Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang thiền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang thiền. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Nguyễn Cẩm Xuyên
Trong lịch sử nước ta, triều Lý (1010-1225) là triều đại cường thịnh về quân sự, vững vàng về chính trị và rực rỡ về văn học. Mở đầu cho nền văn học viết, thơ văn đời Lý truyền lại được đến nay phần lớn chỉ ghi lại trong Thiền Uyển tập anh (1), tập sách do Thiền sư Kim Sơn thuộc Thiền phái Trúc lâm (2) viết vào năm 1337, đời Trần nhưng lại chủ yếu ghi hành trạng của các tăng sĩ đời Lý thuộc 03 dòng Thiền: Vô Ngôn Thông, Tỳ Ni Đa Lưu chiHuệ phái Thiền sư Thảo Đường.
 
Các cao tăng đời Lý học rộng, tinh thông Phật pháp lại giỏi Hán học nên được triều đình kính nể. Đạo Phật được tôn vinh nên nhiều người muốn tìm học triết lý Phật giáo. Ngaoài việc thuyết giảng, các nhà sư còn dùng “kệ”, một thể thơ nhà Phật nhằm truyền đạt những ý cao siêu uyên áo của Phật pháp bằng những hình ảnh, những câu thơ ngắn gọn sinh động mà dễ hiểu.
 
Thiền Uyển tập anh chép lại nhiều bài kệ (3) nhưng nổi bật nhất có bài sau đây của Đại sư Mãn Giác :
 
 
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Thứ Bảy, 22 tháng 5, 2010

Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn trong Thiền quán

OM MANI PADME HUM! gọi là Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn.
Chú này có công năng diệt trừ mọi tai nạn, đau khổ, giúp người tu đạt trí tuệ sáng suốt của Phật Thừa, gọi là Đại Minh. Bởi vậy thực hành sáu chữ này thì đạt cái huệ tự nhiên, cái vô phân biệt trí, cái trí tự nhiên biết, thấy như thật, biết như thật để làm như thật. nên gọi là Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn. Trong đó Chân Ngôn nghĩa là Đalani. Lục Tự nghĩa là gồm có sáu chữ . Đại Minh nghĩa là sáu chữ này hành công rốt ráo sẽ đưa lại cái biết to lớn, sự sáng suốt to lớn, nghĩa là cái huệ, cái tự nhiên biết, cái phản ảnh như thật của Tâm Bát Nhã Bala Mật Đa (Prajna Paramita).
OM MANI PADME HUM! là câu thần chú nổi tiếng ở thế giới. Phật tử nào cũng thuộc, môn phái nào cũng trì tụng vì lực bất tư nghì của nó. Nó có công dụng diệt trừ đau khổ. Giúp người tu tập vượt qua Dukkha, đạt giải thoát và cái huệ tự nhiên của nhà Phật. Thần chú này do Đại Bồ Tát Quán Thế Âm thương xót chúng sanh mà tuyên thuyết trước mặt Như Lai. Vậy phải hiểu thế nào là Quán Thế Âm thì bạn mới biết cách dụng của Quán Thế Âm – ‘Om Mani Padme Hum’.

Thứ Tư, 24 tháng 3, 2010

Hiền lành là mạnh nhất

Hiền lành là mạnh bởi chẳng có ai chống lại bạn. 
Hiền lành là mạnh bởi vì bạn không còn tách rời khỏi cái toàn thể - và cái toàn thể mới mạnh.

Một sư hỏi Phật: Cái gì mạnh nhất và cái gì sáng tỏ nhất?
Phật nói:
Hiền lành là mạnh nhất.


Jesus nói, 'Người hiền lành là người được ân huệ, họ sẽ kế thừa trái đất này.' Phát biểu này có vẻ ngớ ngẩn, với người hiền lành sao? - họ chưa bao giờ đủ để kế thừa trái đất. Và chúng ta không thể quan niệm được rằng họ sẽ có khả năng kế thừa trái đất này. Nhưng Jesus đang nói điều gì đó rất chân lí: Người hiền lành là được ân huệ.

Và khi ông ấy nói họ sẽ kế thừa trái đất, ông ấy đang nói cùng thông điệp mà Phật nói. Hiền lành là mạnh nhất - đó là nghĩa của ông ấy khi ông ấy nói họ kế thừa trái đất.

Hiền lành là mạnh, nhưng mạnh bây giờ ngụ ý hoàn toàn khác. Hiền lành là mạnh bởi vì bây giờ chẳng có ai chống lại bạn. Hiền lành là mạnh bởi vì bạn không còn tách rời khỏi cái toàn thể - và cái toàn thể mới mạnh. Hiền lành là mạnh bởi vì bạn không còn tranh đấu, và không có cách nào để bạn bị thất bại.

Thứ Sáu, 19 tháng 3, 2010

Hoá giải hận thù

Hận thù là một trong  những nghiệp ác mà  mỗi người đã tự tạo ra.  Tại sao có sự hận thù giưa người này với người khác, giữa bộ tộc này với bộ tộc khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác, giữa tôn giáo này với tôn giáo khác. Hận thù phát xuất từ đâu.
Quan sát gần, sẽ thấy hận thù phát khởi từ tham vọng của con người. Thật vậy, hầu như mọi cuộc xung đột, sát phạt nhau trên cuộc đời này đều bắt nguồn từ lòng tham không đáy của con người ; kết quả là người được thì sanh tâm kiêu ngạo, người thua thì sanh oán thù và từ nỗi oan hận ấy gieo mầm cho tấn bi kịch trả thù tiếp theo, cứ như vậy mà mối hận thù sẽ tiếp diễn không ngừng trong nhân loại.
Dưới tuệ giác của Đức Phật, hoặc các vị thiền sư đắc đạo, từ vô thỉ kiếp cho đến ngày nay, tất cả moi người tạo ra không biết bao nhiêu là tội lỗi, gây ra không biết bao nhiêu là hận thù. Trong kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật dạy rằng từ vô thỉ kiếp, do vô minh chỉ đạo mà con người tạo ra tất cả các tội ác và gây hận thù giữa người này với người khác, giữa mọi người trong cùng một gia đình và giữa nước này với nước khác. Hãy nhớ nghĩ lại xem từ vô thỉ kiếp, chúng ta đã từng làm người, làm thú, làm thần, làm quỷ, v.v… Có thể nói gần như chúng ta đóng đủ tất cả các vai trên sân khấu cuộc đời, hết làm việc thiện lại làm việc ác, hết làm ác rồi lại làm thiện; cứ như thế mà chúng ta thay hình đổi dạng, lang thang trong kiếp luân hồi sinh tử.

Thứ Bảy, 13 tháng 3, 2010

Sống tỉnh giác từng ngày

“Mùa mưa ta ở đây,
Đông, Hạ cũng ở đây,
Người ngu tâm tưởng vậy,
Không tự giác hiểm nguy”.

(Pháp Cú, 286)
Ðó là lời của Ðức Phật dạy cho ông Ðại Phú (Mahadhana), một vị thương gia, khi Ngài ngụ tại tinh xá Kỳ Viên.
Một ngày nọ, vị thương gia này dùng 500 xe bò, chất đầy vải vóc với nhiều màu nhuộm tươi đẹp, lên đường từ thành Ba La Nại đến các vùng xa để buôn bán. Khi đến thành Xá Vệ, ông ta gặp một sông lớn. Ông suy nghĩ: “Ngay mai ta sẽ qua sông”, rồi dừng xe lại, cởi ách cho các con bò, và nghỉ qua đêm tại bờ sông. Trong đêm đó, một trận bão kéo đến với cơn mưa tầm tã cả đêm. Qua bảy ngày kế tiếp, nước sông dâng cao, tạo lụt lớn, và người dân trong vùng đều phải đình chỉ mọi sự buôn bán, đi lại. Kết quả là vị thương gia đó không thể bán các kiện hàng vải của ông. Vì thế, ông ta nghĩ rằng: “Ta đã trải qua một quãng đường dài, nếu ta quay về thì lại bị trễ nải. Chi bằng ta cứ ở đây qua mùa mưa, qua mùa Xuân và mùa Hạ, tiếp tục các công việc giao dịch và cố gắng bán cho hết các loại hàng này…”.
Khi Ðức Phật đi trì bình khất thực trong thành phố, Ngài biết được ý định của vị thương gia đó và Ngài mỉm cười. Thấy thế, Ðại đức A Nan hỏi Phật vì sao Ngài cười. Ðức Thế Tôn đáp: “Này A Nan, thầy có biết ông Ðại Phú đó không?”.
“Dạ có, bạch Thế Tôn”.
“Không biết rằng mạng sống của mình đã gần hết, ông ta vừa quyết định sẽ ở lại đây cả năm để bán hết các kiện hàng của ông ấy”.

Thứ Năm, 11 tháng 3, 2010

Phán xét

Khi nhìn các vì tinh tú đang  lấp lánh ở phía chân trời  ta luôn nghĩ đó là vì sao  của giây phút hiện tại. Nhưng ta có thể lầm. Cái lấp lánh mà chúng ta nhìn thấy chỉ là phần ánh sáng của vì sao đang trên đường đi về phía ta, tại vì đoạn đường phải mất hàng triệu năm mới tới, còn vì sao ấy có thể đã lặn khuất từ lâu lắm rồi. Đó là khám phá của khoa học. Nếu không có nền văn minh khoa học thì ta sẽ còn lầm lẫn rất nhiều thứ trên thế gian này khi sử dụng con mắt của mình với tầm nhìn rất giới hạn.Nhưng khoa học cũng vẫn còn lầm lẫn, khoa học vẫn luôn tiếp tục làm mới chính mình để điều chỉnh lại một cách hoàn hảo về những nhận xét trước đây và tìm tòi thêm những phát hiện mới. Cho nên mới có khoa học tiến bộ ngày nay và chắc chắn sẽ có khoa học tiến bộ trong tương lai. Nếu khoa học bám chặt những hiểu biết của mình, không chịu mở lòng ra để tiếp tục khám phá về những đối tượng mà mình đã từng đưa ra nhận xét thì đó là một nền khoa học cũ kỹ, lạc hậu và đầy nguy hiểm.

Thứ Ba, 29 tháng 12, 2009

Bí mật 400 năm về sự tu hành của thiền sư Chuyết Chuyết


Đã ngót 400 năm trôi qua kể từ ngày vị thiền sư người Trung Quốc viên tịch trong một ngôi chùa cổ ở Việt Nam, cuộc đời cũng như những bí mật tu hành của ngài vẫn còn vô vàn ẩn số…
Đứng trên núi Tiêu Sơn (nơi có ngôi chùa Tiêu và nhục thân thiền sư Như Trí) phóng tầm mắt qua những làng mạc, thấy núi Tiên (còn gọi là núi Lạn Kha, núi Phật Tích) như một tảng đá của thiên đàng đánh rơi.

Xung quanh ngọi núi thuộc huyện Tiên Du (Bắc Ninh) này, có rất nhiều huyền thoại liên quan đến tiên giới, trong đó có chuyện Từ Thức gặp tiên, rồi chuyện chàng tiều phu Vương Chất vào rừng đốn củi gặp hai ông tiên chơi cờ trên núi.




Linh thú uy nghiêm ở chùa Phật Tích. 

Tượng Phật A-di-đà ngàn năm tuổi. 

Chùa Phật Tích trên núi Tiên xây dựng vào thời Lý, năm Thái Bình thứ 4 (1057) với rất nhiều tòa ngang, dãy dọc.


Tôi chợt rùng mình bởi vẻ đẹp huyền ảo đầy chất thiền của bức tượng Phật A-di-đà khổng lồ được tạc bằng đá màu xanh ngọc nguyên khối. Theo sử liệu, năm 1066, vua Lý Thánh Tông đã cho xây dựng một ngôi tháp cao đến nỗi đứng ở kinh thành Thăng Long vẫn nhìn thấy. Đến đời Trần, tháp đổ, lộ ra pho tượng tuyệt đẹp này. Khi ấy, toàn bộ pho tượng được dát vàng óng ánh.

Du khách đứng lại dưới những tán cây rợp bóng, ngắm 10 pho tượng thú gồm sư tử, voi, tê giác, trâu, ngựa mỗi loại hai con. Những pho tượng đều được tạc bằng đá xanh nguyên khối.



Tượng thiền sư Chuyết Chuyết trong tháp Báo Nghiêm. 

Đứng trên đỉnh non Tiên, nhìn ra tứ phía, chỉ biết mượn mấy câu thơ của tác gia Nguyễn Trãi khi ông về thăm và vịnh cảnh chùa: “Bóng xế thuyền con buộc/ Vội lên lễ Phật đài/ Mây về giường sãi lạnh/ Hoa rụng suối hương trôi/ Chiều tối vượn kêu rộn/ Núi quang, trúc bóng dài/ Ở trong dường có ý/ Muốn nói bỗng quên rồi”.

Lạc giữa rừng tháp đá và gạch nung gồm 32 ngôi, phần lớn được dựng từ thế kỷ 17, nơi cất giữ xá lị của các nhà sư từng trụ trì chùa, tôi chợt như nghe đâu đây tiếng mõ kêu lốc cốc đều đặn vang ra từ các am tháp.

Chỉ có những am tháp, những linh vật bằng đá khổng lồ, pho tượng Phật nặng nhiều tấn cùng một số cổ vật khác đào được từ lòng đất trong những lần khai quật là những gì ít ỏi còn lại của một thời vàng son. Toàn bộ ngôi chùa đã bị ngọn lửa thiêu rụi vào năm 1947.

Đại đức Thích Đức Thiện là người trụ trì ngôi chùa này sau nửa thế kỷ vắng tiếng kinh kệ. Đại đức về trụ trì từ năm 2002 sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Phật học tại Ấn Độ.



Tiến sĩ Phật học Thích Đức Thiện - trụ trì chùa Phật Tích. 

Sinh ra tại Bắc Ninh, cái nôi của văn hóa Phật giáo, lại dành cả đời nghiên cứu Phật giáo, nên mọi thông tin về ngôi chùa cổ này Đại đức đều nắm rất rõ.

Lạc giữa “rừng mộ tháp” nghe chuyện thiền sư Chuyết Chuyết, mà thấy vẻ đẹp giản dị, song vô cùng bí ẩn và huyền diệu của Phật pháp.

Thiền sư Chuyết Chuyết sinh năm 1590, tại Tiệm Sơn (huyện Hải Trừng, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc), nay thuộc thành phố Dương Châu. Sư mang họ Lý, tên Thiên Tộ.

Truyền rằng, Thiên Tộ nằm trong bụng mẹ quá 9 tháng 10 ngày rất lâu mới ra đời.

Tuổi thơ của Lý Thiên Tộ cực kỳ đau khổ. Bố mẹ mất sớm, Thiên Tộ phải ở với chú. Dù còn nhỏ đã mất cả cha và mẹ cuộc sống nghèo khổ, song Thiên Tộ thông minh xuất chúng, học thông cả ngũ kinh tứ thư.



"Rừng mộ tháp" - nơi đặt xá lị của các hòa thượng trụ trì chùa Phật Tích. 

Tuy nhiên, người chú không nuôi nổi, nên năm Thiên Tộ 15 tuổi, ông gửi vào chùa Tiệm Sơn. Khi được chú dắt đến chùa, trưởng lão Tiệm Sơn hỏi: “Ngươi định tạo sự nghiệp gì mà tìm về cửa Phật?”, Thiên Tộ thưa: “Giúp vua cứu dân”.

Sau khi luận về công danh, trưởng lão Tiệm Sơn thấy cậu bé còn ham danh lợi, song rất thông minh, nên đồng ý cho Thiên Tộ xuất gia, rồi giữ lại chùa để truyền dạy cho tỉnh ngộ. Thiên Tộ có pháp danh Viên Văn.

Biết kiến thức Phật giáo của mình không đủ để dạy Viên Văn, hòa thượng chùa Tiệm Sơn đã gửi sư cho hòa thượng Tăng Đà Đà ở Nam Sơn.

Sau khi luận về Phật pháp, hòa thượng Đà Đà nói với tăng ni trong chùa: “Ngày khác ta sẽ nhường chỗ cho kẻ này, y sẽ bước khỏi đầu sào trăm trượng”. Biết rằng sư Viên Văn là một người xuất chúng, nên truyền hết yếu chỉ tâm tông cho sư.



Tượng táng nhục thân thiền sư Chuyết Chuyết. 

Chỉ một thời gian ngắn theo hòa thượng Đà Đà, sư Viên Văn đã đắc pháp, đi giáo hóa mười phương. Danh tiếng của ngài vang danh khắp thiên hạ, khiến học giả đương thời đều kính trọng.

Năm 18 tuổi, sư Viên Văn sang Campuchia hoằng pháp ròng rã 16 năm, được quốc vương xứ này quan tâm đặc biệt.

Năm 1623, ngài sang vùng Quảng Nam thuyết pháp, nhận thiền thư Minh Hành làm đệ tử.

Đến năm 1633, ngài cùng đệ tử đến kinh thành Thăng Long. Sau khi yết kiến vua Lê và chúa Trịnh, ngài được mời về trụ trì chùa Khán Sơn ở Thăng Long để giảng dạy Phật pháp. Từ đó, ngài được gọi là Chuyết Công hoặc Chuyết Chuyết.

Sau đó khoảng một năm, hòa thượng Chuyết Chuyết đi về chùa Phật Tích, trụ trì tại ngôi chùa cổ này. Tuy nhiên, sau đó, chúa Trịnh Tráng cho trùng tu chùa Bút Tháp, nên lại mời sư về trụ trì, giảng đạo ở ngôi chùa này cho đến khi viên tịch.

Đã gần 400 năm trôi qua kể từ ngày vị thiền sư người Trung Quốc này viên tịch trong một ngôi chùa cổ ở Việt Nam, cuộc đời cũng như những bí mật tu hành của ngài vẫn còn vô vàn ẩn số… 


Pham Ngoc Duong(Theo vtc.vn)


Thứ Tư, 16 tháng 12, 2009

Việt Nam hóa Phật giáo ở Trần Nhân Tông (II)


 Đây là sự chuyển biến từ loại tôn giáo lấy “nội tại siêu việt” làm đặc trưng sang loại tôn giáo phi tôn giáo lấy “nội tại siêu việt” làm đặc trưng, chuyển từ xuất thế sang nhập thế, từ đó giải quyết được khuynh hướng nhị nguyên.
Có thể nói, sự chuyển biến này mang trong mình khuynh hướng thoát ly mô thức tôn giáo truyền thống. Đối tượng chủ yếu mà Thiền tông Trung Quốc hướng đến là các thiền sư (phát huy tâm tự giác nội tại để giác ngộ), còn đối tượng mà Thiền phái Trúc Lâm hướng đến, ngoài cá nhân các thiền sư còn là toàn thể người Việt, không chỉ là cá nhân, mà còn là cả xã hội.
Điều này không chỉ thể hiện bởi lời nói và suy tư của Trần Nhân Tông, mà đặc biệt, nó còn thể hiện rõ ràng ra ở sự tu tập, ở cuộc đời và ở sự cống hiến của ông cho dân tộc Việt.

3. Học thuyết vô niệm

Pháp môn tu tập của đốn giáo là “ba không” (tam vô): vô niệm, vô tướng, vô trụ. Huệ Năng nói: “Chính giáo vốn không chia ra đốn và tiệm. Tính con người vốn có sắc bén và chùn nhụt, người mê thì tu dưỡng chậm, người ngộ thì tu dưỡng nhanh.

Tự nhận thức bản tâm, tự nhìn thấy bản tính thì không có sai biệt" (Bản lai chính giáo, vô hữu đốn tiệm. Nhân tính tự hữu lợi độn, mê nhân tiệm khế, ngộ nhân đốn tu. Tự thức bản tâm, tự kiến bản tính, tức vô sai biệt);
“Thiện tri thức, pháp môn này của ta, từ xưa đến giờ, trước hết lấy vô niệm làm tông, vô tướng làm thể, vô trụ làm bản” (Thiện tri thức, ngã thử pháp môn, tòng thượng dĩ lai, tiên lập vô niệm vi tông, vô tướng vi thể, vô trụ vi bản. Vô tướng giả, ư tướng nhi ly tướng; vô niệm giả, ư niệm nhi vô niệm; vô trụ giả, nhân chi bản tính). Đây chính là công phu cốt yếu của Thiền tông.
“Ư tướng nhi ly tướng” tức là dù cho vạn tướng ngay trước mắt, tâm hành trong vạn tướng vẫn không bị vạn tướng điều khiển, giữ trọn sự thanh tĩnh tự thể. Nghĩa là, tính chủ thể không bị ràng buộc vào trong tính khách thể.
“Ư niệm nhi ly niệm” tức là đứng trên góc độ hoạt động tự thân của chủ thể, tuy chủ thể có mọi hoạt động kinh nghiệm, ý thức kinh nghiệm, nhưng vẫn không mất đi tính siêu việt và tự do của mình. Cho dù có niệm, nhưng vẫn không bị tạp nhiễm bởi niệm.
“Vô trụ” nghĩa là không dừng lại ở bất cứ cái gì trong vạn pháp, đây là năng lực vốn có của bản tính chủ thể, chính vì vậy mà mới có cái gọi là “bản tính con người”. Giáo lý thiền ngộ của Huệ Năng lúc nào cũng gắn chặt với tự do của chủ thể, nó không nằm ở các hoạt động ngoại tại(10).

Trần Nhân Tông cũng chủ trương thuyết vô niệm như Thiền Nam tông. Đối với ông, cần phải xuất phát từ nội tâm để chứng Phật tính, trên phương diện tu dưỡng, tâm không được chịu ảnh hưởng của ngoại vật, điều này chính là “vô niệm”: “Gìn tính sáng tính mới hầu an; Nén niềm vọng, niềm dừng chẳng thác” (Cư trần lạc đạo, đệ nhị hội).

Phương pháp “nén niềm vọng” này vừa phải dựa vào phương pháp “vô trụ” (không chấp trước), vừa phải dựa vào phương pháp “vô tướng”.
Theo ông, nếu làm được như vậy, mặc dù ở trong cõi trần này, nhưng lại vô tạp vô nhiễm, thuận theo tự do, không có trở ngại, đạt tới sự giải thoát tinh thần.
Đoạn đối thoại giữa Trần Nhân Tông và đệ tử trước lúc ông lâm chung đã nêu bật lên tư tưởng này: “Giữa đêm mồng một tháng 11 năm 1308, Ngài hỏi Bảo Sát: ‘Hiện giờ là giờ gì?’ Bảo Sát bạch: “Giờ Tý”. Ngài lấy tay vén màn cửa sổ nhìn xem nói: “Đến giờ ta đi”. Bảo Sát hỏi: “Tôn đức đi đâu?”.
Ngài nói kệ đáp: “Tất cả pháp chẳng sinh, Tất cả pháp chẳng diệt, Nếu hay hiểu như thế, Chư Phật thường hiện tiền, Nào có đến đi gì” (Nhất thiết pháp bất sinh, Nhất thiết pháp bất diệt, Nhược năng như thị giải, Chư Phật thường hiện tiền, Hà khứ lai chi hữu dã).
Bảo Sát hỏi: “Chỉ như khi chẳng sinh chẳng diệt là thế nào?”. Ngài liền nhằm ngay miệng Bảo Sát tát cho một cái bảo: “Chớ nói mớ”. Nói xong, Ngài nằm nghiêng bên phải như sư tử, lặng lẽ mà tịch” (11).
Sở dĩ Bảo Sát bị tát khi hỏi “Chỉ như khi chẳng sinh chẳng diệt là thế nào?” chính là do trước khi đề cập đến “khi chẳng sinh chẳng diệt”, Bảo Sát đã chìm nhập vào trong sự chấp trước, tức là cảnh giới của “trụ” mà không đạt đến được “vô niệm”.
Ở đây, rõ ràng, Trần Nhân Tông có tiếp thu quan niệm trung đạo “bất sinh bất diệt” của Trung Quán tông. Điều này thể hiện tư tưởng Phật học của ông không chỉ chịu ảnh hưởng từ Thiền Nam tông, mà còn chịu ảnh hưởng từ các hệ phái khác.
a
Dấu nền am Ngọa Vân
Trong bài kệ Hữu cú vô cú rất nổi tiếng của mình, Trần Nhân Tông đã nêu lên quan điểm “bất chấp tướng”, phá bỏ sự chấp trước giữa Hữu và Vô (12).
Bởi theo ông, Thiền không phải là kinh viện, mà là cuộc sống, do đó cần phải “bất lập văn tự”, “trực chỉ nhân tâm”. Nếu như chấp trước vào “hữu cú vô cú” thì sẽ “dập đầu trán vỡ”, sẽ chỉ vô ích mà thôi.

4. Tinh thần nhập thế tích cực

Một số học giả thường sử dụng khái niệm “bản địa hóa” khi đưa ra nhận định, đánh giá việc Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm đã kế thừa, phát triển Thiền Nam tông, thông qua Thiền Trúc Lâm để phản ánh một cách khái quát hiện thực cuộc sống dân tộc Việt và dùng Thiền Trúc Lâm để đưa ra lời giải cho các vấn đề xã hội và nhân sinh được xuất phát từ mảnh đất Việt Nam.

Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với cách sử dụng khái niệm “bản địa hóa”, song trong bài viết này, chúng tôi sử dụng khái niệm “Việt Nam hóa” chứ không phải là “bản địa hóa”; chủ yếu là để nhấn mạnh đến tính quốc gia dân tộc chứ không phải tính vùng văn hóa trong Thiền phái Trúc Lâm cũng như trong tư tưởng Thiền học của Trần Nhân Tông.

Điểm khác biệt đầu tiên, dễ nhận thấy nhất giữa thiền phái Trúc Lâm và Thiền Nam tông Trung Quốc chính là ở người sáng lập của nó. Trước khi là Phật tử, Trần Nhân Tông là một hoàng tử, trước khi làm Trúc Lâm đầu đà, ông là vua của nước Việt.

Trần Nhân Tông là một vị vua được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử, hay “vua hiền đời Trần” (Trần triều chi hiền vương - Đại Việt sử ký toàn thư). Trong thời gian trị vì, ông đã lãnh đạo nhân dân qua 2 cuộc chống xâm lược Nguyên Mông (1285 và 1287).
Sau khi đánh thắng trận đánh quyết định Bạch Đằng, đứng trước lăng vua cha mình là Trần Thái Tông, nhìn chân những con ngựa đá trước lăng lấm lem do giặc đào phá, Trần Nhân Tông đã cảm khái thốt lên hai câu thơ nổi tiếng: “Xã tắc hai phen chồn ngựa đá, Non sông nghìn thuở vững âu vàng” (Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ điện kim âu) (13).
Trong Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, ông đã nêu lên rất rõ quan niệm yêu nước, gắn chặt “tam hữu” với “tứ ân”: "Tụng kinh niệm bụt, Chúc thánh khẩn cầu, Tam hữu tứ ân, Ta nguyền được bả”. Trong đó," tam hữu là dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu, đây chính là tam giới. Tứ ân là cha mẹ, chúng sinh, đất nước và tam bảo: hiếu dưỡng cha mẹ, quảng độ chúng sinh, bảo vệ đất nước và cung kính tam bảo"(14).
Thánh Nghiêm pháp sư cũng trích dẫn câu chuyện Đức Phật Thích Ca yêu nước và bảo vệ tổ quốc trong Kinh Tăng Nhất A-hàm để chứng minh Phật giáo không những có quan niệm về tổ quốc mà còn chủ trương biết ơn đất nước, yêu nước.

Tư tưởng của Trần Nhân Tông, nhất là tư tưởng thiền sau khi xuất gia, là tư tưởng nhập thế, kết hợp lý tưởng phật quốc và lý tưởng đất nước. Sau hai lần đại phá quân xâm lược triều Nguyên, ông thực hành chính sách trị quốc khoan hòa, ổn định xã hội, phát triển văn hóa.

Trong bài dẫn cho bức họa “Tranh Đại sĩ Trúc Lâm xuống núi” (Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ (15)) của học sĩ đời Nguyên là Trần Giám Như, Trần Quang Chỉ có đưa ra nhận xét như sau về Trần Nhân Tông: “Ông lấy lòng nhân để trị nước, lấy thành tín để phụng sự Trung Quốc, đối đãi với quần thần như tay chân, vỗ về muôn dân như con đỏ, rút bớt hình phạt, giảm nhẹ thuế khóa, thưởng phạt nghiêm minh” (Kỳ trị quốc dĩ nhân, kỳ sự Trung Quốc dĩ thành, ngộ quần thần như thủ túc, phủ bách tính như xích tử, khinh hình bạc phú, tín thưởng tất phạt).

Như trên chúng tôi đã trình bày, Trần Nhân Tông rất có ý thức trong việc xây dựng Thiền phái Trúc Lâm mang nét đặc sắc của Việt Nam. Ông sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm, bên ngoài thì cử sứ thần sang Trung Quốc xin Đại tạng kinh, bên trong thì in ấn kinh điển Phật giáo, dựng chùa chiền, tô đắp tượng Phật.

Phật giáo là một học thuyết hướng dẫn con người thoát khỏi “biển khổ”, là một loại triết học xuất thế. Mục đích giải thoát cũng chính là điều Trần Nhân Tông, với tư cách người sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm, truy cầu.
Song, Trần Nhân Tông cũng đồng thời là một vị vua, hơn nữa lại là một vị vua có công lao to lớn đối với đất nước, nên mặc dù ông đã thoái vị xuất gia, nhưng vẫn còn nhiều quan hệ mật thiết với triều đình.
Để phát triển mạnh mẽ thế lực của Thiền phái Trúc Lâm, ông đã rất ý thức trong việc sử dụng các quyền lực thế tục của mình.
Tam Tổ thực lục còn ghi lại buổi lễ trọng thể Điều Ngự (tức Trần Nhân Tông) chính thức ủy cho Pháp Loa làm tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm, tham dự buổi lễ có cả vua Trần Anh Tông, các quan lại và tăng chúng nhằm củng cố uy tín của người lãnh đạo phái Trúc Lâm tương lai (16).

Tuy Trần Nhân Tông tôn sùng Phật học, nhưng thái độ của ông đối với các học thuyết khác là một thái độ cởi mở, tôn trọng và tiếp thu trên cơ sở Thiền.

Tam tổ thực lục còn ghi lại, năm Giáp Thìn (1304), Trần Nhân Tông “đi khắp các chốn thôn quê loại bỏ dâm từ, dạy dân thi hành mười điều thiện” (chu hành tụ lạc, hóa trừ dâm từ, giáo hành thập thiện).
Rõ ràng là Trần Nhân Tông muốn lấy giáo nghĩa Phật giáo để trị nước, lấy đạo đức Phật giáo làm tiêu chuẩn cho đạo đức xã hội.
Song, ở đây, cũng cần chú ý là, ông muốn loại bỏ dâm từ, song ông không có quan niệm về cái mà chúng ta gọi là “dị giáo”, không chủ trương loại bỏ các tôn giáo hay học thuyết khác để độc tôn Phật giáo.
Ông không chỉ chủ trương phát triển tính đa dạng Phật giáo lấy Thiền phái Trúc Lâm làm cốt lõi, mà còn có khuynh hướng phát triển tính đa dạng tư tưởng lấy Phật giáo làm nền tảng.
Chính vì vậy, ở thời ông và hầu hết cả thời Lý - Trần, bên cạnh việc Phật giáo được suy tôn thì Nho giáo và Đạo giáo cũng rất phát triển. Với tinh thần nhập thế, cởi mở và khai phóng như vậy, Trần Nhân Tông đã khiến giáo pháp Thiền phái Trúc Lâm trở thành cầu nối giữa triều đình và người dân. Thiền học của ông không chỉ dành riêng cho một tầng lớp quý tộc hay bó buộc trong triều đình, mà đối tượng của nó đã thực sự được mở ra cho tất cả mọi người, phù hợp với xã hội Việt Nam.

Nhìn từ góc độ tư tưởng, quan niệm “tức tâm tức phật” và “vô niệm” của Trần Nhân Tông đã phủ định mọi bó buộc từ bên ngoài, phá vỡ mọi chấp trước, loại bỏ mọi quyền uy của truyền thống cũng như của hiện tại, tất cả chỉ dựa vào tâm và từ góc độ này, con người có thể trở thành chủ thể của chính bản thân mình, tác dụng giải phóng tư tưởng này có ý nghĩa vô cùng to lớn trong suốt chiều dài của xã hội chuyên chế phong kiến.

Song, thiền của ông không thoát ly cuộc sống, mà ngược lại, nó lúc nào cũng mang đẫm hơi thở của cuộc sống, chứng minh thiền của Trần Nhân Tông đã được sinh ra từ sự đau đáu với cuộc đời, với hạnh phúc nhân sinh.
Có thể Phật giáo quan niệm đời là bể khổ, song với Trần Nhân Tông, cuộc đời của mỗi người chính là một mùa xuân và phải sống làm sao để không uổng phí mùa xuân đó: “Chớ để luống qua mùa xuân một cách tầm thường” (Bất thị tầm thường không quá xuân).

--------------------------------------------------
Chú thích:

(1) Phương Hoài Nhẫn. Việt Nam Trúc Lâm phái Thiền tông sáng thủy nhân Trần Nhân Tông đích thiền học tư tưởng, Phật học nghiên cứu, số 3, 1994.

(2) Lê Mạnh Thát. Trần Nhân Tông: con người và tác phẩm. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, chương VII: Một số vấn đề tư tưởng Trần Nhân Tông. Trích từ trang web: http://www.thivien.net/

(3) Lê Mạnh Thát. Trần Nhân Tông: con người và tác phẩm. Sđd.

(4) Xem: Nguyễn Tài Thư (chủ biên). Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, 1988, tr.247.

(5) Nguyễn Huệ Chi (chủ biên). Thơ văn Lý Trần, t.II quyển thượng. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988; Cư trần lạc đạo phú, tr.497 - 510. Các đoạn trích dẫn sau từ bài phú này chúng tôi sẽ chỉ nêu số hội trong bài.

(6) Trích theo: Lê Mạnh Thát. Trần Nhân Tông: con người và tác phẩm (phần “Bài giảng tại Viện Kỳ lân”). Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1999.

(7) Xem: Lao Tư Quang. Tân biên Trung Quốc triết học sử (tái bản lần thứ 5), q.2, Tam dân thư cục, 1990, tr. 329.

(8) Ấn Thuận. Trung Quốc Thiền tông sử (xuất bản lần thứ 3). Giang Tây Nhân dân xuất bản xã, 2002, tr.2.

(9) Xem: Thang Nhất Giới. Tựa; Ấn Thuận. Trung Quốc Thiền tông sử. Sđd.

(10) Xem: Lao Tư Quang. Tân biên Trung Quốc triết học sử. Sđd., tr.332.

(11) Trích theo: Thích Thông Phương. Vua Trần Nhân Tông với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2006.

(12) Xem: Nguyễn Huệ Chi (chủ biên). Thơ văn Lý Trần. Sđd., tr.489 - 450.

(13) Nguyễn Huệ Chi (chủ biên). Sđd., tr. 483.

(14) Thánh Nghiêm pháp sư. Chính tín đích Phật giáo, Pháp Cổ văn hoá, Đài Bắc, 1996, tr.129.

(15) Trong bài viết của mình, Phương Hoài Nhẫn chú thích là “Trúc Lâm đại sĩ xuất thế đồ”.

(16) Xem: Nguyễn Tài Thư (chủ biên). Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988, tr.247 - 249.
Trích từ “Thạch cừ bảo cấp tục biên”, Càn Thanh cung tạng tam. Song, ở đây, chúng tôi dựa theo nguồn của tác giả Nguyễn Nam, “Diện mạo Trần Nhân Tông qua Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ”, Tạp chí Hán Nôm, số 2,1999.


Nguyễn Tài Đông (Tạp chí Triết học)
(Tiến sĩ Nguyễn Tài Đông hiện là Phó trưởng phòng Quản lý khoa học và Đào tạo,Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam)

Việt Nam hóa Phật giáo ở Trần Nhân Tông (I)

Việt Nam hóa Phật giáo ở Trần Nhân Tông (I)


- Theo tác giả Nguyễn Tài Đông, Trần Nhân Tông là người đã tập đại thành tư tưởng thiền học của một số thiền sư Việt Nam trước đó, sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm và qua đó, đánh dấu một bước hoàn tất quá trình Việt Nam hoá Phật giáo.

Để làm sáng tỏ vấn đề này, trước hết, tác giả phân tích tiền đề thiền học của Trần Nhân Tông cùng những thiền sư đã có ảnh hưởng lớn đến Trần Nhân Tông. Tiếp đó, tác giả phân tích ba vấn đề đặc sắc trong tư tưởng của Trần Nhân Tông: quan niệm tâm chính là Phật, học thuyết vô niệm và tinh thần nhập thế tích cực.

Xét từ nhiều góc độ, Trần Nhân Tông là một nhân vật lịch sử vĩ đại. Do vậy, việc một lần nữa đánh giá về ông trên các phương diện lãnh tụ đất nước, anh hùng dân tộc, Phật hoàng, nhà cải cách tôn giáo hay nhà triết học..., là không hề đơn giản.

Dưới mỗi một lăng kính, ông hiển hiện ra với một uy thế khiến chúng ta khâm phục. Nhưng, cái đáng quý là ở chỗ, tất cả những tư thế đó, giá trị đó, thành tựu đó lại được tựu trung vào một con người - Phật hoàng Trần Nhân Tông.


Bài viết này đưa ra một số suy nghĩ về điểm nhấn Trần Nhân Tông trong tiến trình Việt Nam hoá Phật giáo với việc ông thành lập Thiền phái Trúc Lâm - giáo phái bản địa hóa đầu tiên ở Việt Nam.

Việt Nam, từ khi giành lại được độc lập sau nghìn năm Bắc thuộc, từ triều Đinh đến Tiền Lê đều rất coi trọng Phật giáo, đặc biệt là triều Lý và Trần đều lấy Phật giáo làm quốc giáo, tạo nên cục diện “vua và sư cùng trị thiên hạ” (đế dữ tăng cộng thiên hạ).

Song, các tông phái Phật giáo ở thời kỳ này đều được sáng lập bởi người nước ngoài, như Tì Ni Đa Lưu Chi (? - 594) là người Nam Thiên Trúc (Ấn Độ), sáng lập thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi; Vô Ngôn Thông (759? - 826), nhà sư đời Đường Trung Quốc, thành lập phái thiền Vô Ngôn Thông; Thảo Đường, cũng là nhà sư Trung Quốc thuộc Vân Môn tông, thành lập ra phái Thảo Đường.
Việc ra đời Thiền phái Trúc Lâm đã kết thúc thời kỳ các tông phái Phật giáo Việt Nam do người nước ngoài sáng lập, chứng minh Phật giáo đã thực sự bắt rễ tại Việt Nam, thực sự được người Việt đương thời tiếp thu và phát triển.
Nói cách khác, Phật giáo ở Việt Nam giai đoạn này không còn là Phật giáo Ấn Độ tại Việt Nam, cũng không phải là Phật giáo Trung Quốc tại Việt Nam, mà là Phật giáo Việt Nam. Bước chuyển trong quá trình bản địa hóa Phật giáo chính thức được đánh dấu bởi sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm.

1. Tiền đề thiền học của Trần Nhân Tông

Ngay từ nhỏ, Trần Nhân Tông đã tỏ ra là người xuất chúng. Tam tổ thực lục còn ghi, Trần Nhân Tông “thánh tính thông minh, tài giỏi hiếu học, đọc hết các sách vở, thông suốt nội điển (kinh Phật) và ngoại điển (sách vở khác)” (thánh tính thông minh, đa năng hiếu học, thiệp lịch quần thư, thông nội ngoại điển); “thông thảo cả các vấn đề về thiên văn, lịch số, binh pháp, y dược, âm luật” (chí ư thiên văn, lịch số, binh pháp, y dược, âm luật, mạc bất giai tạo kỳ khổn áo).

Việc tiếp xúc với các hệ tư tưởng khác, đặc biệt là Nho giáo và học thuyết Lão Trang, là một tiền đề quan trọng để sau đó, ông tập đại thành các tư tưởng Thiền học phức tạp thời bấy giờ.

Đã có rất nhiều học giả nghiên cứu và phân tích sâu về những cá nhân (chủ yếu là thiền sư, đặc biệt là Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sỹ) ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng của Trần Nhân Tông. Tựu trung lại, đa phần các học giả khẳng định, ông chịu ảnh hưởng của các phái thiền vốn có tại Việt Nam trước đó, song từ trường phái nào thì có hai quan điểm khác nhau.

Quan điểm đầu tiên cho rằng, Trần Nhân Tông có một ít ảnh hưởng từ phái Lâm Tế (Thiên Phong thiền sư phái Lâm Tế đã từng được Trần Thái Tông mời sang Việt Nam thuyết giảng Phật học), nhưng chủ yếu là ông chịu ảnh hưởng từ thiền phái Vô Ngôn Thông(1).

Quan điểm thứ hai cho rằng, Trần Nhân Tông, cụ thể là Thiền phái Trúc Lâm, bắt nguồn trực tiếp và chủ yếu từ Thiền phái Thảo Đường.

Đồng thời, theo quan điểm này, thiền phái Thảo Đường là do Lý Thánh Tông thành lập chứ không phải được xuất phát từ chính Thảo Đường.
Chúng ta hãy xem xét đoạn sau: “Vậy là sau chủ trương và đường lối đoàn kết dân tộc cho sự nghiệp giữ nước, thì tư tưởng Thiền phái Trúc Lâm cho sự nghiệp Nam tiến của dân tộc là một đóng góp khác của vua Trần Nhân Tông cho lịch sử tư tưởng Việt Nam. Như ta đã thấy tư tưởng thiền phái này bắt nguồn từ thiền phái Thảo Đường do vua Lý Thánh Tông thành lập. Nó do thế có thể nói là một nối dài hay đúng hơn là một phát triển cao hơn của thiền phái Thảo Đường, nếu không nói là một hoá thân của thiền phái này” (2).
Tuy nhiên, ngay sau đó, tác giả cũng trình bày: “Điều đáng tiếc là toàn bộ tư liệu về thiền phái Thảo Đường ngày nay đã hoàn toàn bị tán thất. Ta chỉ còn một bản tên duy nhất ghi lại thế thứ của dòng thiền này và được chép vào cuối sách Thiền Uyển tập anh. Vì vậy mọi bàn cãi về hệ tư tưởng của dòng thiền này tốt lắm thì cũng chỉ là những suy đoán, từ đó dễ đưa đến những nhận định thiếu cơ sở, đôi khi sai lầm” (3).

Trong hai quan điểm trên, chúng tôi nghiêng nhiều về quan điểm thứ nhất.

Trong sách Trúc Lâm Tuệ Trung Thượng Sỹ ngữ lục có một bức đồ tên là Lược dẫn thiền phái đồ, miêu tả các thế hệ thiền sư từ đời nhà Lý đến Trúc Lâm tam tổ, có đưa ra quan hệ truyền thừa như sau: Thông Thiền --> Tức Lự --> Ứng Thuận --> Tiêu Dao --> Tuệ Trung --> Trúc Lâm --> Pháp Loa --> Huyền Quang.
Trong đó, Thông Thiền, Tức Lự và Ứng Thuận lần lượt là đệ tử đời thứ 13, 14 và 15 của Vô Ngôn Thông, điều này được thể hiện rõ ràng trong Thiền uyển tập anh. Tuệ Trung Thượng Sỹ, người ảnh hưởng lớn đến Trần Nhân Tông, là một học trò xuất sắc của Tiêu Dao.
Ngoài ra, chúng ta cần nhớ đến một người nữa có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc tới Trần Nhân Tông là Trần Thái Tông.
Vào năm 1236, Trần Thái Tông từng đến núi Yên Tử để tham kiến quốc sư Viên Chứng, Trúc Lâm đại sa môn, mà Viên Chứng lại là đệ tử của Thường Chiếu, truyền nhân đời thứ 12 của Vô Ngôn Thông.
Bên cạnh đó, nếu xét về sắc thái tư tưởng thì rõ ràng, Thiền học của Trần Nhân Tông có nhiều điểm tương đồng với phái Vô Ngôn Thông (Vô Ngôn Thông được cho là theo đúng dòng thiền của Huệ Năng), nhất là các quan niệm “tức tâm tức Phật”, “vô niệm”,… 
Mô
Mô
Lăng và tượng Trần Nhân Tông trên núi Yên Tử
Dù sao đi nữa, đến thời đại của Trần Nhân Tông, sau hơn 10 thế kỷ phát triển ở Việt Nam, Phật giáo đã thấm nhuần vào trong đời sống xã hội cũng như sinh hoạt lý luận đương thời.
Tư tưởng thiền học của Trần Nhân Tông không phải xuất phát trực tiếp từ thiền học Trung Quốc, mà từ các dòng thiền được nảy sinh tại Việt Nam và được nuôi dưỡng bởi các thiền sư Việt Nam.
Nói cách khác, Trần Nhân Tông đã tập đại thành tư tưởng thiền học của một số thiền sư Việt Nam trước đó, sáng tạo nên Thiền phái Trúc Lâm, đánh dấu một bước hoàn tất quá trình Việt Nam hóa Phật giáo.

2. Quan niệm tâm chính là Phật (“tức tâm tức Phật”)

Với Trần Nhân Tông, Việt Nam hóa Phật giáo không chỉ là sáng lập giáo phái, có ý thức trong việc xây dựng và củng cố một giáo hội Phật giáo thống nhất (4), mà còn là khẳng định tầm lý luận của Phật giáo Việt Nam, cụ thể ở đây là thiền học Việt Nam.

Để đạt tới con đường giác ngộ, Trần Nhân Tông vừa sử dụng, vừa phát triển quan niệm của truyền thống Thiền Nam tông Trung Quốc (đại biểu là Huệ Năng và Thiền học Việt Nam) về “kiến tính”, “ngộ” và “giác”. Chúng ta có thể xuất phát từ quan niệm tâm chính là Phật của Trần Nhân Tông để tìm hiểu tư tưởng giải thoát, tư tưởng giác ngộ của ông.

Xuất phát điểm của quan niệm tâm chính là Phật (tức Phật tức tâm), Phật ở trong tâm (Phật tại tâm trung) của Trần Nhân Tông là việc ông quan niệm tâm con người không được thanh tịnh là do bị “vô minh”, “tham ái” che mờ, bị phiền não, vọng niệm bịt kín. 

(Còn nữa)

Nguyễn Tài Đông (Tạp chí Triết học)  


Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2009

Tên ăn trộm

Có tiếng ồn ào ở phía trên rẫy, Nhà Sư vừa bước ra khỏi Thiền thất thì chú Liễu Minh cũng vừa đi tới.
- Bạch Thầy! Rẫy mình vừa bị mất trộm, sáng nay lên nhổ sắn chúng con mới biết.
- Thế à!
- Dạ mất đâu khoảng chừng vài vồng.
Nhà Sư dừng lại, chậm rãi nói:
- Con ạ! Mất sắn và trộm sắn không phải là vấn đề của chúng ta! Là kẻ tu hành, vấn đề của chúng ta là, nhân đó, ta thử lắng nghe lại lòng mình một cách trung thực hơn. Ta sẽ lắng nghe rằng: ta có thể rộng lượng tha thứ được cho người chăng? Ta có móng khởi một tiếc rẻ nào khi mất đi một ít vật chất, của cải? Ta có thể san sẻ cho người bằng cách nhịn ăn một vài bữa! Và, sau hết, trong ta có dậy mối bất bình, phiền não chăng? Chúng ta là người học hạnh Giải thoát, có gì phải giải quyết ngoài những vấn đề tương tự?
Liễu Minh sững lại, Nhà Sư mỉm cười nắm tay chú theo lối mòn lên rẫy.

Liễu Minh nói:
- Bạch Thầy! Hồi nãy, con với chú Bất Đạt cãi nhau. Con thì nói "tha.” Chú Bất Đạt lại nói "bắt.” Con và chú ấy thường có quan niệm bất đồng.
Bất Đạt và Bất Ác từ trong những lùm sắn bước ra, mỗi người tay xách mấy chùm sắn vụn. Thấy Nhà Sư, Bất Đạt cất giọng oang oang:
http://www.thuonghieuviettravel.com/upload/images/place_090729080136.jpg- Bạch Thầy! Cái lũ ăn trộm này, gặp con, chúng sẽ biết tay!
Liễu Minh cãi lại:
- Biết tay như thế nào? Chú "bắt" chăng? Ý Thầy là Thầy sẽ "tha" cho phù hợp với tâm từ!
Nhà Sư nói:
- Không, Liễu Minh con! Thầy không "tha"! Vì tâm từ nên Thầy không "tha"!
Bất Đạt reo lên:
- Đó, chú Liễu Minh thấy chưa? Vì tâm từ nên Thầy không "tha", Thầy sẽ "bắt.”
Nhà Sư cười:
- Không, Bất Đạt con! Thầy không "bắt"! Vì tâm từ nên Thầy sẽ không "bắt.”
Cả ba chú đều ngơ ngác:
- Bạch Thầy thế thì...

Thấy vầng trán và cặp chân mày của Liễu Minh cau lại, Nhà Sư dịu dàng nói:
- Liễu Minh! Con hiểu về tâm từ như thế nào mà bảo nên "tha"?
- Vì tâm từ là thương người, yêu chúng sanh!
- Như vậy, vì tình thương mù quáng, con sẽ dung dưỡng kẻ trộm trên thế gian!
Bất Đạt góp lời:
- Vì không muốn dung dưỡng kẻ trộm trên thế gian, cho nên, con sẽ "bắt" mới đúng nghĩa tâm từ!
- Như vậy, vì tâm từ nóng vội con sẽ nuôi dưỡng hận thù giữa cuộc đời!
Im lặng một lúc, Nhà Sư tiếp:
- Các con ạ! Từ bi là vậy mà không phải vậy. Thật ra, trong các con, chưa ai hiểu tâm từ là gì!
Biết là cả hai chú đều rơi vào mối hoài nghi to lớn, nhưng Nhà Sư vẫn chưa trả lời vội, người dẫn cả ba chú đến một lùm cây rậm, chỉ vào đám cỏ rạp.
- Đêm kia, Thầy thấy cậu ăn trộm rình núp ở đây. Người bạn ăn đêm kiên nhẫn đợi Thầy tắt đèn và đi nghỉ, nên Thầy đã tắt đèn và đi nghỉ!
Không cưỡng được ý mình, Liễu Minh buột miệng:
- Thế là Thầy đã tha!
- Ừ! Thầy đã tha nhưng cái tha của Thầy khác với cái tha của con. Thầy tha mà không dung dưỡng kẻ trộm trên thế gian. Rồi con sẽ hiểu điều ấy.
Im lặng một lúc, Chú Liễu Minh lại nói:
- Thế là con sai ít mà chú Bất Đạt sai nhiều. Thầy đã không "bắt"!
- Không, không phải thế đâu con! Thầy có bắt, nhưng không nuôi dưỡng hận thù, nên cái bắt của Thầy khác với cái bắt của Bất Đạt!
Đầu óc của các đệ tử rối loạn như một mớ bòng bong, như tổ chim, chẳng biết đạo lý câu chuyện nó nằm ở đâu nữa!
Buổi chiều, trong giờ học Đạo, Nhà Sư lấy trong túi ra một lá thư bằng giấy học trò, nét chữ cứng cáp, không thẳng hàng thẳng lối, chẳng có chấm phết, sai chính tả lung tung.
Liễu Minh và Bất Đạt chăm chú đọc:
"Thưa Thầy,
Thầy biết con là thằn ăn cắp không những hai vồng thắn mà còn ăn cắp một tượng Phật nhỏ bằng đồng đen, ăn cắp mười giò phong lan tước đây nữa. Thầy biết mà Thầy lặng lẽ không nói với ai, cũng không hề tả lời một câu khi công an xã qua điều ta! Bây giờ Thầy lại còn giúp con vốn liếng, tiền ăn tiêu mười ngày để con lên "đá bạc" khai thác đá là nghề cũ tước đây của con. Tiền Thầy cho, con còn dư dã để thắm thanh dụng cụ hành nghề. Ơn đức Thầy thật là kể thao cho xiết. Con hứa từ nay cho đến tọn đời, con thề làm người lương thiện để khỏi phụ tấm lòng cao cả của Thầy.
Con,..."
Lá thư bên dưới có ký tên nhưng Nhà Sư đã lấy kéo cắt đi rồi.
Bất Ác bây giờ mới cất giọng nói:
- Con nhận nhiệm vụ bí mật của Thầy, con biết cả. Con nghe hai chú Liễu Minh và Bất Đạt cãi nhau, con chỉ cười.
Nhà Sư hỏi:
- Con cười sao?
- Con cười vì cả hai chú đều sai!
- Không đâu con! Cả hai chú đều không sai!
Câu trả lời của Nhà Sư thật bất ngờ.
Nhà Sư lại phải giải thích:
- Cả hai không sai, nhưng cả hai chú đều không đúng! Tại sao vậy? Vì trên sự tướng, tha hay bắt không quan trọng. Tha hay bắt chỉ quan trọng là khi tha để làm gì và bắt để làm gì? Tha rồi có giáo hóa được người và bắt thì có giáo hóa được người? Trên tất cả, đối với chúng ta, tha hay bắt là để học bài học Giác ngộ mà thôi!
Bất Đạt chợt nói:
- Ý con cũng có thể là vậy lắm! Con "bắt" rồi con sẽ tìm cách giáo dục người ta nữa chứ!
Liễu Minh nhíu mày:
- Chú mà giáo dục! Chú thượng cẳng chân hạ cẳng tay thì có! Rồi chú còn bắt trói người ta mà giải qua công an! Cái bắt đó là cái bắt của người đời, chỉ tăng thêm oán thù chứ không được tích sự gì!
Bất Đạt không giận mà cười khì khì.
- Còn chú thì sao hử? Chú "tha" rồi chú giáo dục người ta làm sao nào, nói đi? Tha trống không cái kiểu của chú thì chi bằng kêu ba thằng ăn trộm vô khiêng chùa chiền đi hết cho khỏe! Vậy là tha theo hạnh "Bố thí Ba la mật" đấy!
Nhà Sư khoát tay:
- Các con tranh cãi hay tranh luận đấy? Các con đừng nghĩ rằng giải pháp của Thầy là tối ưu, từ đó, lấy làm thước đo để xử sự ở đời! Các con có biết rằng, tha hay bắt chỉ là sự thể hiện bên ngoài? Tha hay bắt rồi sau đó tìm cách giáo hóa, cũng chỉ là sự khôn ngoan của sự thể hiện bên ngoài ấy mà thôi. Có một cái tâm, các con ạ! Khi biết cái tâm ấy, trú nơi cái tâm ấy, thì tha hay bắt đều trở nên đúng cả vậy. Tâm ấy là tâm gì, ai biết?
Cả ba chú đồng đáp:
- Dạ, Tâm Từ!
- Đúng thế! Vậy thì từ rày về say, khi gặp bất cứ tình huống nào cũng phải sáng suốt, bình tĩnh. Sáng suốt là Tuệ, bình tĩnh là Định. Từ Tuệ, từ Định mà khởi Tâm Từ thì mọi hành động của các con đều phù hợp với giáo pháp cả, không sợ sai lầm đâu!
- Chúng con đã hiểu cả rồi. Ôi! Thật tuyệt vời thay cái bài học hôm nay!
Nhà Sư Từ bi nhìn ba chú, tủm tỉm cười, thầm nghĩ: "Chỉ nên dẫn cho chúng lên ngang chỗ đó thôi! Chúng đâu có hiểu rằng, nếu Tâm Từ mà còn có trước ý, dụng ý, còn vấn đề lợi và hại, hay và dở, tốt và xấu thì Tâm Từ ấy đâu đã được gọi là Từ vô lượng?


------------------
Tác giả:- Minh Ðức - Triều Tâm Ảnh(nguồn:Hoangthantai.com)
*Huyền Không


Lăng Cô - Hải Vân – 1977

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2009

Con Chim Sẻ


Một ngày vừa lên bên ngoài khung cửa. Bình minh. Mùa xuân. Nắng nhẹ lung linh trên những đọt lá xanh non.
Rời bàn viết, Nhà Sư đi lần về phía cửa sổ. Muôn hoa nở đầy vườn. Nhà Sư vươn vai đón nhận làn thanh khí mát mẻ của đất trời mà cảm nghe một hòa điệu mênh mông, chan hòa với vạn vật.
- Bạch Thầy, bạch Thầy...
Tiếng gọi ngập ngừng từ bên ngoài vọng vào. Nhà Sư quay lại:
- Liễu Minh đấy à? Có chuyện gì vậy con?
Liễu Minh mở nhẹ cánh cửa:
- Sau giờ công phu khuya đến giờ, chẳng hay Thầy bận rộn điều gì mà không ngồi Thiền theo lệ thường?
Nhà Sư mỉm cười dịu dàng:
- Con thấy Thầy chong đèn rồi bảo Thầy "bận rộn" đó à?
- Con... con...
Nhà Sư cất giọng từ ái:
- Con ạ! Đọc sách, xem kinh không phải là bận rộn; viết truyện, viết sách không phải là bận rộn. Cho chí lao động suốt ngày, làm việc để kiếm thêm sắn khoai, rau cải cũng không phải là bận rộn. Trái lại, có kẻ công việc chẳng làm ra đầu ra đũa, bỏ mứa chuyện này, bỏ phế chuyện kia, lăng xăng, loay hoay... mà bận rộn suốt cả cuộc đời! Hai trường hợp ấy khác nhau ra sao con có hiểu không? Khác nhau ở cái "Tâm" con có biết không?
- Dạ, con đâu có dám nghĩ là tâm Thầy bận rộn... Con chỉ hỏi chừng sức khỏe của Thầy!
Nhà Sư ôn tồn:
- Con thấy đó, Thầy làm việc nơi bàn viết mỗi ngày năm, sáu tiếng; lao động chân tay hai, ba tiếng; công phu hành Thiền hai hoặc ba thời; còn tập thể dục, yoga, thái cực quyền... nữa. Ơn Phật cho Thầy được sức khỏe nên chẳng bao giờ uống thuốc Tây, thuốc Nam, thuốc Bắc; thế mà rất ít ốm bệnh, vài ba năm chỉ nhức đầu, sổ mũi sơ sơ vài ba ngày... vậy thì còn đòi hỏi gì nữa hở con?
Liễu Minh cúi đầu. Nhà Sư khẽ vỗ lên vai chú:
- Mà cho dù sức khỏe có sa sút, có ốm đau này nọ cũng là chuyện thường tình. Có thân ắt có bệnh. Mình muốn thân này không bệnh là đi ngược lại với sự vận hành tự nhiên của định luật. Vậy là không được. Vậy là dục vọng. Người hiểu Đạo phải sống theo Pháp, thuận Pháp.

- Dạ, con đã hiểu.
- Còn nữa, đấy là chưa nói cái chí hướng, cái chí nguyện. Đức Bồ tát thí thân cứu hổ dữ, cắt thịt mình cho chim ăn, hy sinh cái thân vì hạnh phúc cho phần đông. Chúng ta là kẻ xuất gia, cái thân này chỉ tạm mượn mà tu hành. Lại nữa, xuất gia là ý chí tối thượng, là Ba la mật; như mũi tên kia đã đặt trên dây cung, như hành trang nọ đã chuẩn bị sẵn với con thiên lý mã; vậy chỉ còn là sự tinh tiến, quyết tâm lên đường nữa thôi. Có sá gì cái thân này hở con?
Liễu Minh gục gặc đầu ra vẻ lãnh hội được bài học, chú nói:
- Thế ra cái thân này chỉ dùng để mà thể nghiệm Đạo lớn?
Nhà Sư cười:
- Đúng, nhưng không cần nói đao to búa lớn như vậy. Giới nơi thân có ba, có ba là nói theo pháp học chứ thật ra là hàng chục. Không phải chỉ có sát, đạo, dâm... mà tất thảy những vọng động của thân, những lắc lư, ưỡn ẹo, tay đấm chân đá nữa! Mỗi lần xin giới con đều có đọc: "Con xin vâng giữ điều học..." Điều học gì? Phải học bài Giác ngộ ở đó!
Nhà Sư tự nghĩ: "Đơn giản vậy mà không dễ gì nó lãnh hội hết đâu, nhưng chỉ cần cái gợi ý, gợi ý đúng hướng nó sẽ tư duy đúng hướng."
Lát sau, Nhà Sư ân cần nắm tay Liễu Minh đi về hướng chánh điện. Mùi hoa huệ trắng tỏa hương thơm tinh khiết phảng phất trong không gian.
- Con chim sẻ, bạch Thầy! Con chim sẻ hồi hôm vẫn còn!
Theo hướng tay chỉ của Liễu Minh, Nhà Sư thấy phía trên bệ thờ, một con chim sẻ đang kêu chiêm chiếp, vươn vai ưỡn cánh vô tư...
Nhà Sư nói:
- Con chim kia có vẻ vô tư, thoải mái con nhỉ! Dường như đó là những giây phút vô tư hạnh phúc, bình yên của nó.
- Vâng, quả có vậy.
Trầm ngâm giây lâu, Nhà Sư hỏi:
- Con có thể cho Thầy biết rằng, là cái hạnh phúc, bình yên kia có chân thật không? Hay là ẩn sau cái hạnh phúc, bình yên ấy là những sợ hãi, những lo âu?
Vừng trán đầy thông minh của Liễu Minh chợt cau lại. Nhà Sư biết là mình đã đặt một câu hỏi vượt quá sức của chú. Vừa định tìm cách khơi dẫn thì con chim sẻ vừa cất cánh bay lên khung cửa gương phía trên cao. Chim vì thấy có người, định tìm lối thoát nhưng cũng bị dội ngược trở lại. Đã mấy lần chim lập lại mãi cái nỗ lực vô vọng ấy.
Liễu Minh chợt reo lên:
- Con tìm ra câu trả lời rồi! Hạnh phúc, bình yên kia chẳng phải là cái chân thật, chỉ là cái tạm thời. Bạch Thầy, vì quê hương nó không phải là ở đây, mà ở bên ngoài cửa gương, nơi bầu trời mênh mông, cao rộng...
Nhà Sư nhè nhẹ gật đầu:
- Con đã nghĩ đúng. Ôi! Nếu cái nghỉ ngơi tạm thời kia mà được gọi là hạnh phúc, bình yên thì hạnh phúc, bình yên của đời người mới ngắn ngủi, mới đáng mỉa mai làm sao, con nhỉ! Thụ hưởng được tí chút hạnh phúc, bình yên để rồi phải đối đầu với mọi nỗi lo âu, sợ hãi. Thụ hưởng được tí chút hạnh phúc, bình yên để rồi nhận ra rằng mình đang bị vây bủa trong bốn bức tường cao!
Liễu Minh con! Hãy nhìn thêm sự đau khổ đã rã rời trên đôi cánh của chim. Con hãy nhìn để biết, để thấy và để cứu!
Trên cao, chim vẫn láo liêng, ngơ ngác, bay ngược, bay xuôi; vẫn lập đi, lập lại mãi cái động tác quen thuộc: lao vào liền bị dội ra!
Như đã không còn chịu đựng nỗi cái đau khổ của chim, Liễu Minh hốt hoảng:
- Hãy cứu, bạch Thầy, hãy cứu nó!
Vừa nói, Liễu Minh vừa chạy tới, chạy lui đầy thương yêu và lo lắng; nhưng khoảng cách giữa người đến chim quá xa, chẳng thể làm gì được. Chú vỗ tay, chú đập thùng, chú hét, chú la... Tất cả đều vô ích. Nỗ lực của chú chỉ làm cho chim hốt hoảng, sợ hãi thêm mà thôi.
Nhà Sư cũng thương yêu chim nhưng bình tĩnh hơn. Nhà Sư đưa mắt nhìn quanh, quan sát và suy nghĩ biện pháp, rồi nói:
- Con chạy ra sau vườn, nơi chỗ cây sàla, lấy ngay cây sào vào đây.
Khi đã có cây sào, Nhà Sư lấy tấm vải rách cột lên đầu sào. Chỉ cho Liễu Minh thấy lỗ hổng thông gió ở đầu hồi chánh điện, Nhà Sư bảo chú xua chim vào hướng ấy.
Quả nhiên, theo cách làm như vậy, lát sau, chim sẻ được cứu thoát ra ngoài.
Liễu Minh thở một hơi dài nhẹ nhõm:
- Nếu không có Thầy thì con chỉ làm cho nó thêm sợ hãi. Con quả là thiểu trí.
- Con đã tỏ ra đầy lo lắng, thương yêu khi chim bị nạn, như vậy là có lòng Từ bi. Nhưng nếu thiếu trí, thì Từ bi kia sẽ rơi vào những tình cảm sướt mướt, bá vơ, đôi khi không hữu ích gì cho cuộc đời này; lại làm cho cuộc đời này thêm rối loạn, như chim đã rối loạn. Thiếu Trí con sẽ chạy tới, chạy lui mãi giữa thế gian, thương người, thương đời nhưng không biết làm sao mà cứu!
Thấm thía bài học, Liễu Minh rưng rưng như chực sa nước mắt.
Nhà Sư bước tới điện thờ, tự tay đốt đèn cầy, thắp hương, xông trầm với tư thái chậm rãi, cẩn trọng, trang nghiêm. Rồi Nhà Sư nói:
- Con hãy đến đảnh lễ Phật - nhìn Liễu Minh đảnh lễ, Nhà Sư tiếp - đảnh lễ một cách định tĩnh, buông xả cả thân lẫn tâm! Ngay giây phút đảnh lễ thì bản ngã, kiêu căng, tham sân, sầu muộn... thảy đều phải được buông xuống hết. Đảnh lễ là Giải thoát thân, Giải thoát tâm, Giải thoát trí đấy con ạ! Thôi được, xong rồi, bây giờ con hãy ngồi xếp bằng theo thế liên hoa và nhắm mắt lại.

Thấy Liễu Minh làm y lời, Nhà Sư nói:
- Những tạp niệm đã lắng xuống rồi, bây giờ hãy làm cho tâm con được trong sáng và lớn rộng hơn. Con có nghe rõ đấy không?
- Dạ nghe rõ.
- Con có thấy bầu trời trong xanh và cao rộng chưa?
- Dạ thấy rồi.
- Bây giờ con hãy "tưởng" con là bầu trời, không một tư niệm nào; một bầu trời rộng lớn, vô biên, trong sáng, không hề có một đám mây nào gợn! - chăm chú nhìn Liễu Minh, lát sau Nhà Sư tiếp - Vậy là tốt, hãy cứ để tâm như vậy chừng năm, mười phút.
Cuộc đối thoại chìm trong yên lặng. Trầm, hương mênh mang tỏa khói, những sợi nhỏ lãng đãng uốn mình xuyên qua những tia nắng bình minh rồi tan hòa mất hút giữa thinh không. Vài tiếng động bên ngoài cũng chợt như xa vắng. Thời gian và không gian đọng lại trong vũng sáng lưu ly... nơi cái giây phút hư không, vô nhiễm. Tất cả đều là hư không, vô nhiễm!
Nhà Sư "đánh thức" Liễu Minh:
- Thôi, đủ rồi con!
Liễu Minh mở mắt ra.
- Tâm hồn con bình yên rồi đấy chứ!
- Dạ vâng.
- Cái hư không vô nhiễm kia không phải là Niết bàn nhưng là chỗ "tạm thời nghỉ ngơi" của chúng ta! Chỗ "tạm cư" ấy nó nhẹ nhàng hơn, yên ổn hơn tất cả những cái gọi là hạnh phúc giữa cuộc đời này. Khi nào phiền muộn con hãy đến đó mà nghỉ ngơi nhé! Con chưa Thiền quán được thì tạm thời lấy cái "tưởng" hư không vô nhiễm ấy mà làm nơi an trú...
- Dạ, con nghe rõ.
- Còn nữa! Thầy phải cần lặp lại rằng, cái chỗ nghỉ ngơi của con chim sẽ là không yên ổn, chỗ nghỉ ngơi vừa rồi yên ổn hơn, nhưng nó chưa phải là mục đích phạm hạnh của chúng ta. Bài học của con chim sẻ không phải chỉ có chừng đó, con hãy chiêm nghiệm thêm. Nhớ nhé!
Buổi tối, sau giờ tụng kinh, Nhà Sư hỏi:
- Từ chuyện chim sẻ hồi sáng, con học thêm được bài học gì, nói cho Thầy nghe thử xem?
Liễu Minh vòng tay:
- Con suy nghĩ kỹ rồi, bạch Thầy! Thuở mới vào chùa, con tưởng đời sống tu sĩ nhàn hạ, thảnh thơi. Nhưng con đã lầm, sự nhàn hạ, thảnh thơi ấy dễ phát sanh những thụ hưởng ích kỷ, biếng nhác. Vậy con chính là con chim sẻ ấy và Thầy là người dẫn lối đưa đường cho con ánh sáng để thấy rõ mình hơn.
- Rất tốt. Vậy còn bài học gì nữa?
- Thầy đưa con đến chỗ hư không vô nhiễm mà Thầy còn nói đó là chỗ nghỉ ngơi tạm thời. Bởi chính ngay nơi chỗ nghỉ ngơi ấy cũng dễ phát sanh thụ hưởng, ích kỷ, vị ngã. Con đã hiểu như vậy, là bài học thứ hai, không biết có sai lầm chăng, bạch Thầy?
- Không sai đâu! Còn bài học nào nữa hở con?
- Bây giờ, chim sẻ không còn là con nữa mà chim sẻ là hình ảnh của chúng sanh vạn loài. Vì Vô minh, vì Ái dục, chúng sanh cứ mải mê trong hạnh phúc tạm bợ thế tình, những thỏa mãn ngũ dục phù du. Khi nhìn lại thì xung quanh đã bị vây bủa bít bùng, không còn tìm thấy lối ra. Đâu đâu cũng là bóng đêm. Đâu đâu cũng là tử sinh và nước mắt. Bạch Thầy, đấy là bài học thứ ba.
Nhà Sư mỉm cười:
- Khá lắm! Nhưng dường như con muốn nói gì đó nữa?
- Dạ đúng thế. Con còn muốn ví von rằng, tấm gương mỏng và trong bên cửa sổ cao kia được ví như màn Vô minh. Vì trong và mỏng quá nên chúng sanh không biết đấy là Vô minh. Nhưng Vô minh dầu mỏng, dầu dày cũng rất khó thấy. Đối với kẻ trí, ít nghiệp chướng thì nó rất mỏng. Đối với người ngu, nhiều nghiệp chướng thì nó chắc hẳn phải dày. Nhưng, đập vỡ được nó ra thì bên kia là vùng trời Giải thoát!
- Lành thay! - Nhà Sư tán thán- con còn muốn nói gì nữa không?
- Bạch Thầy, hồi sáng, nhờ cây sào của Thầy, con mới đưa chim ra được bầu trời tự do. Cây sào ấy được ví như là giáo pháp, nói gọn và gần hơn nó chính là Bát Chánh Đạo. Chỉ có Bát Chánh Đạo mới đưa được chúng sanh từ nơi lo âu, sợ hãi, phiền muộn đến nơi Giải thoát an vui!
- Hay lắm!
- Bạch Thầy - Liễu Minh say sưa nói - Phải xua, phải đuổi, phải đánh, phải đập những con chim sẻ đần độn, ngu muội! Phải tát vào mặt, phải quất vào lưng những con chim sẽ ngủ mê, hưởng thụ, biếng nhác! Phải làm cho chúng tỉnh dậy, phải làm cho chúng ra đi, cho chúng bay, cho chúng thoát. Phải giúp đỡ cho chúng sanh bằng mọi phương tiện có thể được. Bây giờ không còn là thứ Từ bi thụ động, tiêu cực, nước mắt sướt mướt... mà phải là bão để cuốn phăng, phải là lửa để đốt cháy... cho chúng sanh tỉnh giấc mộng trường! Và ngay chính bản thân con, con chim sẻ ngu muội, cũng phải biết thủ tiêu cái hèn mọn của tự ngã, sự nghỉ ngơi tạm thời... để lên đường, để ra đi...
Nói ra đi như vậy, nhưng con chưa dám nghĩ là để thành tựu điều gì, mà chỉ là đáp đền hồng ân Tam bảo, đáp đền ân Thầy Tổ, đàn-na thí chủ và tình nghĩa đệ huynh. Và nhất là để khỏi hổ thẹn với chính mình!
Nhà Sư ân cần nắm tay Liễu Minh đứng dậy:
- Đấy là những suy nghĩ chân chính, đáng khen. Chà! Một con chim sẻ vừa ngu muội đó mà bây giờ đã trở nên thông minh rồi! Thầy hài lòng lắm, con biết không?
Liễu Minh nở nụ cười sung sướng còn tươi đẹp hơn mùa xuân bên ngoài

Tác giả:- Minh Ðức - Triều Tâm Ảnh (Nguồn: hoangthantai.com)

(Tam Bảo Tự - Đà Nẵng – 1977)


Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2009

Lời Mẹ Dạy

Jiun, một vị Thiền sư phái Shingon, vốn là một học giả chữ Phạn thời Tokugawa. Lúc còn là thiền sinh, ngài hay thuyết giảng cho các đồng môn.
Khi hay tin, mẹ ngài liền viết cho ngài một lá thư: "Con ạ, Mẹ không tin rằng khi con hiến mình vào cửa Phật là cốt để trở thành một cuốn tự điển sống. Biện bác, sành sõi, vẽ vang và tự màn chẳng đi đến đâu. Mẹ muốn con hãy dẹp cái trò lên lớp đó đi. Hãy dọn mình tĩnh tu trong một tiểu viện ở chốn thâm sơn cùng cốc. Dành mọi thì giờ cho việc thiền quán, may ra con mới ngộ được chánh đạo.

Thiền sư Muju-Trần Trúc Lâm dịch

Thứ Tư, 2 tháng 12, 2009

Một Cốc Trà

Nan-In, một thiền sư Nhật vào thời Minh - Trị (1868- 1912), tiếp một vị giáo sư đại học đến tham vấn về Thiền. Nan-In đãi trà. Ngài chế một cốc đầy và vẫn tiếp tục rót. Vị giáo sư nhìn cốc nước tràn cho đến khi không nhịn được, bèn lên tiếng: "Nó đã đầy tràn rồi, không thêm được nữa đâu!"


"Thì cũng như chiếc cốc này" Nan-In thong thả nói, "ông đã mang đầy tư kiến và thành kiến. Làm sao tôi có thể chỉ cho ông về Thiền nếu ông không cạn cốc của ông?"


Thiền sư Muju
-------------------------------------------------------------------------------------------------


Trích trong 101 Câu Chuyện Thiền (101 Zen Stories): đã được ấn hành lần đầu vào năm 1939 bởi Rider and Company, Luân Ðôn, và David McKay Company, Philadelphia. Những mẫu chuyện này đã được chuyển sang Anh ngữ từ một cuốn sách gọi là Shaseki-shu (Collection of Stone and Sand: Góp nhặt Cát Ðá), viết vào cuối thế kỷ 13 bởi một Thiền sư Nhật tên là Muju (Vô Trú), và những giai thoại của các vị Thiền tăng lượm lặt từ nhiều sách đã ấn hành tại Nhật vào khoảng đầu thế kỷ 20. Những câu chuyện này kể lại sự chứng ngộ của các vị Thiền sư Trung hoa và Nhật bản. Các ngài đã giảng dạy Thiền hơn 500 năm qua-Theo Thư viện hoa sen.