Hiển thị các bài đăng có nhãn Sách hay. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sách hay. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 9 tháng 9, 2010

'Phát hiện' cuốn sách khổng lồ 2 người khiêng

Tập thơ - thư pháp độc đáo có tựa Hoa Lư thi tập vừa được công bố. Đây là cuốn sách bằng gỗ, muốn di chuyển phải cần hai người khiêng vì có kích thước khổng lồ (109 cm x 70 cm x 10 cm) và nặng tới 54kg.
Bìa tập thơ – thư pháp nặng 54 kg có giấy dát vàng bên trong và bìa gỗ đỏ.
Bìa tập thơ - thư pháp nặng 54 kg có giấy dát vàng bên trong và bìa gỗ đỏ.
Bìa sách được làm bằng gỗ đỏ quý hiếm, chạm khắc công phu hình rồng và các thông tin tên sách, tên tác giả, người thực hiện.
Hoa Lư thi tập là phiên bản kỷ lục của tập thơ Hoa Lư thi tập (tác giả GS.TS Hoàng Quang Thuận - Viện trưởng Viện công nghệ viễn thông, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Trong khi tập thơ chưa ra mắt, những người quan tâm đã có thể đọc trước phiên bản đặc biệt do họa sĩ Trần Quốc Ẩn thực hiện.
Lật qua trang đầu tiên, phần gây chú ý nhất là nội dung bài Chiếu dời đô bằng tiếng Hán và tiếng Việt được in trên giấy dát vàng nhập khẩu từ Hong Kong.

Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2010

TỬ THƯ TÂY TẠNG (Phần V)

NHỮNG CẦU NGUYỆN
Những “khấn cầu” này được lấy từ sưu tập những bản văn terma liên hệ với Bardo Thoštrošl. Chúng đều được đề cập đến như những thực hành sùng mộ trong bản thân Bardo Thoštrošl, và một số câu được trích ra như là một phần của những giáo huấn cho người chết. Từ ngữ thường được dịch đơn giản là cầu nguyện nghĩa đen có nghĩa là “con đường ước nguyện” (Tây Tạng smon-lam). Nó không phải là một cầu xin đến một bổn tôn hóa thần ở bên ngoài, mà là một phương pháp tịnh hóa và hướng dẫn tâm thức. Nó hoạt động như sự gây cảm hứng bằng cách khởi lên lòng mong muốn nội tại trong tâm về cái thiện, mong ước về cái thiện này lôi cuốn sự thành tựu mục đích của nó.
Cầu Nguyện chư Phật
và chư Bồ tát Cứu Thoát

Vào lúc chết của một người nào, người ta nên luôn luôn kêu cầu chư Phật và chư Bồ tát cứu thoát cho. Người ta cần có những cúng dường vật chất và tâm thức lên Tam Bảo, và cầm hương trong tay, nói lên những lời này với năng lực tập trung mạnh mẽ 
Chư Phật và chư Bồ tát ở trong mười phương, bi mẫn, toàn tri, với năm nhãn, từ ái, những bậc bảo vệ cho tất cả chúng sanh, xin đến chỗ này bằng thần lực đại bi và chấp nhận những phẩm vật cúng dường bằng vật chất và tâm thức.
Hỡi các Bậc Bi Mẫn, các ngài có trí huệ thấu suốt, lòng từ bi, hoạt động hiệu quả và năng lực che chở bất khả tư nghì. Hỡi các Bậc Bi Mẫn, con người này (tên) đang đi từ thế giới này qua bờ bên kia, nó đang từ bỏ thế giới này, nó đang chết không có quyền lựa chọn, nó không có bạn bè, nó đang khổ đau cực kỳ, nó không có nơi nương tựa, nó không có người bảo vệ, không có đồng minh, ánh sáng của đời này sắp lặn, nó đang đi qua thế giới khác, nó đang vào trong bóng tối dày đặc, nó đang rớt vào một hố thẳm sâu, nó đang đi vào rừng rậm, nó đang bị nghiệp lực đuổi theo, nó đang vào nơi hoang dã bao la, nó đang chìm trong một biển lớn, nó đang bị thổi đi bởi gió nghiệp, nó đang đi đến nơi không có đất cứng, nó đang vào trong một trận chiến lớn, nó bị những hồn linh nắm lấy, nó đang bị khủng khiếp bởi những sứ giả của Thần Chết, nó đang đi vào đời này sau đời khác vì nghiệp của mình, nó vô vọng, thời gian đã đến khi nó phải ra đi một mình không một người bạn.

Thứ Tư, 7 tháng 4, 2010

TỬ THƯ TÂY TẠNG (Phần IV)

Đại Giải Thoát  Thông Qua Sự Nghe Trong Bardo CHÁNH VĂN
(Tiếp theo)
Nhưng nếu ngay cả khi được chỉ bày như thế mà vẫn bị các xu hướng ác độc mê muội kéo ông ta lùi lại sau và ông ta sợ hãi lẩn tránh cho nên ông ta không nhận ra yidam, rồi thì, vào ngày thứ mười hai, ảnh hiển lộ của bộ Nghiệp với hình tướng đang uống máu sẽ đến cùng với các vị thiên gauris,[18]* vị thiên pisacis có đầu súc vật, các thiên nữ hành giả yoginis đến tiếp dẫn người chết. Nếu người chết không nhận ra, ông ta sẽ sợ hãi, cho nên để chỉ bày cho ông ta lần nữa, người nên gọi tên ông ta và đọc những lời sau : ÷

“Này thiện nam (tín nữ), hãy lắng nghe cẩn thận, không được xao lãng. Khi ngày thứ mười hai đến, ảnh hiển lộ của bộ Nghiệp được gọi là Heruka-Nghiệp Thiêng Liêng với hình tướng đang uống máu từ phần phía bắc của đầu con và nổi lên trước mặt con rất rõ nét trong dạng liên kết với người phối hợp ; thân ngài màu xanh lá cây đậm với ba đầu sáu tay và bốn chân dang rộâng ; gương mặt bên phải màu trắng, gương mặt bên trái màu đỏ, gương mặt ở giữa màu xanh lá cây đậm huyền diệu, ba tay bên phải tay thứ nhất cầm kiếm, tay giữa cầm đinh ba có ba đầu người ở trên, tay cuối cầm cây gậy, ba tay bên trái tay thứ nhất cầm chuông, tay giữa cầm tách sọ người tay cuối cầm lưỡi cày ; người phối hợp là Karma-Krodhisvari ôm thân ngài, tay phải của bà choàng qua cổ, tay trái của bà cầm một sọ người đầy máu đưa tới miệng ngài. 

Thứ Hai, 5 tháng 4, 2010

TỬ THƯ TÂY TẠNG (Phần iii)

NGÀY THỨ TƯ

Vào ngày thứ tư có hỏa địa được tịnh hóa, thể hiện bởi A Di Đà Phật (Amitabha), bộ Hoa Sen (padma family). A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang và phẩm tính căn bản của hoa sen là có sức thu hút quyến rũ, nhiệt tình lôi cuốn, mở toang, trống rỗng và đại bi. Nói là Vô Lượng Quang bởi vì nó đích thị sáng chiếu một cách tự nhiên, không đòi hỏi sự khen thưởng. Nó có bản chất của lửa chứ không phải theo nghĩa cái nóng sân hận, nó tiêu dùng bất cứ chất liệu nào mà không hề từ chối hay chấp nhận. Ngài A Di Đà cầm trên tay một đóa sen, điều này có nghĩa : hoa sen nở khi mặt trời mặt trăng chiếu sáng lên đóa hoa, nó nở về hướng có ánh sáng và chấp nhận bất kỳ tình huống nào đến từ bên ngoài. Hoa sen có phẩm chất tinh khiết hoàn hảo ; với lòng đại bi như vậy, nó mọc lên từ trong bùn đất dơ bẩn nhưng đóa hoa thì trong sạch và toàn thiện một cách trọn vẹn. Ngài ngự trên lưng con công việc này lần nữa thể hiện sự mở trống và sự hoan hỷ chấp thuận : trong thần thoại, chim công được coi như nuôi dưỡng bằng chất độc, những màu sắc đẹp lộng lẫy của nó được tạo nên từ việc ăn chất độc. Sự mở trống rộng ra tới mức nó có thể giải quyết được mọi tình huống bất thiện vì thực ra chính vì các tình huống bất thiện đó mà lòng đại bi được hoan hỷ và sinh động.

Thứ Bảy, 3 tháng 4, 2010

TỬ THƯ TÂY TẠNG (Phần II)

2.Đại Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe Trong Bardo
 
Bài Giảng của Chošgyam Trungpa, Rinpoche

THÔNG ĐIỆP CỦA CUỐN SÁCH

Dường như có một vấn đề gút mắc cơ bản khi chúng ta đề cập tới chủ đề “Tử thư Tây Tạng”. Nếu đưa ra so sánh về phương diện thần thoại và những hiểu biết về người chết giữa Tử thư Tây Tạng với Tử thư Ai Cập thì chúng ta sẽ bỏ sót một điểm cơ bản đó là quy luật cơ bản của sự chết và sự sanh được tái diễn liên tục trong cuộc sống này. Do đó, chúng ta có thể coi bộ giáo huấn này như là “Sách Tái sanh của người Tây Tạng”. Bộ giáo huấn này không đặt nền tảng trên cái chết theo nghĩa đen, nó được đặt nền trên một quan niệm hoàn toàn khác biệt về cái chết. Nó là một “Quyển sách về Chân Không”. Chân Không chứa đựng cả cái chết lẫn cái sanh ; hư không tạo lập nơi để chúng ta hít thở, cư xử và hành động, nó là môi trường cơ bản cung cấp nguồn cảm hứng cho bộ sách này.

Trước khi Phật giáo du nhập vào, nền văn minh của đạo Bošn ở Tây Tạng đã có sẵn những chỉ dẫn chính xác cách ứng xử với năng lực tinh thần do người chết để lại sau đó, hay có thể nói là các dấu hiệu, thân nhiệt thi thể khi một người chết đi. Dường như cả hai – truyền thống của đạo Bošn và của người Ai Cập – chỉ dựa trên loại kinh nghiệm về cách mà các dấu hiệu của người chết biểu lộ, thay vì đề cập tới tâm thức (thần thức) của người chết. Nhưng cái tạng thức căn bản (basic principle) mà tôi đang cố diễn đạt ngay bây giờ chính là cái bản chất chao đảo, nghiêng ngã giữa sự sáng suốt và u mê hay giữa giác ngộ và mê lầm, cùng với các khả năng xảy ra đối với đủ loại khám phá các ảnh hiện ra trên đường dẫn tới sự sáng suốt hay sự u mê.

Thứ Sáu, 2 tháng 4, 2010

TỬ THƯ TÂY TẠNG (Phần 1)

Guru Rinpoche theo Karma Lingpa 

1.ĐẠI GIẢI THOÁT THÔNG QUA SỰ NGHE TRONG BARDO
Một bản dịch mới, đầy đủ từ tiếng Tây Tạng  với bình giảng bởi Chošgyam Trungpa và Francesca Fremantle
The Tibetan Book of the Dead - The Great Liberation Through Hearing in The Bardo Shambhala, 1975-Việt dịch: Kiến Không - Thiện Tri Thức, 2001
Lời Nói Đầu
Bardo Thoštrošl là một trong một loạt các bộ giáo huấn chỉ dẫn sáu cách giải thoát : giải thoát thông qua sự nghe ; giải thoát thông qua đeo, mặc ; giải thoát thông qua sự thấy ; giải thoát thông qua nhớ tưởng ; giải thoát thông qua nếm vị ; giải thoát thông qua xúc chạm. Bộ giáo huấn này do ngài Padmasambhava chỉ giáo và người vợ (tâm linh) của ngài là Yeshe Tsogyal ghi lại cùng với sadhana (nghi thức hành trì) về hai mạn đà la (mandalas) của bốn mươi hai vị deity bình yên (peaceful) và năm mươi tám vị deity xung nộ (wrathful).

Ngài Padmasambhava đã chôn cất các bộ giáo huấn này trong vùng đồi Gampo ở miền trung Tây Tạng, nơi này về sau đại sư Gampopa xây một tu viện. Nhiều bộ giáo huấn khác cùng với các vật thiêng liêng cũng được chôn cất như vậy ở nhiều nơi khác nhau trên khắp lãnh thổ Tây Tạng ; người ta gọi các bộ giáo huấn đó và các vật thiêng liêng được chôn cất là terma. Ngài Padmasambhava đã truyền oai lực cho hai mươi lăm đại đệ tử để khám phá các nơi chôn cất các terma. Sau này, ngài Karma Lingpa đã tìm ra nơi chôn cất bộ giáo huấn Bardo này, ngài Karma Lingpa là tái sanh của một trong các vị đại đệ tử đó.

Theo tôn chỉ này, giải thoát có nghĩa rằng bất kỳ ai dù là người nghi ngờ hay là người có tâm rộng mở, khi tiếp cận được giáo huấn này sẽ nhận được một chợt thấy thình lình giác ngộ thông qua oai lực trao truyền đã được chứa đựng trong các bảo vật (terma) này.

Ngài Karma Lingpa thuộc truyền thống Nyingma nhưng tất cả học trò của ngài đều thuộc truyền thống Kagyuš. Ngài thực hiện sự trao truyền lần đầu tiên sáu bộ giáo huấn giải thoát này cho ngài Došdušl Dorje, vị Karmapa đời thứ mười ba, đến lượt ngài Došdušl Dorje trao truyền lại cho Gyurme Tenphel, vị Trungpa đời thứ tám. Sự trao truyền vẫn tiếp tục tồn tại trong các tu viện Surmang của dòng Trungpa và từ nơi đó sự trao truyền lan ra trở lại trong truyền thống Nyingma.