Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Chương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Chương. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Nguyễn Cẩm Xuyên
Trong lịch sử nước ta, triều Lý (1010-1225) là triều đại cường thịnh về quân sự, vững vàng về chính trị và rực rỡ về văn học. Mở đầu cho nền văn học viết, thơ văn đời Lý truyền lại được đến nay phần lớn chỉ ghi lại trong Thiền Uyển tập anh (1), tập sách do Thiền sư Kim Sơn thuộc Thiền phái Trúc lâm (2) viết vào năm 1337, đời Trần nhưng lại chủ yếu ghi hành trạng của các tăng sĩ đời Lý thuộc 03 dòng Thiền: Vô Ngôn Thông, Tỳ Ni Đa Lưu chiHuệ phái Thiền sư Thảo Đường.
 
Các cao tăng đời Lý học rộng, tinh thông Phật pháp lại giỏi Hán học nên được triều đình kính nể. Đạo Phật được tôn vinh nên nhiều người muốn tìm học triết lý Phật giáo. Ngaoài việc thuyết giảng, các nhà sư còn dùng “kệ”, một thể thơ nhà Phật nhằm truyền đạt những ý cao siêu uyên áo của Phật pháp bằng những hình ảnh, những câu thơ ngắn gọn sinh động mà dễ hiểu.
 
Thiền Uyển tập anh chép lại nhiều bài kệ (3) nhưng nổi bật nhất có bài sau đây của Đại sư Mãn Giác :
 
 
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011

HOÀNG SA NỘ KHÍ PHÚ



Ngựa cũ quen đường,
Đĩ già lậm nết. 
Việc phế hưng mỗi thuở khác nhau,
Mộng bá chủ bao đời y hệt!

Ta thấy ngươi,
Từ Đông Chu bị họa Thất Hùng,
Đến Hậu Hán bị xiềng Tam Quốc.
Đất Trường An thây chất chập chùng,
Bờ Vô Định xương phơi chất ngất!

Đã biết,
Hễ gieo chinh chiến là kín đất đau thương,
Nếu động can qua thì mịt trời tang tóc.

Vậy mà sao,
Chẳng lo điều yên nước no dân,
Lại quen thói xua quân chiếm đất?

Như nước ta,
Một dải non sông, nam bắc chung giềng,
Trăm triệu anh em, trước sau như nhất.
Hoàng Liên, Tam Đảo, Hồng Hà, Cửu Long , là máu là xương,
Phú Quốc, Côn Sơn, Trường Sa, Hoàng Sa là da là thịt.
Máu xương đâu lẽ tách rời,
Thịt da dễ gì chia cắt?
Mà là liền tổ quốc phồn vinh,
Mà là khối giang sơn gấm vóc.
Người trăm triệu nhưng vốn một lòng,
Tim một trái dẫu nhiều sắc tộc!
Nữ nhi chẳng thiếu bậc anh hùng,
Niên thiếu cũng thừa người kiệt xuất.
Mười năm phục quốc, gươm Lê Lợi thép vẫn sáng ngời,
Ba lượt phá Nguyên, sông Bạch Đằng cọc còn nhọn hoắt.
Thùng! Thùng! Thùng! Liên hồi giục, trống Ngọc Hồi hực bước tiến quân.
Đánh! Đánh! Đánh! Luôn miệng thét, điện Diên Hồng, vang lời sát thát.
Ải Chi Lăng, Liễu Thăng chết còn lạc phách kinh hồn,
Sông Nhị Hà, Sĩ Nghị chạy còn đứng tim vỡ mật.
Thoáng thấy vó câu Thường Kiệt, Khâm Châu ngàn dặm, không còn bóng quỉ bóng ma,(1)
Chợt nghe tiếng sét Đống Đa,Quảng Đông toàn tỉnh chẳng tiếng con gà con vịt. (1)
Hùng khí dù dậy trời Nam,
Nghĩa nhân lại tràn đất Bắc:

Thương ngươi binh bại, tàn quân về còn cấp xe ngựa rình rang (2)
Trọng kẻ trung can, hổ tướng chết vẫn được khói hương chăm chút.(3)
Mạc Cửu đem quân lánh nạn, chúa ta vẫn mở dạ đón người,
Hoa kiều mượn đất ở nhờ, dân ta vẫn chia cơm xẻ thóc.
Phúc cùng hưởng khi mưa thuận gió hòa,
Họa cùng chia lúc sóng vùi gió dập.
Giúp các ngươi như kẻ một nhà,
Thương các ngươi như người chung bọc!

Thế mà nay,
Ngươi lại lấy oán trả ơn,
Ngươi lại lấy thù báo đức!
Ăn đàng sóng, nói đàng gió, y như đĩ thúi già mồm.
Lộn bề ngược, tráo bề xuôi, khác chi điếm già bịp bạc.

Kéo neo tuần hạm, ào ào đổ bộ Hoàng Sa,
Quay súng thần công, ầm ỉ tấn công Đá Bắc.
Chẳng chấp hải qui,
Chẳng theo công ước.
Quen nết xưa xấc láo, giở giọng hung tàn,
Lậm  thói cũ nghênh ngang, chơi trò bạo ngược.
Nói cho ngươi biết; dân tộc ta:
Từng đánh bọn ngươi chỉ với ngọn giáo dài,
Từng đuổi bọn ngươi chỉ bằng thanh kiếm bạc.
Từng đánh Tây bằng ngọn tầm vông,
Từng đuổi Nhật với thanh mác vót!

Vì khát tự do mà uống nước đìa,
Vì đói độc lập mà ăn cơm vắt.
Sá chi tóc gội sa trường,
Đâu quản thây phơi trận mạc.
Hãy liệu bảo nhau,
Nhìn thây Gò Đống mà liệu  thắng liệu thua,
Thấy cọc Bạch Đằng mà nghĩ sau nghĩ trước!
Đừng để Biển Đông như Đằng Giang máu nhuộm đỏ lòm,
Đừng để Hoàng Sa là Đống Đa xương phơi trắng xác!
Nếu ngươi dựa vào hỏa tiển, phi cơ,
Thì ta cũng có tuần dương, đại bác.
So vũ khí, thì kẻ nhược người cường,
Đọ trái tim, coi ai gang ai sắt?
Thư hãy xem tường,
Hoàng Sa hạ bút.

KHA TIỆM LY

Chú thích:
(1) Sử ghi: Khi Lý Thường Kiệt  đưa quân qua Khâm Châu, Liêm Châu, cũng như khi quân Thanh bại trận Đống Đa chạy về, thì dân Tàu vùng biên giới kinh hoàng chạy  theo. “Từ Nam Quan về bắc hàng trăm dặm vắng tanh, không thấy bóng con gà, con vịt”
(2) Sự kiện Lê Lợi cấp ngựa và lương thực cho tù binh quân Minh về nước
(3) Sự kiên dân ta lập miếu thờ Sầm Nghi Đống hạ tướng của Tôn Sĩ Nghị)

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2011

Sách cổ 500 năm xuất hiện ở Utah

SALT LAKE CITY, Utah (AP) - Một cuốn sách xưa đến hơn 500 năm vừa xuất hiện tại một bảo tàng viện nhỏ ở thị trấn Sandy, tiểu bang Utah hôm Thứ Bảy. Cuốn sách từng bị lãng quên hằng mấy thập niên, được một người đàn ông đem đến nhờ chuyên viên lượng định giá trị của nó.
Ken Sanders đang xem tập sách Nuremberg Chronicle cổ trên 500 năm. Cuốn này được xem là một trong những sách được in sớm nhất và cũng là sách với vô số hình ảnh minh họa của thế kỷ thứ 15. (Hình: AP/Brian Skoloff)

Ông Ken Sanders, nhà buôn sách chuyên nghiệp, thỉnh thoảng phụ trách chương trình Antiques Roadshow của đài truyền hình giáo dục PBS, trong đó ông giúp dân chúng lượng định giá đồ cũ tìm thấy ở nhà mang đến. Trong suốt nhiều chục năm làm công việc này ông chưa có dịp thấy được một vật nào gọi là hiếm hoi đắt giá.
Mãi đến Thứ Bảy tuần qua, trong khi tình nguyện làm việc cho chương trình gây quỹ ở viện bảo tàng thuộc thị trấn Sandy, một người mang đến một cuốn sách cũ rách tả tơi nhờ định giá.
Ðây là cuốn Nuremberg Chronicle viết bằng tiếng Ðức do nhà xuất bản Anton Koberger phát hành năm 1493, ghi lại lịch sử của thế giới bắt đầu từ thời đại kinh thánh. Cuốn này được xem là một trong những sách được in sớm nhất và cũng là sách với vô số hình ảnh minh họa của thế kỷ thứ 15.
Ông Sanders thuật lại: “Tôi lấy làm kinh ngạc hết sức, ngạc nhiên vì nó xuất hiện ngay đây, trong nội địa miền Tây Hoa Kỳ. Sách hiếm của đạo Mormon cùng các báu vật khác thì có thể thấy nhiều, nhưng một cuốn sách cũ trên năm trăm năm mới là chuyện hiếm. Không ai ngờ một trong những sách in cổ nhất bỗng nhiên lại xuất hiện ở xứ Sandy của tiểu bang Utah này.”
Chủ nhân dấu tên cho biết cuốn sách do ông bác để lại, tìm thấy phủ đầy bụi bặm ở dưới mái nhà.
Tuy rất cổ nhưng giá trị của cuốn sách không cao lắm vì người ta tin hiện vẫn còn vài trăm cuốn trên thế giới, hơn nữa, hai phần ba các trang sách đã bị mất.
Tuy nhiên đối với ông Sanders giá trị tiền bạc không phải là điều khiến ông ngạc nhiên, ông nói:
“Chỉ nội được dịp cầm trên tay một cuốn sách có từ thời thế giới mới bắt đầu biết in ấn đã là quí rồi. Oái oăm thay ở thế kỷ 21 này vào lúc người ta đang nói đến ngày tàn của sách vở thì một cuốn sách trên 500 tuổi lại vẫn còn tồn tại cho đến bây giờ.”

Thứ Ba, 16 tháng 11, 2010

Hồ Quí Ly và Mạc Đăng Dung

Trong một thời gian cách nhau hơn một thế kỷ, nước ta đã có hai trường hợp cướp ngôi. Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần năm 1400, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê năm 1527. Hai trường hợp khởi đầu trong một kịch bản tương đối giống nhau: một dòng họ hư đốn làm cho đất nước suy đồi, rồi một đại thần phế bỏ vua, tự lập lên ngôi. Trong cả hai trường hợp, vị vua cũ bị giết hại. Trong cả hai trường hợp, các triều thần của dòng vua cũ được mời ở lại giúp vua mới. Nhưng kết quả đã khác nhau, và sự phán xét của lịch sử đã rất lạ lùng.
Hồ Quí Ly là một đại thần bất lực, bên trong làm cho đất nước suy đồi, bên ngoài thì không giữ được bờ cõi. Quân Chiêm Thành ra vào cướp phá như chỗ không người, kinh đô mấy lần bị rơi vào tay quân địch, Hồ Quí Ly chỉ biết dắt vua bỏ chạy. Chẳng có công lao gì với đất nước nhưng Hồ Quí Ly cũng đã trấn áp được vua Trần rồi cướp ngôi. Hồ Quí Ly cũng tỏ ra đặc biệt bội bạc với đất nước Việt nam đã cho ông ta tất cả, ông ta vẫn tự coi là người Tàu dù tổ tiên đã lập nghiệp tại Việt nam từ bốn đời. Cướp được ngôi vua, Hồ Quí Ly, trước đó mang họ Lê theo bố nuôi, đã lấy lại họ Hồ theo họ cũ của mình và đổi tên nước ta từ Đại Việt thành Đại Ngu theo tên cố quốc của mình, rồi thi hành một chính sách cướp bóc ra mặt đối với dân chúng. Nguyên Trãi kể tội Hồ Quí Ly: Vừa qua nhà Hồ vì chính sách phiền hà làm cho lòng người oán giận. Kết quả là Hồ Quí Ly làm mất nước, nước ta lại rơi vào vòng Bắc thuộc sau gần năm trăm năm độc lập. Tội của Hồ Quí Ly đối với Việt nam thực là lớn. Thế nhưng xem ra Hồ Quí Ly chỉ bị lên án vừa phải thôi, không những thế còn được khen là con người lỗi lạc, một trí tuệ siêu việt và sáng tạo.

Thứ Sáu, 12 tháng 11, 2010

Lưu Văn Khuê với tiểu thuyết lịch sử “Mạc Đăng Dung”

Tác giả Lưu Văn Khuê - hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng - đã có gần 30 năm cầm bút sáng tác truyện cho thiếu nhi, với những cuốn truyện vừa Hành tinh màu da cam (NXB Kim Đồng - 1991) - tác phẩm đoạt Giải thưởng của Trung ương Đoàn và Hội Nhà văn Việt Nam, Có một mùa bóng đá (NXB Kim Đồng - 1990) mới đây được Hãng phim Giải Phóng dựng thành phim U14 đội bóng trong mơ. Lưu Văn Khuê còn có một loạt tác phẩm về đề tài lịch sử và đề tài cách mạng. Mới đây, anh được NXB Hải Phòng cho ra mắt bạn đọc liền 2 tiểu thuyết. Tiểu thuyết Một thời vệ quốcviết về những năm tháng của đất nước trong thời kì "ngàn cân treo sợi tóc". Tác giả dựa trên tư liệu lịch sử về những sự kiện diễn ra ở Hải Phòng từ sau Cách mạng tháng Tám đến ngày nổ ra “Sự kiện Hải Phòng”, ngày đánh dầu cho thành phố Cảng mở đầu ở Miền Bắc bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp. Còn tiểu thuyết lịch sử Mạc Đăng Dung viết về thân thế và sự nghiệp một danh tướng đã lập lên vương triều Mạc cùng những thăng trần của đất nước ta trong thế kỉ XVI.
Trong nền văn học Việt Nam, mảng thể loại tiểu thuyết lịch sử không mạnh. Suốt cả thời kỳ phong kiến cho đến những năm Pháp thuộc, chỉ thấy nhắc đến những tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái và Trùng Quang tâm sửcủa Phan Bội Châu. Sau này, trong nền văn học Việt Nam hiện đại, vẫn rất ít người viết tiểu thuyết lịch sử, vì nó ít được chú ý, nên cũng rất ít tác phẩm có thể để lại dư âm lâu dài. Trong tình hình đó, có được một cuốn tiểu thuyết lịch sử như tác phẩm Mạc Đăng Dung (NXB Hải Phòng - 2007) của nhà văn Lưu Văn Khuê thì thật là đáng quý và đáng đọc.

Để dễ tiếp cận với nội dung cuốn tiểu thuyết Mạc Đăng Dung của Lưu Văn Khuê cũng như những cuốn tiểu thuyết lịch sử của các tác giả khác, xin trước hết được lạm bàn đôi chút về thể loại văn học lịch sử này. Trên thế giới tồn tại nhiều trường phái, cũng là do có những quan niệm khác nhau về tiểu thuyết lịch sử, về cách viết truyện lịch sử. Tuy nhiên, vẫn có thể qui vào 2 quan niệm bao trùm. Thứ nhất là tôn trọng sự kiện lịch sử, từ đó hư cấu. Thứ hai là không coi trọng sự thật lịch sử, coi lịch sử chỉ là cái cớ. Có thể xếp hầu hết các tiểu thuyết lịch sử cổ điển của Trung Quốc vào trường phái thứ nhất, dẫu tỉ lệ sự thật lịch sử và hư cấu đậm nhạt khác nhau, nhưng phần sự thật không bao giờ quá ít. Tiểu thuyết lịch sử Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung theo tỉ lệ “bảy thực ba hư” như chính tác giả tuyên bố. Còn tác phẩm Thuỷ hử của Ngô Thừa Ân thì phần hư cấu nhiều hơn, có lẽ là “ba thực bảy hư”. Đấy cũng là trường hợp tiểu thuyết Pie Đại đế của nhà văn Nga Alecxei Tolstoi. Có người coi cuốn Pie Đại đế thuộc loại tiểu thuyết tôn trọng sự thật lịch sử, còn tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa thì thuộc loại tiểu thuyết viết theo nhãn quan chính trị chính thống của thời đại mà tác giả đang sống. ở đây, cần nói một cách sòng phẳng là, dù có tôn trọng sự kiện lịch sử đến mấy, nhà văn nếu không bị chi phối bởi nhãn quan chính trị chính thống của thời đại thì cũng theo quan điểm của chính mình, nên không thể nói những nhà tiểu thuyết theo trường phái này là hoàn toàn tôn trọng lịch sử. Bởi chính các nhà viết sử – những người cần tôn trọng lịch sử hơn ai hết cũng vậy và nhiều khi còn bị phụ thuộc vào những gì có khi chính họ không muốn. Nói về thể loại văn học lịch sử, ở Trung Quốc và cả ở nước ta ngày trước, còn có các thể ký, truyện, chí. Đọc những cuốn Sử ký của Tư Mã Thiên hay cuốn Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, sẽ thấy nhiều chỗ có sức hấp dẫn của tác phẩm văn học và có cảm tưởng như được đọc những trang tiểu thuyết. Điển hình cho trường phái tiểu thuyết lịch sử thứ hai đã nói ở trên, là nhà văn Pháp Alexandre Dumas (cha) với những tác phẩm Ba chàng ngự lâm pháo thủ, Hoàng hậu Margo... Dumas từng nói: "Lịch sử là cái đinh, ở đó tôi treo móc những bức tranh của tôi". “Đi quá” hơn nữa là lối viết dựa vào các sự kiện lịch sử, nhưng làm nó biến dạng hẳn đi, đó là các tiểu thuyết dã sử, tiểu thuyết kiếm hiệp,... Với quan điểm như Dumas và các nhà viết truyện kiếm hiệp, có lẽ không nên xếp tác phẩm của họ vào loại tiểu thuyết lịch sử, vì cái gọi là lịch sử trong đó không thể tin cậy, với những người ít hiểu biết, thứ “lịch sử” đó thậm chí còn làm nguy hại tới nhận thức của họ. Như vậy, chỉ nên coi những truyện thuộc loại coi trọng sự thật lịch sử là tiểu thuyết lịch sử đích thực, bởi ở đó, nhà văn tái tạo lịch sử và chân dung nhân vật vốn đã định hình một cách trung thực theo quan điểm lịch sử và cái nhìn tiên tiến, sự hư cấu nghệ thuật không thể đi quá giới hạn cho phép.

Thứ Sáu, 8 tháng 10, 2010

Đại việt tàn thư

Ngày Ất Dậu, tháng Ất Dậu, lũ lớn ở miền Trung. Dân tình mấy chục người chết đuối. Có đập chặn sông là Hố Hô bị gỗ lao, nước đánh đến suýt vỡ. Ở biển Hoàng Sa, ngư dân bị tàu lạ, của nước lạ bắt giữ tống tiền. Triều đình cử sứ giả cầm loa kịch liệt phản đối, một mặt vận động chúng không nộp tiền ngõ hầu tránh mắc mưu kẻ lạ. Dân chúng nhân đó mới thưa lại là vẫn còn cả trăm ngư dân vẫn đang bị bắt. Ở núi Sóc, kéo màn tượng đài Thánh Gióng, nghe nói cả người cả ngựa đều có trái tim ở trong ngực, khóa bằng mấy lần cửa sắt đề phòng ngón “bích hổ du tường” của phường đạo trích. Có kẻ sĩ bàn rằng lo thay việc cả trái tim đức ngài lẫn trái tim loài khuyển mã đúc cùng một khuôn. Há chẳng phải phạm thượng lắm ru. Nhân chuyện ngựa sắt, Tể tướng nước Việt bèn có cho phép mệnh quan của triều đình được thêm tiền mua ngựa. Mỗi ngựa bằng cả ngàn trâu.
Ngày Đinh Hợi, Thái Thú Hà Tĩnh là Nguyễn Thanh Bình cưỡi ngựa che lọng mặc phẩm phục màu trắng đi… cứu dân. Cựu thần Lê Trung và học sĩ Nguyễn Quang A cùng dâng sớ xin trảm Bô xít ở Tây Nguyên. Sớ viết: Trước thì ở Buffalo creek xứ Cờ Hoa xảy họa bùn xám.Vừa nghe đập hồ chứa bùn đỏ Ajka, xứ Hoa Hồng bị vỡ. Cả muôn vạn khối bùn đỏ tràn ngập 3 châu, 40 ngàn thước. Bùn đỏ lấp sông các con sông Rába, Danube.  Thảm họa âu cũng là từ việc đào Bô Xít mà ra. “Việc trảm thủ tên Bô xít bằng…cẩu đầu trảm sẽ là việc khó chưa từng có trong sử kinh tế Đại Việt. Triều đình hãy dùng cảm và trách nhiệm đối với vận mệnh của sơn hà xã tắc và 87 triệu con dân. Thà chịu tổn thất còn hơn để lại hậu họa khôn lường cho mai sau”. Tấu xong để đó vì chuyện trăm sự bận của triều đình.
Ngày Mậu Tí, Mõ sĩ là Hữu Khá chụp được hình đôi bàn tay thò lên từ mái ngói kêu cứu. Có kẻ học trò là Trần Ngọc Trung quyết rằng: miền Trung chẳng còn gì ngoài nước. Dân chúng thò tay vẫy không phải để xin cho ra Tràng An dự đại lễ mà chỉ để "Cho xin gói mì tôm, sắp chết vì lả rồi". Ở Thăng Long, Thái thú Thăng Long Nguyễn Thế Thảo dán cáo thị cấm dân không được nói bậy, chửi thề, cấm không cho cởi trần… cho đến hết Đại lễ.
Ở trang An Biên, còn gọi là Hải tần phòng thủ, có vị giáo sư đứng trên một cái bục cao khoe giọng chửi hơn một khắc. Đám học trò lấy làm thú vị lắm bèn ghi âm đưa lên mạng. Quan đốc học nghe tin liền phán: Giáo sư bị bẫy. Thế là Đại từ điển tiếng Việt có thêm một từ mới: “Bẫy thầy”. Ở phủ Lai Châu, hình quan Phong Thổ phát hiện tới 20 giáo sư dùng bằng giả.

Thứ Bảy, 2 tháng 10, 2010

Phan Vũ- nhà thơ “Em ơi! Hà Nội phố”

(VOV) - Tôi gặp Phan Vũ trong căn nhà nhỏ của ông ở thành phố Hồ Chí Minh. Ở tuổi 84, ông làm thơ, vẽ và viết báo.
Có lẽ người yêu Hà Nội nào cũng từng ngân nga giai điệu của ca khúc “Em ơi! Hà Nội – Phố” với những ca từ như thấm sâu vào máu thịt : “…Ta còn em cây bàng mồ côi mùa đông. Ta còn em nóc phố mồ côi mùa đông. Mảnh trăng mồ côi mùa đông…”. Thế nhưng, không phải ai cũng biết rõ về tác giả của những vần thơ đã được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc để làm nên một trong những ca khúc hay nhất về Hà Nội. 
Những câu thơ đầy nhạc cảm trong ca khúc “Em ơi! Hà Nội – Phố” được trích ra từ một trong những bài thơ hay nhất của Phan Vũ được viết thành trường ca gồm 23 đoạn. Bài thơ ra đời vào những ngày đêm Hà Nội bị đánh bom năm 1972, trong một căn gác nhỏ nơi nhà thơ sống ở phố hàng Bún. Bằng những cảm xúc khi ấy, ông đã viết nên những vần thơ bất hủ mà nhiều người cho rằng đến giờ chưa một bài thơ viết về Hà Nội nào sánh được.
Một điều thú vị nữa là bài thơ chưa bao giờ được in, cho đến tận năm ngoái (2008) , tập thơ Phan Vũ với bản gốc trường ca“Em ơi! Hà Nội – Phố” lần đầu tiên xuất bản. Đọc “Em ơi! Hà Nội – Phố” của Phan Vũ mà nghe dư âm xưa hiện về nơi phố cổ, một Hà Nội thanh bình êm ả những năm 60-70 của thế kỷ trước. Phan Vũ “vẽ” lại Hà Nội xưa, thời chiến tranh khắc nghiệt nhưng rất lãng mạn, hào hùng: 
 “Tiếng dương cầm trong căn nhà đổ “ .
Luôn thấp thoáng đâu đó là những hình bóng người con gái đẹp:
 “Ai đó chờ ai?

Tóc cắt ngang xõa xõa bờ vai….”  .
Từ hồi đó, thơ của ông đã đầy màu sắc, đọc từng câu mà hình như đang xem họa sỹ vẽ Hà Nội:
“….một màu xanh thời gian.

Một màu xám hư vô,

Chợt nhòe,

Chợt hiện…” 

“Nhợt nhạt vàng son”
một Hà Nội man mác lẫn hồn thơ mùa thu:
“ Ta còn em cô hàng hoa

Gánh mùa thu qua cổng chợ
Những chùm hoa tím

Ngát mùa thu… “
một Hà Nội lãng mạn phong cách riêng của Hà Nội…
"Ta còn em tà áo nhung huyết dụ.

Đất nghìn năm còn mãi dáng kiêu sa,

Phường cũ lưu danh người đẹp lụa.

Ngõ phố nào in dấu hài hoa…?"

Nhà thơ Phan Vũ
Nhà thơ, họa sĩ 84 tuổi đọc cho tôi nghe bài thơ- trường ca “ Em ơi Hà Nội phố”, chia sẻ với tôi những cảm xúc dường như vẫn còn tươi nguyên như ngày nào. Ông vẫn còn một kỳ vọng là được chính thức giới thiệu và tự mình đọc trường ca “Em ơi! Hà Nội – Phố” chính tại Hà Nội, cho những người Hà Nội...  * Thưa nhà thơ Phan Vũ, ông đã viết trường ca “Em ơi! Hà Nội – Phố”  như thế nào ? 
Phan Vũ: Mùa đông năm 1972, lúc ấy B52 đánh Hà Nội ác liệt. Trong những ngày đó, tôi sống ở Hà Nội. Hàng ngày, hay đi lang thang. Tôi thân với họa sĩ Bùi Xuân Phái, nên hay đi theo ông Phái. Ông vẽ phố, còn tôi nghĩ về phố. Nhiều khi đến đêm, lúc 1,2 giờ sáng ông Phái còn đem tranh đến nhà tôi treo.
Trường ca đó như một nhật ký bằng thơ. Bởi với những gì đã diễn ra hồi đó, một bài thơ không đủ chứa đựng được. Tôi viết trong khoảng 10 ngày. Nhà tôi ở phố Hàng Bún. Chiến tranh, người ta đi vắng hết. Bom đạn, cây cối nhà cửa đổ nát.
Căn nhà tôi ở là một nhà kiểu Pháp, của một trung tá Pháp, nhà có lò sưởi. Lúc đấy tôi đi lượm cây cối, những mảnh gỗ vỡ, rồi đêm nào cũng đốt lên, rồi thì làm thơ… 

Thứ Ba, 21 tháng 9, 2010

Tức cảnh Trung thu

Ở Phố
Tiết Trung thu
Con nít tung tăng tàu vũ trụ
người máy, đèn lồng khắp phố
Người lớn hả hê
mang quà bánh về nhà.

Nơi Quê,
Con trẻ dìm trăng trong chậu,
Nhông nhông cầm sao cưỡi gió
khắp xóm cùng làng.

Omanizen
(Trung thu Canh dần)

Thứ Hai, 20 tháng 9, 2010

ĐÂU LÀ SỰ THẬT VỀ TÔNG TÍCH CỦA LÝ CÔNG UẨN ?


Sự kiện Lý Công Uẩn không có cha cụ thể, mà con của thần nhân, cùng với những câu thơ sấm kí ở làng Cổ Pháp, rồi những điềm báo có thiên tử ra đời …biểu hiện của một cuộc vận động chính trị có tổ chức của giới trí thức tam giáo, đứng đầu là nhà sư đầy tài năng Vạn Hạnh, hoàn thành tâm nguyện trăm năm của quần chúng mà đại diện ban đầu là thiền sư Định Không của hương Diên Uẩn. Cuộc hôn phối có ý đồ, với đạo diễn kiêm chủ hôn Vạn Hạnh tại chùa Thiên Tâm, núi Tiêu Sơn, giữa bà Phạm thị Ngà với ” vị thần nhân dựa cột chùa “, một người họ Lý đang ẩn tích, đã được tiến hành. Thiền sư Vạn Hạnh tạo điều kiện cho bà họ Phạm vào rừng gặp ” thần nhân “, một cuộc hôn nhân bí mật, trong đó cha của Lý Công Uẩn có thể là một người đầy uy vọng của họ Lý vùng Cổ Pháp-Siêu Loại, tức Diên Uẩn-Thổ Lỗi, đang trong thời kì phải mai danh ẩn tích. Sự kiện bà mẹ Lý Công Uẩn phải vào rừng sinh sống, rồi khi đứa bé lên 3, bà phải gửi bé cho nhà sư Lý Khánh Văn nuôi dạy và cuối cùng giao cho sư Vạn Hạnh đào tạo chú bé Lý Công Uẩn thành hoàng đế, có thể là cơ sở của giả thuyết vừa nêu. Còn giả thuyết Lý Công Uẩn là con ruột của sư Vạn Hạnh thì quá ư táo bạo và bị các nhà sử học bác bỏ. Một vùng đất có nhiều phật tử như Cổ Pháp-Siêu Loại, không thể mù quáng đảnh lễ một vị quốc sư, đứng vào hàng tam bảo, lại làm việc phạm giới luật. Cuộc ” cách mạng lam “, chuyển giao quyền lực từ họ Lê, đã mất lòng dân, sang họ Lý, phản ánh một xu thế mới là thay chế độ quân trị sang nhân trị. Thực ra, việc Lý Vạn Hạnh lãnh đạo lớp trí thức tam giáo, nòng cốt là trí thức Phật giáo, cùng nhau giáo dưỡng và làm cuộc vận động để đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua, là kế thừa ” tâm nguyện  ” trăm năm kể từ thời thuộc Đường, thế kỷ IX, ấy là  “củng cố và phát triển miền Cổ Pháp, đưa những người con cháu của vọng tộc Lý lên ngôi vua, vừa tạo độc lập dân tộc Việt mà cũng chấn hưng đạo pháp ” của thiền sư Định Không (730-808).
     
1. Lý Công Uẩn, người thỏa niềm khát vọng của dân tộc Việt vào cuối thế kỷ X 
Nhà nước Văn Lang sụp đổ, dân tộc Việt phải chịu ách đô hộ của phong kiến phương bắc. Dẫu vài lần dân tộc Việt quật khởi, tưởng chừng nối được quốc thống, nhưng thời gian độc lập quá ngắn, phải lo chống giữ, không đủ vật lực tài lực để vun bồi văn hoá giáo dục, nên dân tộc Việt rất chậm phát triển vào thời Bắc thuộc. Vì lẽ đó mà triều Ngô, chưa có sự nghiệp đáng kể thì đất nước vấp phải loạn thập nhị sứ quân. Triều Đinh cũng chưa tạo được một cộng đồng thuần hậu thì gặp nạn tôi giết vua; để lại di chứng ấy cho Tiền Lê, với Lê Long Đỉnh, giết anh giành ngôi, làm việc lỗi đạo… Các triều vua Đinh Lê, bó hẹp trong vùng núi Ninh Bình, rất lợi thế về quân sự, có quân công trong lịch sử, nhưng không đủ sức tạo nên một kinh đô Hoa Lư phát triển toàn diện ; thậm chí để lại những việc làm quá ư vô đạo! Thời bấy giờ đã có một Phong Khê với bề dày văn hoá Văn Lang, một trung tâm Phật Giáo Luy Lâu-Thuận Thành, phía đông sông Hồng, nam sông Đuống, đã phát triển bền vững…Đại bộ phận nhân dân có nhu cầu bức thiết về văn hoá, có khát vọng về một minh quân, biết đáp ứng lòng dân…Và Lý Công Uẩn đã xuất hiện kịp thời để đáp ứng nhu cầu bức thiết ấy. Lý Công Uẩn không phải là con thần cháu thánh của truyền thuyết, chẳng phải là thiên tử của vị ngọc hoàng mơ hồ nào đó của cổ tích …mà ngài là một vì vua đươc nhân dân ” hoài thai ” suốt một thời đau đáu cho tiền đồ dân tộc; được sự giáo dưỡng đầy tâm huyết của lớp trí thức tam giáo tiến bộ của thế kỷ X.     


Chùa Cổ Pháp, còn gọi là chùa Dặn, nơi nhà sư Lý Khánh Văn
nuôi dưỡng Lý Công Uẩn từ tuổi lên 3
     
 Giới trí thức tiến bộ lúc bấy giờ, đứng đầu là thiền sư Vạn Hạnh, phải chọn lựa một con đường cho dân tộc. Trong tam giáo thì phải thừa nhận Phật giáo là mạnh nhất về cả tinh thần lẫn vật chất.

Thứ Năm, 9 tháng 9, 2010

'Phát hiện' cuốn sách khổng lồ 2 người khiêng

Tập thơ - thư pháp độc đáo có tựa Hoa Lư thi tập vừa được công bố. Đây là cuốn sách bằng gỗ, muốn di chuyển phải cần hai người khiêng vì có kích thước khổng lồ (109 cm x 70 cm x 10 cm) và nặng tới 54kg.
Bìa tập thơ – thư pháp nặng 54 kg có giấy dát vàng bên trong và bìa gỗ đỏ.
Bìa tập thơ - thư pháp nặng 54 kg có giấy dát vàng bên trong và bìa gỗ đỏ.
Bìa sách được làm bằng gỗ đỏ quý hiếm, chạm khắc công phu hình rồng và các thông tin tên sách, tên tác giả, người thực hiện.
Hoa Lư thi tập là phiên bản kỷ lục của tập thơ Hoa Lư thi tập (tác giả GS.TS Hoàng Quang Thuận - Viện trưởng Viện công nghệ viễn thông, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Trong khi tập thơ chưa ra mắt, những người quan tâm đã có thể đọc trước phiên bản đặc biệt do họa sĩ Trần Quốc Ẩn thực hiện.
Lật qua trang đầu tiên, phần gây chú ý nhất là nội dung bài Chiếu dời đô bằng tiếng Hán và tiếng Việt được in trên giấy dát vàng nhập khẩu từ Hong Kong.

Thứ Tư, 21 tháng 4, 2010

PHÁT HIỆN LẠI VỀ VIỆT NHÂN CA (越人歌)

Việt nhân ca quá nổi tiếng. Sau khi được đưa vào phim và hát thì nổi lên phong trào tìm hiểu Việt nhân ca trong dân gian chứ không còn là chuyện của các chuyên gia nghiên cứu văn hóa. Nổi tiếng vì có thể nói đó là bài thơ tình đầu tiên, bài dân ca xuất hiện sớm nhất được ghi nhận trọn vẹn, cách nay khoảng 2800 năm…

Tóm tắt về bối cảnh ra đời của Việt nhân ca: Lưu Hướng (刘向) là cháu bốn đời của Lưu Giao  (刘交). Lưu Giao là em của Lưu Bang (刘邦) cao tổ của nhà Hán. Lưu Hướng là tác giả của sách Thuyết uyển (说苑). Sách có chương kể chuyện  “Tương Thành Quân Thủy phong chi nhật” (襄 成君始封之日). Tương Thành Quân là Sở Tương Vương (楚襄王) tên hiệu là Hùng Hoành (熊橫). Trong câu chuyện có nhắc đến Ngạc Quân Tử Tích  (鄂君子皙) là vua Sở Hùng Ngạc (楚熊咢) dùng thuyền dạo mát ngoạn cảnh thì có người chèo thuyền hát bài dân ca Việt. Ngạc Quân Tử Tích nhờ người ghi lại và phiên dịch ra tiếng "Sở" là bài "Việt nhân ca".
Nguyên văn đoạn đó như sau:

"襄成君始封之日,衣翠衣,带玉剑,履缟舄(舄:xi4,古代一种双层底加有木垫的鞋;缟舄:白色细生绢做的鞋),立于游水之上,大夫拥钟锤(钟锤: 敲击乐鼓的锤子),县令执桴(桴:鼓槌)号令,呼:“谁能渡王者于是也?”楚大夫庄辛,过而说之,遂造托(造托:上前求见)而拜谒,起立曰: “臣愿把君之手,其可乎?”襄 成君忿然作色而不言。庄辛迁延(迁延:退却貌)沓手(沓:盥之误 字,盥手即洗手)而称曰:“君独不闻夫鄂君子皙之泛舟于新波之中也?乘青翰之舟(青翰:舟名,刻成鸟形的黑色的船),极(:man2,上艹下两;芘:bi4芘:不详为何物,疑为船上帐幔之类),张翠盖而检 (检:插上)犀尾,班(班,同“斑”)丽袿(袿:gui1,衣服后襟,指上衣)衽(衽:ren4,下裳),会钟鼓之音,毕榜枻(榜:船;枻,yi4,桨。榜枻:这里指代船工)越人拥楫而歌,歌 辞曰:‘滥兮抃草滥予,昌枑泽予昌州州,饣甚州州焉乎秦胥胥,缦予乎昭,澶秦踰渗,惿随河湖。’鄂君子皙曰:‘吾不知越歌,子试为我楚说之。’于是乃召越译,乃楚说之曰:‘今 夕何夕兮,搴中洲流。今日何日兮,得与王子同舟。蒙羞被好兮,不訾诟耻。心几顽而不绝兮,知得王子。山有木兮木有枝,心说君兮君不知。’ 于 是鄂君子皙乃揄修袂,行而拥之,举绣被而覆之。鄂君子皙,亲 楚王母弟也。官为令尹,爵为执圭,一榜枻越人犹得交欢尽意焉。今君何以踰于鄂君子皙,臣何以独不若榜枻之人,愿把君之手,其不可何也?”襄成君乃奉手而进之,曰:“吾少之时,亦尝以色称于长者矣。未尝过僇(僇:lu4,羞辱)如此之卒也。自今以后,愿以壮少之礼谨 命。”

Dịch nghĩa:
“Ngày đầu tiên Tương Thành Quân được phong quan tước, mặc áo đẹp, đeo kiếm ngọc, mang cao guốc, đứng phía trên dòng nước, đại phu gõ nhạc, đánh trống. Lệnh rằng: "Ai có thể đưa bổn vương lên đò?" Sở đại phu Trang Tân bước lên phía trước bái kiến, đứng thẳng nói rằng: "Thần nguyện nắm tay của quân vương, có được không ?"

Thứ Năm, 15 tháng 4, 2010

NHỮNG VẦN THƠ CỦA CÁC VỊ TIÊN

100 năm trước: Thương nòi giống - Thần tiên giáng bút

Nguyễn Xuân Diện
Trong các nghi lễ của người Việt thời trước, có một không gian nghi lễ khá đặc biệt rất đáng để ý là thiện đàn. Ở đấy diễn ra một hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh độc đáo là giáng bút - một hiện tượng văn hoá tâm linh có thực trong xã hội Việt Nam, tức là cầu Thánh - Thần - Tiên - Phật cho mình những bài thơ, thông qua một người có năng lực đặc biệt. Song vì nhiều lý do mà giới nghiên cứu đã coi đó là một vùng cấm và không dành cho nó một sự quan tâm thích đáng, ngoại trừ hai học giả là Nguyễn Văn Huyên (Tục thờ cúng thần tiên ở Việt Nam, 1944) và Đào Duy Anh (Hồi ký Nhớ nghĩ chiều hôm, 1989).


Giáng bút là hiện tượng “nhập thần” trong đó thực hiện nghi lễ cầu cúng để mong muốn có sự phán truyền dạy dỗ của thần linh thông qua văn tự (Hán Nôm) mà thư viện Viện Hán Nôm hiện đang lưu trữ 254 cuốn thơ văn giáng bút, với hàng vạn bài thơ, bài văn.
.
Tài liệu có niên đại sớm nhất là năm 1825 được in tại đền Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, nay là di tích Việt Đông hội quán, số nhà 22 Hàng Buồm, Hà Nội. Về niên đại xuất hiện nhiều bản giáng bút nhất là các năm 1870 - 1898 và 1906 - 1911.


Năm 1825 là niên đại của tài liệu sớm nhất hiện biết trong kho sách Hán Nôm. Thế nhưng, Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) một danh sĩ, nhà khảo cứu nổi tiếng thời cuối Lê đầu Nguyễn, trong Đường An Đan Loan Phạm gia thế phả (A.909) có thuật chuyện ông ngoại của mình như sau: “Cụ có thuật bói tiên, thường lấy cành đào làm thành hình mỏ hạc treo lên một cần trúc, lấy một cái sọt tre đựng đầy ắp cát sạch, đặt cần trúc bên cạnh rồi đốt bùa đọc phép, cái mỏ hạc tự nhiên chuyển động, vạch thành chữ trên cát”. Lời thuật này rõ ràng cho biết ông ngoại của Phạm Đình Hổ là người thực hiện nghi lễ giáng bút cầu văn tự. Qua đây cho thấy, chúng ta có thể vẫn tìm thấy các văn bản giáng bút có niên đại sớm hơn năm 1825 là bản xưa nhất có trong thư viện Viện Hán Nôm.

Thứ Sáu, 5 tháng 3, 2010

TRĂNG NGHẸN

Mẹ sinh tôi vào một đêm rằm mưa gió ngày xưa,
Lúc chào đời đã lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn.
Vùng tản cư hồi nầy ruộng hoang nhà trống,
Rước được bà mụ vườn, ngoại cực trần thân.

Tôi lớn trong quê mùa như cây tạp vườn hoang,
Bảy tuổi biết leo lưng trâu, không từng ngồi xe đạp.
Không biết lời bải buôi để mua lòng người khác,
Nên thua thiệt cả đời vì không thể dối lừa ai.
Ngơ ngác buổi ra thành, trước cuộc sống đua chen,
Mười năm sau chưa gội rửa cho mình thành dân chợ.
Lớp phèn hết bám chân, nhưng chất chân quê vẫn còn đó,
Tôi tranh thủ những tháng hè, thích về lại thăm quê.
Bè bạn theo đuôi trâu một thời, mơ ước nhìn tôi,
Tưởng tôi thoát kiếp ngài, nhởn nhơ hóa bướm.
Tôi nhìn vẻ hồn nhiên của đám bạn xưa thèm quá,
Cộng một chút phù hoa đâu thêm lớn tâm hồn.
Mỗi lần về quê bè bạn cũ lại vắng hơn,
Gái mười bảy đã lấy chồng, trai hai mươi đòi vợ.
Cô bạn xưa nách con ngang nhà mua chịu rượu,
Đôi mắt ướt một thời bẽn lẽn ngó bàn chân.
Xóm bên sông nhiều cô gái rời quê,
Về thăm nhà xênh xang lụa là hàng hiệu.
Vài căn nhà xây, đổi đời nhờ những đồng tiền báo hiếu,
Khởi sắc một vùng quê sao nghe có chút bùi ngùi.
Đồng bằng quê hương tôi nhiều cái nhất ngậm ngùi:
Sản lượng lúa nhiều, vùng cá ba sa lớn nhất,
Đầu tư văn hóa thấp và khó nghèo cũng nhất,
Và cũng dẫn đầu, những cô gái lấy chồng xa.
Chập tối buồn ra nhìn bến nước cô đơn,
Vầng trăng vừa lên đã bị mây mưa vần vũ.
Tôi chợt nhớ lần lỗi hẹn đầu đời, trăng cũ,
Vầng trăng nghẹn hoài, chưa tỏa sáng một vùng quê. 
Hoài Tường Phong
-------------------------------------------
Ghi chú :
TRĂNG NGHẸN là bài thơ của Hoài Tường Phong vừa đoạt giải Nhất cuộc thi thơ đồng bằng sông Cửu Long do các Hội Văn học - Nghệ thuật trong khu vực nầy liên kết tổ chức, tỉnh Cần Thơ đăng cai. Nhưng một sự cố lạ lùng chưa từng có đã xảy ra: Nhà thơ Phạm Sĩ Sáu, trưởng Ban Giám khảo cho hay, một số cơ quan "có thẩm quyền" ở thành phố Cần Thơ (thực chất là không có thẩm quyền) đã yêu cầu Ban Giám khảo chọn lại bài khác để trao giải Nhất, vì bài nầy u ám quá.

Thứ Bảy, 13 tháng 2, 2010

CHÚC MỪNG NĂM MỚI!

http://www.kienvanggreetingcards.com/img_ecards/ecard_1243.jpg
  
Tặng bạn ba nụ cười để đón chào năm mới: 
Một nụ cười dịu nhẹ để nhớ lại những ngày đã qua, 
Một nụ cười tươi mới cho ngày hôm nay và 
Một nụ cười thật rạng rỡ khi đón chào những ngày sắp đến. 
Chúc năm mới tràn ngập trong niềm vui và hạnh phúc.

http://i274.photobucket.com/albums/jj250/huuthanhgiuse/Chuc-mung-Nam-moi_07.jpg