Hiển thị các bài đăng có nhãn Mật tông. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mật tông. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 22 tháng 5, 2010

Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn trong Thiền quán

OM MANI PADME HUM! gọi là Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn.
Chú này có công năng diệt trừ mọi tai nạn, đau khổ, giúp người tu đạt trí tuệ sáng suốt của Phật Thừa, gọi là Đại Minh. Bởi vậy thực hành sáu chữ này thì đạt cái huệ tự nhiên, cái vô phân biệt trí, cái trí tự nhiên biết, thấy như thật, biết như thật để làm như thật. nên gọi là Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn. Trong đó Chân Ngôn nghĩa là Đalani. Lục Tự nghĩa là gồm có sáu chữ . Đại Minh nghĩa là sáu chữ này hành công rốt ráo sẽ đưa lại cái biết to lớn, sự sáng suốt to lớn, nghĩa là cái huệ, cái tự nhiên biết, cái phản ảnh như thật của Tâm Bát Nhã Bala Mật Đa (Prajna Paramita).
OM MANI PADME HUM! là câu thần chú nổi tiếng ở thế giới. Phật tử nào cũng thuộc, môn phái nào cũng trì tụng vì lực bất tư nghì của nó. Nó có công dụng diệt trừ đau khổ. Giúp người tu tập vượt qua Dukkha, đạt giải thoát và cái huệ tự nhiên của nhà Phật. Thần chú này do Đại Bồ Tát Quán Thế Âm thương xót chúng sanh mà tuyên thuyết trước mặt Như Lai. Vậy phải hiểu thế nào là Quán Thế Âm thì bạn mới biết cách dụng của Quán Thế Âm – ‘Om Mani Padme Hum’.

Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010

Lục tự đại minh chú

Tôi muốn thảo luận chút ít về ý nghĩa của thần chú OM MANI PADME HUM.
Mani tượng trưng cho phương tiện và padme tượng trưng cho trí tuệ. Nói cách khác, hai từ này gồm chứa toàn bộ con đường được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khám phá; toàn bộ con đường tiệm thứ dẫn tới giác ngộ.
Hai từ này bao gồm toàn bộ con đường dẫn tới Niết bàn – sự giải thoát khỏi đau khổ và nguyên nhân đích thực của đau khổ. Tất cả những con đường của các thừa thấp được bao gồm trong phương tiện và trí tuệ; do đó, chúng được bao hàm bởi mani và padme. Toàn bộ con đường Ba La Mật thừa và con đường Bồ đề tâm đưa tới sự giác ngộ cũng được hoàn thiện bởi phương tiện và trí tuệ; vì thế nó cũng hoàn toàn được bao hàm trong mani và padme. Cuối cùng, toàn bộ con đường Kim Cương thừa – con đường của thừa (cỗ xe) bất khả phân, mantra, hay mật chú cũng được bao hàm bởi những phạm vi này.
Mantra có bốn phần, hay cấp độ. 

Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2010

TỬ THƯ TÂY TẠNG (Phần V)

NHỮNG CẦU NGUYỆN
Những “khấn cầu” này được lấy từ sưu tập những bản văn terma liên hệ với Bardo Thoštrošl. Chúng đều được đề cập đến như những thực hành sùng mộ trong bản thân Bardo Thoštrošl, và một số câu được trích ra như là một phần của những giáo huấn cho người chết. Từ ngữ thường được dịch đơn giản là cầu nguyện nghĩa đen có nghĩa là “con đường ước nguyện” (Tây Tạng smon-lam). Nó không phải là một cầu xin đến một bổn tôn hóa thần ở bên ngoài, mà là một phương pháp tịnh hóa và hướng dẫn tâm thức. Nó hoạt động như sự gây cảm hứng bằng cách khởi lên lòng mong muốn nội tại trong tâm về cái thiện, mong ước về cái thiện này lôi cuốn sự thành tựu mục đích của nó.
Cầu Nguyện chư Phật
và chư Bồ tát Cứu Thoát

Vào lúc chết của một người nào, người ta nên luôn luôn kêu cầu chư Phật và chư Bồ tát cứu thoát cho. Người ta cần có những cúng dường vật chất và tâm thức lên Tam Bảo, và cầm hương trong tay, nói lên những lời này với năng lực tập trung mạnh mẽ 
Chư Phật và chư Bồ tát ở trong mười phương, bi mẫn, toàn tri, với năm nhãn, từ ái, những bậc bảo vệ cho tất cả chúng sanh, xin đến chỗ này bằng thần lực đại bi và chấp nhận những phẩm vật cúng dường bằng vật chất và tâm thức.
Hỡi các Bậc Bi Mẫn, các ngài có trí huệ thấu suốt, lòng từ bi, hoạt động hiệu quả và năng lực che chở bất khả tư nghì. Hỡi các Bậc Bi Mẫn, con người này (tên) đang đi từ thế giới này qua bờ bên kia, nó đang từ bỏ thế giới này, nó đang chết không có quyền lựa chọn, nó không có bạn bè, nó đang khổ đau cực kỳ, nó không có nơi nương tựa, nó không có người bảo vệ, không có đồng minh, ánh sáng của đời này sắp lặn, nó đang đi qua thế giới khác, nó đang vào trong bóng tối dày đặc, nó đang rớt vào một hố thẳm sâu, nó đang đi vào rừng rậm, nó đang bị nghiệp lực đuổi theo, nó đang vào nơi hoang dã bao la, nó đang chìm trong một biển lớn, nó đang bị thổi đi bởi gió nghiệp, nó đang đi đến nơi không có đất cứng, nó đang vào trong một trận chiến lớn, nó bị những hồn linh nắm lấy, nó đang bị khủng khiếp bởi những sứ giả của Thần Chết, nó đang đi vào đời này sau đời khác vì nghiệp của mình, nó vô vọng, thời gian đã đến khi nó phải ra đi một mình không một người bạn.

Thứ Năm, 8 tháng 4, 2010

THẦN CHÚ THIẾT YẾU DÙNG ĐẶT TRONG THÁP, TƯỢNG PHẬT

Rất không tốt nếu để cho tháp hoặc tượng Phật trống rỗng bên trong. Để cho tháp hoặc tượng Phật trống rỗng bên trong cũng giống như là cúng dường không có gì cả đến các đức Phật. Vì vậy, điều quan trọng là phải đặt một cái gì đó vào trong tháp hoặc tượng Phật, thậm chí chỉ cần một ít các câu thần chú cũng được.

“Bốn Thần Chú Xá Lợi Pháp Thân” (Four Dharmakaya Relics Mantras) là xá lợi cao nhất của đức Phật, xá lợi của Pháp thân. Sau đó mới đến các xá lợi mà chúng ta thấy thông thường. Bốn Thần Chú này là xá lợi cao nhất của đức Phật.

Bằng cách đặt “Bốn Thần Chú Xá Lợi Pháp Thân” vào trong tháp, tượng Phật đã làm cho tháp hoặc tượng Phật trở thành một đối tượng mang lại lợi ích không thể tưởng tượng nổi. Như là một nghiệp xấu có thể mang bạn tái sanh xuống các địa ngục, nhưng nó sẽ được xóa sạch chỉ cần bạn đi vòng quanh (theo chiều kim đồng hồ) tháp đó một vòng. Các súc sanh không thể nghe thần chú, nhưng chúng cũng có thể giải thoát chính bản thân chúng, bằng cách tình cờ đi vòng quanh tháp đó một vòng. Chỉ bằng cách: thấy, nghe, đụng chạm vào, hay nhớ nghĩ đến những thánh vật có đặt “Bốn Thần Chú Xá Lợi Pháp Thân” vào bên trong cũng có thể xóa được những nghiệp xấu.

Các bạn có thể hạ tải “Bốn Thần Chú Xá Lợi Pháp Thân” (Four Dharmakaya Relics Mantras) ở địa chỉ sau:


(Nguồn: HTT)

Thứ Tư, 7 tháng 4, 2010

TỬ THƯ TÂY TẠNG (Phần IV)

Đại Giải Thoát  Thông Qua Sự Nghe Trong Bardo CHÁNH VĂN
(Tiếp theo)
Nhưng nếu ngay cả khi được chỉ bày như thế mà vẫn bị các xu hướng ác độc mê muội kéo ông ta lùi lại sau và ông ta sợ hãi lẩn tránh cho nên ông ta không nhận ra yidam, rồi thì, vào ngày thứ mười hai, ảnh hiển lộ của bộ Nghiệp với hình tướng đang uống máu sẽ đến cùng với các vị thiên gauris,[18]* vị thiên pisacis có đầu súc vật, các thiên nữ hành giả yoginis đến tiếp dẫn người chết. Nếu người chết không nhận ra, ông ta sẽ sợ hãi, cho nên để chỉ bày cho ông ta lần nữa, người nên gọi tên ông ta và đọc những lời sau : ÷

“Này thiện nam (tín nữ), hãy lắng nghe cẩn thận, không được xao lãng. Khi ngày thứ mười hai đến, ảnh hiển lộ của bộ Nghiệp được gọi là Heruka-Nghiệp Thiêng Liêng với hình tướng đang uống máu từ phần phía bắc của đầu con và nổi lên trước mặt con rất rõ nét trong dạng liên kết với người phối hợp ; thân ngài màu xanh lá cây đậm với ba đầu sáu tay và bốn chân dang rộâng ; gương mặt bên phải màu trắng, gương mặt bên trái màu đỏ, gương mặt ở giữa màu xanh lá cây đậm huyền diệu, ba tay bên phải tay thứ nhất cầm kiếm, tay giữa cầm đinh ba có ba đầu người ở trên, tay cuối cầm cây gậy, ba tay bên trái tay thứ nhất cầm chuông, tay giữa cầm tách sọ người tay cuối cầm lưỡi cày ; người phối hợp là Karma-Krodhisvari ôm thân ngài, tay phải của bà choàng qua cổ, tay trái của bà cầm một sọ người đầy máu đưa tới miệng ngài. 

Thứ Hai, 5 tháng 4, 2010

TỬ THƯ TÂY TẠNG (Phần iii)

NGÀY THỨ TƯ

Vào ngày thứ tư có hỏa địa được tịnh hóa, thể hiện bởi A Di Đà Phật (Amitabha), bộ Hoa Sen (padma family). A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang và phẩm tính căn bản của hoa sen là có sức thu hút quyến rũ, nhiệt tình lôi cuốn, mở toang, trống rỗng và đại bi. Nói là Vô Lượng Quang bởi vì nó đích thị sáng chiếu một cách tự nhiên, không đòi hỏi sự khen thưởng. Nó có bản chất của lửa chứ không phải theo nghĩa cái nóng sân hận, nó tiêu dùng bất cứ chất liệu nào mà không hề từ chối hay chấp nhận. Ngài A Di Đà cầm trên tay một đóa sen, điều này có nghĩa : hoa sen nở khi mặt trời mặt trăng chiếu sáng lên đóa hoa, nó nở về hướng có ánh sáng và chấp nhận bất kỳ tình huống nào đến từ bên ngoài. Hoa sen có phẩm chất tinh khiết hoàn hảo ; với lòng đại bi như vậy, nó mọc lên từ trong bùn đất dơ bẩn nhưng đóa hoa thì trong sạch và toàn thiện một cách trọn vẹn. Ngài ngự trên lưng con công việc này lần nữa thể hiện sự mở trống và sự hoan hỷ chấp thuận : trong thần thoại, chim công được coi như nuôi dưỡng bằng chất độc, những màu sắc đẹp lộng lẫy của nó được tạo nên từ việc ăn chất độc. Sự mở trống rộng ra tới mức nó có thể giải quyết được mọi tình huống bất thiện vì thực ra chính vì các tình huống bất thiện đó mà lòng đại bi được hoan hỷ và sinh động.

Thứ Bảy, 3 tháng 4, 2010

TỬ THƯ TÂY TẠNG (Phần II)

2.Đại Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe Trong Bardo
 
Bài Giảng của Chošgyam Trungpa, Rinpoche

THÔNG ĐIỆP CỦA CUỐN SÁCH

Dường như có một vấn đề gút mắc cơ bản khi chúng ta đề cập tới chủ đề “Tử thư Tây Tạng”. Nếu đưa ra so sánh về phương diện thần thoại và những hiểu biết về người chết giữa Tử thư Tây Tạng với Tử thư Ai Cập thì chúng ta sẽ bỏ sót một điểm cơ bản đó là quy luật cơ bản của sự chết và sự sanh được tái diễn liên tục trong cuộc sống này. Do đó, chúng ta có thể coi bộ giáo huấn này như là “Sách Tái sanh của người Tây Tạng”. Bộ giáo huấn này không đặt nền tảng trên cái chết theo nghĩa đen, nó được đặt nền trên một quan niệm hoàn toàn khác biệt về cái chết. Nó là một “Quyển sách về Chân Không”. Chân Không chứa đựng cả cái chết lẫn cái sanh ; hư không tạo lập nơi để chúng ta hít thở, cư xử và hành động, nó là môi trường cơ bản cung cấp nguồn cảm hứng cho bộ sách này.

Trước khi Phật giáo du nhập vào, nền văn minh của đạo Bošn ở Tây Tạng đã có sẵn những chỉ dẫn chính xác cách ứng xử với năng lực tinh thần do người chết để lại sau đó, hay có thể nói là các dấu hiệu, thân nhiệt thi thể khi một người chết đi. Dường như cả hai – truyền thống của đạo Bošn và của người Ai Cập – chỉ dựa trên loại kinh nghiệm về cách mà các dấu hiệu của người chết biểu lộ, thay vì đề cập tới tâm thức (thần thức) của người chết. Nhưng cái tạng thức căn bản (basic principle) mà tôi đang cố diễn đạt ngay bây giờ chính là cái bản chất chao đảo, nghiêng ngã giữa sự sáng suốt và u mê hay giữa giác ngộ và mê lầm, cùng với các khả năng xảy ra đối với đủ loại khám phá các ảnh hiện ra trên đường dẫn tới sự sáng suốt hay sự u mê.

Thứ Sáu, 2 tháng 4, 2010

TỬ THƯ TÂY TẠNG (Phần 1)

Guru Rinpoche theo Karma Lingpa 

1.ĐẠI GIẢI THOÁT THÔNG QUA SỰ NGHE TRONG BARDO
Một bản dịch mới, đầy đủ từ tiếng Tây Tạng  với bình giảng bởi Chošgyam Trungpa và Francesca Fremantle
The Tibetan Book of the Dead - The Great Liberation Through Hearing in The Bardo Shambhala, 1975-Việt dịch: Kiến Không - Thiện Tri Thức, 2001
Lời Nói Đầu
Bardo Thoštrošl là một trong một loạt các bộ giáo huấn chỉ dẫn sáu cách giải thoát : giải thoát thông qua sự nghe ; giải thoát thông qua đeo, mặc ; giải thoát thông qua sự thấy ; giải thoát thông qua nhớ tưởng ; giải thoát thông qua nếm vị ; giải thoát thông qua xúc chạm. Bộ giáo huấn này do ngài Padmasambhava chỉ giáo và người vợ (tâm linh) của ngài là Yeshe Tsogyal ghi lại cùng với sadhana (nghi thức hành trì) về hai mạn đà la (mandalas) của bốn mươi hai vị deity bình yên (peaceful) và năm mươi tám vị deity xung nộ (wrathful).

Ngài Padmasambhava đã chôn cất các bộ giáo huấn này trong vùng đồi Gampo ở miền trung Tây Tạng, nơi này về sau đại sư Gampopa xây một tu viện. Nhiều bộ giáo huấn khác cùng với các vật thiêng liêng cũng được chôn cất như vậy ở nhiều nơi khác nhau trên khắp lãnh thổ Tây Tạng ; người ta gọi các bộ giáo huấn đó và các vật thiêng liêng được chôn cất là terma. Ngài Padmasambhava đã truyền oai lực cho hai mươi lăm đại đệ tử để khám phá các nơi chôn cất các terma. Sau này, ngài Karma Lingpa đã tìm ra nơi chôn cất bộ giáo huấn Bardo này, ngài Karma Lingpa là tái sanh của một trong các vị đại đệ tử đó.

Theo tôn chỉ này, giải thoát có nghĩa rằng bất kỳ ai dù là người nghi ngờ hay là người có tâm rộng mở, khi tiếp cận được giáo huấn này sẽ nhận được một chợt thấy thình lình giác ngộ thông qua oai lực trao truyền đã được chứa đựng trong các bảo vật (terma) này.

Ngài Karma Lingpa thuộc truyền thống Nyingma nhưng tất cả học trò của ngài đều thuộc truyền thống Kagyuš. Ngài thực hiện sự trao truyền lần đầu tiên sáu bộ giáo huấn giải thoát này cho ngài Došdušl Dorje, vị Karmapa đời thứ mười ba, đến lượt ngài Došdušl Dorje trao truyền lại cho Gyurme Tenphel, vị Trungpa đời thứ tám. Sự trao truyền vẫn tiếp tục tồn tại trong các tu viện Surmang của dòng Trungpa và từ nơi đó sự trao truyền lan ra trở lại trong truyền thống Nyingma.

Thứ Ba, 23 tháng 3, 2010

Lục Tự Đại Minh chân ngôn

Tam Tạng Pháp Sư Tuyên Hóa Thượng Nhân giảng vào năm 1971
Nếu quý vị có thể thường xuyên trì tụng Chú Lục Tự Đại Minh thì sẽ chiêu cảm được sáu đạo ánh sáng có công năng biến đổi sự tối tăm của sáu nẻo luân hồi trở nên sáng rạng
Sáu chữ nầy gọi là “Chú Lục Tự Đại Minh”, mỗi chữ đều có thể phóng ra một luồng ánh sáng.
Omani padme hum
Mật tông chuyên nghiên cứu về lời và ý nghĩa của thần chú. Phật giáo phân thành năm tông phái là: Thiền tông, Giáo tông, Luật tông, Mật tông và Tịnh Độ tông. Thiền tông chuyên về tham thiền tĩnh tọa; Giáo tông chuyên về giảng kinh thuyết pháp; Luật tông thì tu trì, nghiêm tịnh giới luật, làm mô phạm trong ba cõi. Về Mật tông, thì “mật” là bí mật, là “không biết lẫn nhau” (hỗ bất tương tri). Tịnh Độ tông thì chuyên trì danh hiệu, niệm sáu chữ hồng danh “Nam Mô A Di Đà Phật”.

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2010

TÂY TẠNG SINH TỬ KỲ THƯ (PHẦN 1)

Chết là một hiện tượng chung cho mọi người không ai tránh khỏi. Nó là một khởi điểm cho một hành trình đi vào một thế giới không biết. Mặc dầu khoa học và kỹ thuật ngày nay rất tiến bộ, nhưng vẫn chưa đưa ra một tin tức nào về thế giới sau khi chết. Theo Mật Tông Tây Tạng cái chết gồm có hai tiến trình : 1/ Sự tan rã bên ngoài, 2/ Sự tan rã bên trong.

Tây Tạng Sinh Tử Kỳ Thư (Bardo Thodol) là một cuốn sách phổ biến của người Tây Tạng viết về cái chết. Xin giới thiệu phần 1 cho những người hữu duyên. Mọi sai sót là lỗi của người thực hiện, xin hồi hướng công đức cho tất cả chúng sanh, mong họ thoát khỏi mọi nỗi khổ.

Các bạn download cuốn sách ở địa chỉ sau:
(Theo HTT)

Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2010

MẬT TÔNG CỬU TỰ THỦ ẤN TU LUYỆN


Bộ Thủ Ấn này chủ yếu do hệ phái Đông Mật sử dụng. Đại pháp tu trì này dùng 9 bộ cách tu trì để khai mở lực tiềm năng tập trung trong 9 nơi bí mật ẩn trong thân người. 9 bộ vị tiềm năng này gồm 7 luân xa và các ngón của 2 tay là 9. Pháp tu luyện Cửu Tự Thủ Ấn, nên lựa chỗ trống vắng.


Photobucket
Không quá tối quá sáng, không quá chật, quá rộng, trần nhà không quá cao quá thấp. Thời gian tu tập bất luận ngày đêm, nhưng vào sáng sớm thì không khí trong lành hơn. Trước khi tập cần phải rửa tay súc miệng sạch sẽ, sửa sang quần áo, dung nghi

Chủ Nhật, 27 tháng 12, 2009

Ý nghĩa của chữ "OM" trong Lục Tự Đại Minh Chú

Xem hình


Theo Từ Điển Phật Học của Chân Nguyên và Nguyễn Tường Bách thì OM (có khi được viết là AUM), phát âm theo tiếng Việt là "ôm" kéo dài âm Ô. Chữ này là biểu tượng âm thanh cao quý và trọn vẹn nhất trong Ấn Độ giáo, được một vài trường phái Phật Giáo, nhất là Kim Cang xem như một Mantra. OM được xem là tượng trưng của cả hai: SẮC & ÂM. OM là âm thanh tượng trưng cho sức mạnh của tâm thức nội tại, của Phật tính trong thế giới giả tạm, trong ảo ảnh (Mãya) này.
Nguồn: Phật Giáo Việt Nam Net (phatgiaovnn.com)


Chữ OM được biểu diễn bằng ba vòng cung và một chấm nhỏ. Ba vòng cung biểu diễn sắc thể, ý thức và vô thức. Chấm nhỏ nằm ngoài ba vòng cung đó biểu hiện trí huệ caao nhất dung chứa cả ba. Hình dạng của chữ OM là một biểu hiện cụ thể của Chân Như. Không có khái niệm hay vật thể nào trong vũ trụ có thể tồn tại độc lập, tất cả đều là biến thể của một Chân Tâm duy nhất, có liên hệ với Chân Tâm đó và vì vậy chúng liên hệ với nhau.
Hãy nhìn kỹ chữ OM, ta thấy 3 đường vòng cung, một hình bán nguyệt và một dấu chấm. Các dạng này được xem nằm trong một thể thống nhất. Ba đường vòng cung được nối với nhau, diễn tả 3 tâm trạng (avastha): tỉnh (jagrat, vais vanara); mộng (svapna); say ngủ (susupti). Dấu chấm và hình bán nguyệt đứng rời, diễn tả Chân Tâm là trạng thái thứ tư (turiya), đứng trên và là nền tảng của ba trạng thái bên dưới. Vòng bán nguyệt chỉ sự vô cùng và dấu chấm riêng lẻ chỉ óc suy luận không thể tiếp cận được Chân Tâm.


Vòng cung lớn (số 1) diễn tả tâm trạng thông thường của con người, đó là hoạt động tiếp xúc với ngoại cảnh. Vòng số 2 diễn tả giấc mộng, đó là tâm thức nội tại, do quá trình suy luận hình thành, không phụ thuộc vào ngoại cảnh và được xem là cầu nối giữa vòng 1 và vòng 3. Vòng số 3 cao nhất diễn tả tầng tiềm thức, đó là tâm trạng con người say ngủ. Vòng này cũng chỉ là giai đoạn tiếp nối, nó gần với tâm trạng tuyệt đối nhất. Tâm trạng tuyệt đối chính là dấu chấm, nó chiếu rọi và chế ngự 3 tầng tâm thức kia, được gọi đơn giả là "Thể thứ tư" (turiya) và là nguồn gốc của tất cả. Chỉ có những người tu hành đã vượt qua ba tâm thức thô thiển trước mới có thể tiếp cận "Thể thứ tư" này.

Phùng Thị Lượng

Đây là một bài viết khác về chữ Om huyền diệu này:

OM-AUM - âm thanh vũ trụ. Tiếng được cho là quan trọng nhất của Ấn độ cổ xưa thể hiện rõ trong các câu văn sau đây :
Bản thể của vạn vật là đất
Bản thể của đất là nước
Cây cối là bản thể của nước
Người là bản thể của cây cối
Bản thể của người là lời nói
Bản thể của lời nói là thi ca Vệ đà
Bản thể của thi ca Vệ đà là Âm nhạc Vệ đà
Bản thể của âm nhạc Vệ đà là Udgitha - từ OM
Udgitha là bản thể tối cao trong các bản thể
Và xứng đáng với vi thể cao nhất : vi thể thứ tám

(Chândogya Upoanisad)

Nói một cách khác, các lực, các đặc tính tiềm tàng của đất và của nước được tập trung và biến đổi trong cơ thể cao hơn cả là cây cối; các lực của cây cối được tập trung và biến đổi trong con người; các lực trong con người được tập trung trong năng khiếu suy tưởng và năng lực diễn đạt bằng những thanh âm tương đương nối với nội tâm (tư tưởng) với ngoại tướng (âm thanh) tạo thành lời nói, nhờ đó con người khác biệt với các sinh vật hạ tầng. Lối diễn đạt quí nhất của công-nghiệp tinh thần này, cái tổng số kinh nghiệm của con người tạo thành Thánh học linh thiêng (Vệ đà) dưới hình thức thi ca và âm nhạc. Thi ca vượt quá văn xuôi, vì tiết vận của nó tạo thành một sự thần nhất cao hơn và làm tan rã mọi sự ràng buộc của tinh thần. Còn âm nhạc lại càng tinh tế hơn thi ca, bởi nó khiến chúng ta vượt qua ý nghĩa của ngôn từ và đặt chúng ta trong một toình trạng tiếp thu bằng trực giác.

Cuối cùng, hoàn toàn như tiết vận và âm điệu cả hai món thơ và nhạc lại được tổng hợp và hoàn tất (có thể coi như tiêu tan trong tâm thức bình thường) thành các rung động sâu sắc có sức thâm nhập, của âm tố OM linh thiêng. Tại đây, người ta đạt đến đỉnh thấp, bằng cách vượt lên từ đồng bằng vật chất sai khác nhau (trong các yếu tố thô kệch) cho đến điểm đồng hất cùng cực thuộc tinh thần, chức đựng hững đặc tính ẩn tàng qua một trình độ trung gian, như trường hợp của hạt giống hay chủng tử . Trong ý nghĩa này, OM làm phần tinh tuý, là chủng tử âm của Vũ trụ, là tiếng thần điêu (ý nghiã căn đề của chữ Brahman) là vũ trụ lực, là tâm thức thâm nhập tất cả.

Bới tiếng linh thiêng ấy đồng nhất với vũ trụ nên ý niệm "Branman" phổ cập đến toàn bộ tinh thần phổ quát, toàn bộ sức mạnh ở khắp mọi nơi của tâm thức, mà chư thiên thần, mọi người và động vật đều có dự phần, nhưng sức mạnh của tâm thức này chỉ trở thành kinh nghiệm tổng qúat nơi các bậc Thánh và Chư vị giác ngộ.

Xưa, chữ OM đã giữ một vai trò trọng đại trong đường lối giống nhau thuộc vũ trụ của Nghi thức hiến tế hy sinh thuộc về Vệ đà và trong các thế kỷ sau đó, nó đã trở thành ột trong các biểu tượng quan trọng của phái Du già; Trong phái này, khi nó thoát ly thụât thần bí và ma lực của các thực hành hiến tế, cũng như thoát khỏi các lối suy luận triết lý của tư tưởng trước kia thì nó lại biến thành một phương tiện thiết yếu trong sự thực hành thiền định. Từ biểu tương siêu hình, có thể nói là nó đã trở nên một phương thức tậm lý để cứu trợ.
Hoàn toàn giống như con nhện, nhờ sợi tơ , nó phăng lên và đjat được tự do, nhà sư Du già đạt được giải thoát là nhờ chữ OM, trong Maitrâyana Upanisad, tiếng OM được so sánh với một mũi tên mà đầu nhọn là tư tưởng và nó xuất phát từ cái cung là thân thể con người, nó xuyên qua bóng đêm vô minh để đạt đến ánh sáng của trạng thái cùng cực.
Trong Manaka Upanisad cũng có một sự so sánh tương tự, trong đó, nói :
"Đã dùng vũ khí lớn là Thánh học bí mật để làm cung
Người ta đặt vào đói cái mũi
tên nhọn là sự thiền định liên tục không dứt
Người ta dương cung với tinh thần tràn đầy cái ấy (tâm thức phổ quát hay Brahman).
Nầy chàng trai cao quí, nó sẽ xuyên qua mục đích của nó,
là sự bất diệt.
Âm thiêng (OM) là cung, mũi tên là Ngã
Brahman là đích.
Nhờ sự chú ý, nó sẽ xuyên qua
Phải hiệp với nó như mũi tên đến đích".


Trong Mândukya-Upanisad, chữ OM được phân tích thành những yếu tố phát thanh, theo đó thì chữ O được coi như một tổ hợp của hai chữ A và U; như vậy, chúng ta hiện có 3 yếu tố là : A, U, M . OM là biểu thức cao nhất của tâm thức thì 3 yếu tố ấy được xem như 3 trình độ của tâm thức, chứng được hiểu như sau : ‘A’ được xem như tâm thức tỉnh; ‘U’ được xem như thâm thức mơ màng; ‘M’ được xem như tâm thức ngủ say; còn OM đã là toàn bộ, thì đó là tình trạng của tâm thức VŨ TRỤ , hay tình trnạg thứ tư, nó bao gồm tất cả và vượt qua mọi biểu thức. Đó là tâm thức của chiều thứ tư (không phải chiều không gian, mà nó là cái KHÔNG, VÔ KÝ).

Các thành ngữ ‘tâm thức tỉnh’, ‘tâm thức mơ màng’ và ‘ tâm thức ngủ say’ tất nhiên không phaỉ để ta hiểu theo nghĩa của từng chữ , mà đúng hơn thì nên hiểu rằng : thành ngữ thứ nhất chỉ về tâm thức chử quan đối với thế giới ngoịa lai, nghĩa là trạng thái bình thường của chúng ta; thứ hia là tâm thức của thế giới nội tại, tức là tư tưởng, tình cảm của chúng ta, các điều ước nguyện và ưa thích của chúng ta, cái mà chúng ta gọi chung là ý thức tri giác vfa thứ ba là tâm thức dựa và tự nó, không phân cách thành chủ thể và đối tượng, mà lại thuần nhất không phân biệt, trong nhà Phật, nó được gọi là tình trạng rỗng không, chẳng phân định phẩm chất gì.
Ngược lại, thành ngữ thứ tư và tình trạng cùng cực thì được mô tả theo nhiều cách, tuỳ theo quan niệm cho nó là mục đích hay lý tưởng cao cả nhất. Theo một số thì đó là tình trạng của Tự Thể thanh khiết, hay là Tự Thực Thể; theo một số khác thì đó là sự vươn lên của một Thực Thể cao hơn hay tình trạng vô ngã Brahman phổ quát nhất; theo một số khác nữa thì đó là sự tự do và độc lập vô biên.v.v… Tuy nhiên, đối với tất cả thì đó là tình trạng bất diệt, không klhổ đau, không sanh, không già và càng đi gần đến kỷ nguyên Phật Giáo thì chúng ta càng thấy rõ ràng là tình trạng ấy không thể nào đạt được nếu ta không lìa bỏ tất cả những gì tiêu biểu cho các TA, hay cái NGÃ tự xưng.

Như vây, chữ OM được kết hợp với sự Giải Thoát hoặc là được xem như phương tiện để thực hiện sự giải thoát, hoặc là được xem như biểu tượng của sự Thực hiện ấy. Mặc dù có nhiều lối tìm cầu hay xác định sự giải thoát, chữ OM không bao giờ có tính loại trừ của một trường triết học riêng biệt mà nó vẫn trung thành với tính cách biểu tượng của nó là diễn tả cái gì bở bên kia DANH, SẮC, ở ngoài các giới hạn và phân loại, ngoài các định nghĩa và giải thích : kinh nghiệm về vô hạn , chính là ở nới chúng ta; nó có thể được cảm nhận như một mục đíhc xâu sa nửa vời, hoặc như một tiên cảm giản dị; một khát vọng hoặc có thể được nhận biết như một thực tại đang lớn dần hay thực hiện được nhờ sự huỷ diệt tất cả các giới hạn và chiến thắng được sự bức bách của các khuynh hướng xấu.
Có bao nhiêu chiều là có bấy nhiêu cái vô hạn, có bao nhiêu tinh khí là có bếy nhiêu hinhf thức giải thoát, nhưng tất cả đều cùng mang một dấu hiệu. Những ai đau khổ về tình trạng nô lệ và giới hạn thì cảm nhận sự giải thoát như một sự nở nang vô hạn. Những ai đau khổ trong bóng tối thì cảm thấy sự giải thoát trong ánh sáng vô biên. Những ai rên xiết vì chết chóc nặng nề, kiếp sông phù du thì nhận thấy sự giải thoát là trường vô tận. Những ai không được nghỉ ngơi thì sưe đượng thụ hưởng sụ yên vui và hoà hợp trong cái vô cùng.

Tất cả các lối diễn đạt ấy, không mất cái đặc tính riêng của mỗi một, mà vẫn mang chung một hình dung từ là : VÔ HẠN , điều này rất quan trọng : nó chứng tỏ rằng cả đến các sự thực hiện cao cả nhất cũng có thể còn giữ được nột đạo vị cá biệt : đạo vị của thực thể gốc rễ, nó không làm cho giá trị phổ quát mà nó chịu ảnh hưởng. Ngay nơi các chóp đỉnh cùng cực của tâm thức cũng không có đồng nhất hya không đồng nhất, theo ý nghĩa riêng tuyệt đối . Giũă chúng còn mãi mãi một mối quan hệ sâu sắc, không phải là một sự bình đẳng không có khí lực; nhưng vì không bao giờ có thể là kết quả của một sự tăng trưởng sống động , nên mối quan hệ kia chỉ có thể là sản phẩm của một cơ cấu không có sự sống.

Như vậy, kinh nghiệm của sự vô hạn đã hiện thành vũ trụ luận trong kinh Phệ đà xa xưa nhất, nghi thức thần diệu trong các Bà la môn luận; Nhất nguyên luận duy tâm của Upanisad; tư tưỏng sinh vật học trong Kỳ Na Giáo; tư tưỏng thâm diệu về tâm lý trong thiền định của Phậ giáo siêu hình học trong triết lý Vệ đà; ái tình Tôn Giáo thần bí (Bhakli) trong Vi Nữu giáo (Vishnouism); thâm thuật khổ hạn thắng đòi trong Shi-va-giáo (Shivaism); có tiềm thế mẹ sáng tạo của vũ trị trong Phù chú giáo ở ấn độ và cuối cùng, trong phép dùng Bùa, Chú của Phật giáo, có sức biến đổi các lực và các hiện tượng thuộc tâm lý vũ trụ bằng cách dùng ánh sáng trí tuệ bát nhã thâm nhập chúng nó.

Các khả năng khác nhau trong sự biểu diễn kinh nhgiệm về sự vô hạn không phải như vậy là đã hết cạn; không những chúng chỉ tổ hợp và tương nhập mà thôi đâu; ngược lại phần nhiều các điểm đặc sắc được kết hợp lại và các hệ thống khác nhau không bị tách rời nhau một cách dứt khoát, mà chúng lại có phần cơĩ lên nhau. Tuy thế, một điềm nào đó, hay một chủ đề nổi bật được nêu lên rõ ràng thì chính điều ấy tạo cho mỗi hệ thống Tôn giáo một đqực tính riêng biệt của nó. Do đó, chữ OM hiện ra như một sức mạnh vô hạn đối với hệ thống này thì đối với hệ thống khác, nó là không gian vô biên và đối với một hệ thống khác nữa, nó là Thực hữu vô tận hay sự sống vĩnh cửu. Đối với một số người thì OM có nghĩa là Ánh Sáng hiện hữu khắp nơi; đối với người khác, Om là định luật phổ biến; cuối cùng, một số khác lại quan niệm nó như là Tâm thức vô cùng mạnh mẽ hay Thần minh xâm nhập khắp nơi; Tình yêu bao bọc tất cả; Nhịp điệu vũ trụ; Sức mạnh sáng tạo luôn luôn hiện diện hoặ clà Trí Giác vô cùng tận vv.. và vv..

Giống như một tấm gương chiếu mọ hình tướng và màu sắc mà không thay đổi bản tính riêng của nó, chữ M cũng vậy, nó phản chiếu các tình tiết khác nhau của mọi tinh khí, hoặc khoác các hình thái của mọi lý tưởng cao siêu mà không tự giới hạn ở tình tiết này hay hình thái nọ. Bản tính của nó là vô hạn, không gì nữa cả. Nếu cái âm thiêng liêng ấy được xác định bằng một ý nghãi nào khác, dễ hiểu hơn, nếu nó xoay nình hướng về một ý tưởng độc hữu, chỉ một thôi , mà không giữ được trọn cái phẩm chất phi lý và không sờ mó được của bản thể nó thì nó không bao giờ tượng trưng được cho một tình trạng tinh thần siêu thức, trong đó mọi khăt svọng cá nhân đều tìm thấy sự tổng hợp và sự thực hiện của nó.

Nguồn: Phật Giáo Việt Nam Net (phatgiaovnn.com)
CHƠN KHÔNG 
Theo Phatgiaovnn