Ở gian phải của tòa Tam bảo còn một cây hương, trên đó có khắc tên người cung tiến. Chùa còn giữ được hai sắc phong. Đạo sắc thứ nhất phần niên đại ghi 25 tháng 7 năm Khải Định 9 (1924). Nội dung ban tặng: (…)“Diệu Cảm Nhiên Phù, Chương Hiển Đôn Ngưng, Dực Bảo Trung Hưng Thành Hoàng Linh Ứng Tôn Thần”(耀感然孚章顯敦凝翊保中興城皇靈應尊神). Sắc thứ 2 cũng có cùng ngày tháng năm với Đạo sắc trên với đối tượng được ban là: (…)

Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

THỬ GIẢI MÃ TRUYỀN THUYẾT THÁNH GIÓNG

KS. PHAN DUY KHA
Cậu bé Gióng lên ba tuổi bỗng trở nên to lớn dị kỳ, cưỡi ngựa sắt, mặc giáp sắt, đội nón sắt, cầm gậy sắt. Đánh đuổi giặc Ân xâm lược. Giặc tan, Gióng một mình một ngựa lên núi Sóc Sơn, bay về trời. Câu chuyện trên đã bị phủ một lớp sương mù huyền thoại dày đặc, nhưng nếu dùng nhãn quan ngày nay, chúng ta vẫn có thể thấy được cốt lõi của sự thật lịch sử…
Thánh Gióng, người anh hùng của nhân dân.
Theo truyền thuyết thì Thánh Gióng thuộc về đời Hùng Vương thứ 6. Cũng như nhiều truyền thuyết khác, chúng ta không thể xác định được thật chính xác niên đại, nhưng có thể ước đoán mốc thời gian của câu chuyện vào khoảng thế kỷ VI – V trước Công nguyên (tr. CN), tức là sau khi triều Hùng ra đời khoảng trên 100 năm. Niên đại này nếu đem đối chiếu với niên đại khảo cổ học là hoàn toàn phù hợp. Truyền thuyết Thánh Gióng ở vào sơ kỳ thời đại đồ sắt (lúc đó sắt được coi là vật liệu lý tưởng), cách ngày nay vào khoảng 2.500 năm.
Gióng là con một bà mẹ nghèo ở miền quê, không biết bố là ai (sau này người ta thần thoại hóa bằng chi tiết bà mẹ giẫm vào dấu chân khổng lồ mà thụ thai – một chi tiết có ở nhiều câu chuyện cổ về các nhân vật thần kỳ). Vì không chồng mà chửa, người mẹ ấy đã phải chịu bao tủi nhục cay đắng: bà đã bị đuổi ra khỏi làng, lên rừng Trại Nón (nay là Phù Dực) đề sinh ra Gióng; bà đã phải bắt ốc, mò cua để nuôi con. Chi tiết đó vẫn còn lại trong truyền thuyết: khi bà đẻ Gióng, trời bỗng cho nhiều cua, ốc và nhiều cá để bà lấy sữa nuôi con. Là một người mẹ nghèo khổ, sinh ra Gióng trong điều kiện như vậy, bà bị mọi người hắt hủi (sau này trong lễ hội; làng xưa kia đã đuổi mẹ Gióng không được làm chủ hội – đây cũng là một hình thức xử lý của tâm thức dân gian đối với thái độ xử không công bằng với mẹ Gióng trước đây). Gióng lớn lên bằng cơm, cà những thức ăn bình dân của quê hương và uống nước sông quê” Một bữa ăn của Gióng: Bảy nong cơm, ba nong cà. Uống một hơi nước, cạn đà khúc sông.

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2012

ĐÂU LÀ QUỐC ĐÔ ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT ?

KS. PHAN DUY KHA
Núi Hồng Lĩnh (tức Ngàn Hống) là một trong những danh sơn của đất nước được chọn khắc vào “cửu đỉnh” (9 chiếc đỉnh bằng đồng đặt ở sân Thế Miếu, kinh đô Huế). Núi nằm giữa ba huyện Nghi Xuân, Đức Thọ, Can Lộc của tỉnh Hà Tĩnh. Tương truyền núi có 99 đỉnh, đỉnh cao nhất 676m. Theo Ngọc phả Hùng Vương thì chính ở phía Tây – Nam dãy núi này, ngày xưa là đô thành của Kinh Dương Vương.
Vị trí đó đã được Ngọc phả xác định tương đối cụ thể: ở chân núi Thiên Tượng thuộc làng Bình Lãng (tên cổ là Kẻ Vọt) và ở tả hữu Thiên Lộc, nội ngoại Thiên Lộc (thuộc hai xã Thiên Lộc và Phúc Lộc, huyện Can Lộc ngày nay). Đây là một vùng đất cổ. Theo một cuốn địa phương chí thì ở vùng Can Lộc này 2/3 số làng cổ có tên nôm là Kẻ, ví dụ: Kẻ Vọt (Bình Lãng), Kẻ Treo (Đậu Liêu), Kẻ Cài (Thanh Lộc), Kẻ Lù (Hồng Lộc), Kẻ Chòi (Tân Lộc)… Những làng này đều nằm ở phía Tây – Nam Ngàn Hống, trùm lên vị trí kinh đô xưa.
… Không phải ngẫu nhiên mà những người lập Ngọc phả lại ghi nhận nơi đây là quốc đô đầu tiên của ngươi Việt. Chúng ta biết rằng, ngay kinh đô Văn Lang của các vua Hùng, ngày nay chúng ta vẫn chưa xác định được vị trí cụ thể, thì việc một kinh đô có trước thời kỳ Hùng Vương hàng ngàn năm, lại được xác định một cách cụ thể như thế chứng tỏ rằng nó đã từng tồn tại lâu dài và để lại những dấu ấn đặc biệt.

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012

BÀN VỀ GIAI THOẠI CỘT ĐỒNG MÃ VIỆN

Tôn Thất Thọ
Lịch Đạo Nguyên (466 hoặc 472-527) khi biên soạn Thủy kinh chú sớ đã chú thêm:
“Theo Cựu đường chí, Mã Viện đi đánh dân Man Lâm Ấp, đến quận Nhật Nam, lại đi về phía nam hơn 400 dặm là đến nước Lâm Ấp, lại đi về phía nam hơn 2.000 dặm, có nước di Tây Hồ. Viện trồng hai cột đồng ở biên giới phía nam quận Tượng Lâm, phân ranh giới với nước di Tây Hồ để ghi lại đức tốt của nhà Hán”. (Thủy kinh chú sớ, Sđd, tr.395)
Ở nước ta, các sử thần ở các triều đại đã chép về chuyện cột đồng đó như sau:
- Trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Cương mục):
“Năm Quý Mão (43 sau CN). Tháng Giêng, mùa Xuân, Trưng Trắc cùng em gái là Nhị cự chiến với quân Hán. Hai bà bị thua và mất – Trưng Vương cùng em gái là Trưng Nhị cự chiến với quân Hán, quân vỡ, thế cô, đều bị thất trận chết. Mã Viện đuổi đánh tàn quân của hai bà là bọn Đô Dương, đến huyện Cư Phong thì hàng phục được họ. Mã Viện lập cột đồng để ghi đại giới tận cùng của nhà Hán. Khi Mã Viện về rồi, người trong nước thương nhớ Trưng Vương, lập đền thờ bà”. (Cương mục, Sđd, tr.109).

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Nguyễn Cẩm Xuyên
Trong lịch sử nước ta, triều Lý (1010-1225) là triều đại cường thịnh về quân sự, vững vàng về chính trị và rực rỡ về văn học. Mở đầu cho nền văn học viết, thơ văn đời Lý truyền lại được đến nay phần lớn chỉ ghi lại trong Thiền Uyển tập anh (1), tập sách do Thiền sư Kim Sơn thuộc Thiền phái Trúc lâm (2) viết vào năm 1337, đời Trần nhưng lại chủ yếu ghi hành trạng của các tăng sĩ đời Lý thuộc 03 dòng Thiền: Vô Ngôn Thông, Tỳ Ni Đa Lưu chiHuệ phái Thiền sư Thảo Đường.
 
Các cao tăng đời Lý học rộng, tinh thông Phật pháp lại giỏi Hán học nên được triều đình kính nể. Đạo Phật được tôn vinh nên nhiều người muốn tìm học triết lý Phật giáo. Ngaoài việc thuyết giảng, các nhà sư còn dùng “kệ”, một thể thơ nhà Phật nhằm truyền đạt những ý cao siêu uyên áo của Phật pháp bằng những hình ảnh, những câu thơ ngắn gọn sinh động mà dễ hiểu.
 
Thiền Uyển tập anh chép lại nhiều bài kệ (3) nhưng nổi bật nhất có bài sau đây của Đại sư Mãn Giác :
 
 
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2012

Bí ẩn về ngôi đền "Quèn tối" xứ Mường Rụng- Kỳ 2

Ngôi chùa khiến đá phải né tránh

Bên cạnh câu chuyện ngôi chùa có khả năng tìm lại của bị mất. PV còn được nghe rất nhiều câu chuyện kì lạ xung quanh ngôi đền linh thiêng này như: Những tảng đá nặng hàng tấn khi lăn từ trên núi xuống đều biết tránh ngôi đền, hàng chục người bị hóa điên vì đã mạo phạm chốn linh thiêng và còn rất nhiều điều kì lạ, bí ẩn khác…

Đá biết tránh đền…

Bên bếp lửa bập bùng cháy, nhấp chén rượu màu xanh cay xè, thơm nồng được gia chủ ngâm bằng các loại thảo dược quý, không gian bên ngoài lặng như tờ, chỉ có màn đêm dày đặc và tiếng côn trùng rả rích, PV như bị cuốn hút bởi những câu chuyện kỳ lạ xảy ra xung quanh ngôi đền “Quèn Tối” được ông Bích, người  trông coi ngôi đền kể.

Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2012

Đạo sỹ ẩn tu và rắn hổ mây-Kỳ 2: Cuộc chiến huyền thoại

Một đạo sĩ kỳ lạ, đáng tôn kính, đã sống 100 năm trên cõi đời, trên quả núi Cấm linh thiêng nhất vùng Cửu Long như đạo sĩ Ba Lưới, thì không có lý do gì để bịa tạc những câu chuyện mua vui. Cả đời ông sống ẩn cư trong rừng, thì ông còn màng gì thế sự, còn ham hố gì việc kể chuyện tào lao cho nổi tiếng.

Đường lên núi Cấm.

Tôi hỏi đạo sĩ Ba Lưới: “Thưa ông. Con từ Hà Nội vào đây, mang theo một câu hỏi mà bao năm nay con nghi ngờ mãi, đó là có rắn hổ mây khổng lồ hay không?”.

Đạo sĩ ẩn tu và rắn hổ mây-Kỳ 1: Thế võ bí truyền

Kỳ 1: Thế võ bí truyền “Bình phong lạc nhạn” diệt hổ mây

Thất Sơn, hay còn gọi theo tên nôm là Bảy Núi. Vùng đất giáp biên giới Campuchia thuộc tỉnh An Giang bỗng đột khởi 7 quả núi thiêng. Trong số đó, núi Cấm cao nhất, tới 700m so với mặt nước biển, và cũng được coi là quả núi linh thiêng nhất vùng.
Từ ngày xảy ra vụ lở khối đá ngàn tấn, đè chết mấy người, con đường lên núi bị chặn lại. Du khách muốn lên đỉnh Thất Sơn buộc phải cuốc bộ, hoặc thuê xe ôm đi len lỏi trong rừng. Đoạn nào không có đường thì cuốc bộ.
Đạo sĩ ẩn tu luyện võ diệt rắn hổ mây khổng lồ
Núi Cấm 

Lần mò cả buổi ở chân núi, rồi tôi cũng thuê được người dẫn đường. Xe máy chạy đến đầu ấp Thiên Tuế (An Hảo, Tịnh Biên) thì dừng lại, vì không còn đường.

THỬ VÉN MÀN HUYỀN THOẠI CHỬ ĐỒNG TỬ – TIÊN DUNG

KS. PHAN DUY KHA

Một nàng Mị Nương (tức công chúa) không thích sống gò bó trong cảnh cung vàng điện ngọc, lầu son gác tía ở kinh đô mà lại thích đi du ngoạn để tìm hiểu đất nước. Một chàng trai nghèo đến nỗi không có một mảnh khố che thân, hàng ngày phải ngâm mình dưới nước để đi ăn xin. Một mối nhân duyên kỳ lạ trên bờ lau bãi cát. Một chiếc nón úp lên đầu gậy, qua đêm bỗng biến thành một tòa lâu đài. Cũng tòa lâu đài ấy trong một đêm bỗng bay lên trời, để lại một cái đầm Nhất Dạ… Từ xưa, truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung (CĐT – TD ) vẫn lấp lánh trong tâm khảm chúng ta như một viên ngọc quý. với vẻ đẹp trinh nguyên buổi đầu lập quốc…

Cái gạch nối về địa lý
Địa chỉ của Tiên Dung là kinh đô Phong Châu (Vĩnh Phú). Đây là vùng trung du, hay nói theo danh từ của các nhà nghiên cứu địa – lịch sử là miền “trước núi”, là đỉnh của tam giác châu Bắc bộ, là điểm khởi đầu của cuộc thiên di thứ hai của dân tộc Việt.

LAN MAN CHUYỆN CỌP… TRUYỀN THUYẾT VỀ ÔNG BA MƯƠI VÀ TỤC THỜ THẦN HỔ


Trong tiếng Việt, từ vựng chỉ hổ thật phong phú. Ngoài hổ (Vào hang hổ; Thả hổ về rừng) còn có cọp (Cọp tha ma bắt), hùm (Vuốt râu hùm; Miệng hùm nọc rắn), dần (Tí, Sửu, Dần, Mão…), khái (Chưa qua truông đã trật lọ cho khái), kễnh (Mèo tha miếng thịt xôn xao, kễnh tha con lợn thì nào thấy chi!)… Hổ ba chân gọi là Ông Ba cụt, hổ ba móng gọi là Ông Ba ngoe, hổ thành tinh gọi là Ông Chằng hay Ông Kẹ.
Tại sao người ta phải gọi hổ bằng nhiều tên khác nhau như vậy? Chắc là vì sợ. Trong buổi đầu khai hoang mở đất, hổ là một trong những lực lượng thiên nhiên hoang dã mà lưu dân phải đối chọi hàng ngày. Hổ không những khoẻ mạnh, hung dữ mà còn tinh khôn, nhanh nhẹn vô cùng, cứ thoắt hiện thoắt biến, rất khó đối phó. Người xưa sợ hổ, tôn thờ hổ, ví hổ như thần, không dám gọi đích danh vì sợ “phạm húy”. Lúc nào cũng gọi hổ bằng “Ông” hoặc “Ngài” một cách kính cẩn: Ông Thầy, Ông Cả, Ông Dần…

Bí ẩn về ngôi đền “Quèn tối” xứ Mường Rụng-Kỳ 1

Kỳ1: Ngôi đền có khả năng tìm lại của bị mất

Một trong những điều kỳ lạ là bất kỳ ai bị mất của nếu có lòng thành tới đây xin thánh thần thì đều tìm lại được theo rất nhiều cách khác nhau…

Gốc tích ngôi đền cổ…

Ngôi đền “Quèn Tối” tại xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình đã tồn tại qua bao mùa nắng mưa, bao thăng trầm của lịch sư, là nhân chứng duy nhất còn sót lại chứng kiến biết bao đổi thay của mảnh đất mường Rụng này. Xung quanh ngôi đền linh thiêng và bí ẩn đó, bấy lâu nay người dân địa phương vẫn rỉ tai nhau về câu chuyện ngôi đền có khả năng tìm lại của bị mất.

Để xác minh thực hư câu chuyện kỳ lạ trên, PV đã lặn lội về địa phương để tìm hiểu thêm thông tin xung quanh vụ việc. Trao đổi với PV, một số bậc bô lão trong làng, cho biết, về nguồn gốc ngôi đền “Quèn Tối” có tự bao giơ, không có bất cứ tài liệu nào ghi chép lại. Từ khi các cụ còn nhỏ, ngôi đền thiêng đã sừng sững đứng đó thách thức nắng mưa. Ngôi đền tọa lạc dưới chân ngọn núi, được người dân ở đây gọi với cái tên “bàn chân hổ vồ”, bao bọc xung quanh ngôi đền là cây cối mọc um tùm, rậm rạp, được xem là một chốn linh thiêng bất khả xâm phạm của thánh thần.