Hiển thị các bài đăng có nhãn Khảo cổ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khảo cổ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2013

Những trao đổi xung quanh loạt bài "Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động"

Trong và sau khi Thanh Niên đăng loạt bài Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động, đã có nhiều nhà nghiên cứu và bạn đọc gửi thư, viết bài hưởng ứng và tranh biện. Một số báo như Nhân Dân, Thông tấn xã Việt Nam, Thể Thao & Văn hóa, Nhà báo & Công luận... cũng đã đăng bài trao đổi. Để rộng đường dư luận và trao đổi học thuật, chúng tôi sẽ lần lượt đăng một số bài viết thể hiện các ý kiến khác nhau.

Chúng tôi mong muốn những phát hiện mới về lịch sử cũng như những ý kiến tranh luận sẽ sớm được các cơ quan khoa học về lịch sử thẩm định, đánh giá, kết luận, nhằm góp phần làm sáng rõ những trang sử vẻ vang của dân tộc, nhất là vào các thời kỳ nước ta không có hoặc có rất ít sử liệu. Số báo này xin giới thiệu nguyên văn bài viết của ông Trương Thái Du và bài viết của nhà giáo Hà Văn Thịnh.

Đôi lời với những phát hiện lịch sử chấn động

Từ ngày 27.2.2008 đến 6.3.2008, Báo Thanh Niên liên tiếp đăng loạt bài Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động của tác giả Hoàng Hải Vân. Vì yêu thích cổ sử và ít nhiều đã có những biên khảo nhỏ ở góc độ nghiệp dư, tôi đặc biệt chú ý và theo dõi rất kỹ vấn đề ông Thát theo đuổi. Từ gợi ý của Thanh Niên, tôi đã vừa đọc báo, vừa tìm hiểu quyển Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta của tác giả Lê Mạnh Thát. XNB Tổng hợp TP.HCM - 2006 (LĐTK).

Một số điểm nổi bật

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động (tiếp theo)

Lê Thánh Tôn nói: Một tấc đất của tổ tiên cũng không để mất! Kèm theo câu nói đó là việc dựng lại Ngọc phả Hùng Vương... Tiếp tục hành trình về thời đại Hùng Vương

Cho đến nay, với nhiều nỗ lực nghiên cứu, các nhà sử học nước ta đã phát hiện rất nhiều tài liệu quan trọng về nền văn minh của nước ta thời đại Hùng Vương, đặc biệt là đã thu thập, giám định, phân tích một khối lượng đồ sộ các di chỉ khảo cổ học từ văn hóa Phùng Nguyên, văn hóa Đồng Đậu, văn hóa Gò Mun đến văn hóa Đông Sơn. Những nỗ lực đó cho phép phác thảo bước đầu diện mạo của thời đại khởi nguồn của dân tộc, đủ để bác bỏ những mưu đồ phủ nhận hoặc hạ thấp công lao dựng nước của tổ tiên. Ghi nhớ lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Các vua Hùng có công dựng nước...", Nhà nước ta đã chính thức quyết định lấy ngày Giỗ tổ Hùng Vương làm Quốc Giỗ.

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động

Với những khám phá của ông, chúng ta có đủ tư liệu để dựng lại lịch sử vẻ vang của dân tộc ta từ hai ngàn năm trước...
Là một nhà tu hành xuất gia từ bé, nhưng Thượng tọa Thích Trí Siêu (tức giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát) vẫn để tóc. Thú thật là quá tò mò về chuyện đó, tôi mạnh dạn hỏi ông vì sao như vậy. Ông cười phá lên, chỉ vào bức ảnh Đức Bồ đề Đạt Ma: "Ông ấy có cạo đầu đâu! Tôi còn thua ông ấy một bộ râu". Tôi ngộ ra rất nhiều điều trong tiếng cười của ông.

Tôi đã gặp ông nhiều lần, trước hết là để viết bài về Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc (VESAK) được tổ chức tại Việt Nam sắp tới mà ông là Chủ tịch Ủy ban quốc tế (IOC) đồng thời là Tổng thư ký Ủy ban điều phối quốc gia Đại lễ này. Tôi cũng đã đọc nhiều sách ông viết. Nhưng với trình độ nông cạn của tôi, hiểu về con người cùng sở học mênh mông vi diệu của vị cao tăng này thật không dễ chút nào.

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

Mộ cổ hé lộ cực hình dã man của người Maya

Ngôi mộ trên chứa 24 bộ xương nằm trong khu vực thuộc thành phố Maya cổ xưa ở Uxul, Mexico được nhà khảo cổ học Nicolaus Seefeld phát hiện ra khi đang nghiên cứu hệ thống cấp nước của Uxul. 

Sau đó các nhà nhân chủng học tại Đại học Bonn đã cùng vào cuộc nghiên cứu những bộ xương này và phát hiện ra nhiều dấu vết bất thường trên xương các hài cốt. Điều đó cho thấy, họ đã bị chết trong tình trạng cực kỳ bạo lực. Các nhà nghiên cứu tin rằng, các bộ xương thuộc về tù nhân chiến tranh hoặc là thuộc về giới quý tộc từ Uxul. 
 Những chiếc đầu lâu bị có thể bị cắt đứt bởi một loại rìu
Nicolaus Seefeld cho biết: “Ngoài thông tin có số lượng lớn người được chôn trong ngôi mộ thì còn thấy các bộ xương đã không còn nguyên vẹn khi chết”. Cụ thể, các hộp sọ được tìm thấy nằm rải rác xung quanh ngôi mộ và tách rời so với các phần còn lại của cơ thể. Đồng thời, hầu hết hàm dưới của các nạn nhân cũng bị tách ra khỏi đầu. Phân tích còn cho thấy, chân tay các di hài trên còn bị chặt đứt.

Phát hiện dấu chân cổ đại và hình vật thể bay bí ẩn

Những dấu chân được tìm thấy trên một hòn đá ở làng Piska Nagri, ngoại ô thành phố Ranchi, bang Jharkahnd.
Nhà địa lý Ấn Độ Nitish Priyadarshi hiện đang nghiên cứu những dấu chân lớn này. Một mẫu dấu chân có độ dài 11 inch (khoảng 28 cm) và độ rộng 5 inch (khoảng 13 cm), và một mẫu khác cũng trong khu vực này có kích cỡ 10×4.5 inch.
Những người dân địa phương tin rằng đó là những dấu chân của chúa Rama và chúa Lakshmana (các vị chúa huyền thoại của Ấn Độ), đã đến nơi đây trong khi đi tìm vợ của chúa Rama, Sita.

Nhà địa lý Priyadarshi cho biết, dấu chân được in trên đá granite, có vẻ như là được khắc lên đó.
 “Có thể là nó được khắc thủ công bởi những người dân địa phương để tưởng nhớ đến những vị khách,” ông nói.
Điều gây thú vị cho ông Priyadarshi là bức tranh về một vật thể bay nằm ngay bên cạnh những dấu chân.

Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

VỀ TẤM BIA THỜI TÙY (601) MỚI PHÁT HIỆN Ở CHÙA GIÀN – HUỆ TRẠCH TỰ

Nguyễn Quang Hà[1]
Chùa xã Trí Quả (Huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) tên chữ là “Huệ Trạch tự”, hay còn có tên Nôm là chùa Giàn - Một trong Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Điện, Pháp Lôi, Pháp Vũ) trong tín ngưỡng thờ tự ở vùng Dâu. Hiện nay  các vị trong làng kể lại về lai lịch của chùa: Vào thời Trần, con trai của Đức vua Trần Hưng Đạo là Trần Hồng khi đánh giặc Mông Nguyên được Phật độ cho nên đã đánh thắng giặc do đó ban cho tên chùa là “Huệ Trạch tự) (惠澤寺). Chùa trước đây có gác chuông cổ nhưng đã bị phá đi để làm cầu. Trong chùa còn một chiếc chuông đồng niên đại thời Lê, trên 4 núm có khắc “Huệ Trạch tự chung” (惠澤寺鍾). Ngoài sân, trước tòa Tam bảo hiện còn tấm bia 4 mặt, mặt chính trên trán bia ghi: “Huệ Trạch tự”(惠澤寺), mặt thứ tư phần niên đại ghi: Chính Hòa nhị thập niên (1700) nội dung về việc cúng tiền xây gác chuông và cúng ruộng vào chùa. Ở gian phải của tòa Tam bảo còn một cây hương, trên đó có khắc tên người cung tiến. Chùa còn giữ được hai sắc phong. Đạo sắc thứ nhất phần niên đại ghi 25 tháng 7 năm Khải Định 9 (1924). Nội dung ban tặng: (…)“Diệu Cảm Nhiên Phù, Chương Hiển Đôn Ngưng, Dực Bảo Trung Hưng Thành Hoàng Linh Ứng Tôn Thần”(耀感然孚章顯敦凝翊保中興城皇靈應尊神). Sắc thứ 2 cũng có cùng ngày tháng năm với Đạo sắc trên với đối tượng được ban là: (…)

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2011

Phát hiện tài liệu mới về đội hùng binh Hoàng Sa

Dòng họ Võ Văn ở huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) đang lưu giữ những tài liệu cho thấy tổ tiên họ từng gia nhập đội hùng binh ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ từ năm 1786, sớm hơn 30 năm so với các tài liệu công bố trước đây.
Trong lúc thực hiện dự án “Khôi phục những ngôi mộ của binh phu đi Hoàng Sa”, tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi đã phát hiện nhiều tài liệu quý của dòng họ Võ Văn ở huyện đảo Lý Sơn liên quan đến chủ quyền lãnh hải Hoàng Sa, Trường Sa từ cuối thế kỷ 18. Võ Văn là một trong 13 dòng họ tiền hiền trên đất đảo Lý Sơn.

Sau nhiều lần phiên dịch, tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu lưu trữ viết bằng chữ Hán của dòng họ này, tiến sĩ Vũ kết luận: “Tộc họ Võ Văn ở Lý Sơn có công rất lớn trong việc thiết lập đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa, giong buồm ra biển Đông đo đạc hải trình, tìm kiếm các hải vật, sản vật và khí cụ về dâng nộp lên triều đình từ cuối thế kỷ 18". 

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2011

Sách cổ 500 năm xuất hiện ở Utah

SALT LAKE CITY, Utah (AP) - Một cuốn sách xưa đến hơn 500 năm vừa xuất hiện tại một bảo tàng viện nhỏ ở thị trấn Sandy, tiểu bang Utah hôm Thứ Bảy. Cuốn sách từng bị lãng quên hằng mấy thập niên, được một người đàn ông đem đến nhờ chuyên viên lượng định giá trị của nó.
Ken Sanders đang xem tập sách Nuremberg Chronicle cổ trên 500 năm. Cuốn này được xem là một trong những sách được in sớm nhất và cũng là sách với vô số hình ảnh minh họa của thế kỷ thứ 15. (Hình: AP/Brian Skoloff)

Ông Ken Sanders, nhà buôn sách chuyên nghiệp, thỉnh thoảng phụ trách chương trình Antiques Roadshow của đài truyền hình giáo dục PBS, trong đó ông giúp dân chúng lượng định giá đồ cũ tìm thấy ở nhà mang đến. Trong suốt nhiều chục năm làm công việc này ông chưa có dịp thấy được một vật nào gọi là hiếm hoi đắt giá.
Mãi đến Thứ Bảy tuần qua, trong khi tình nguyện làm việc cho chương trình gây quỹ ở viện bảo tàng thuộc thị trấn Sandy, một người mang đến một cuốn sách cũ rách tả tơi nhờ định giá.
Ðây là cuốn Nuremberg Chronicle viết bằng tiếng Ðức do nhà xuất bản Anton Koberger phát hành năm 1493, ghi lại lịch sử của thế giới bắt đầu từ thời đại kinh thánh. Cuốn này được xem là một trong những sách được in sớm nhất và cũng là sách với vô số hình ảnh minh họa của thế kỷ thứ 15.
Ông Sanders thuật lại: “Tôi lấy làm kinh ngạc hết sức, ngạc nhiên vì nó xuất hiện ngay đây, trong nội địa miền Tây Hoa Kỳ. Sách hiếm của đạo Mormon cùng các báu vật khác thì có thể thấy nhiều, nhưng một cuốn sách cũ trên năm trăm năm mới là chuyện hiếm. Không ai ngờ một trong những sách in cổ nhất bỗng nhiên lại xuất hiện ở xứ Sandy của tiểu bang Utah này.”
Chủ nhân dấu tên cho biết cuốn sách do ông bác để lại, tìm thấy phủ đầy bụi bặm ở dưới mái nhà.
Tuy rất cổ nhưng giá trị của cuốn sách không cao lắm vì người ta tin hiện vẫn còn vài trăm cuốn trên thế giới, hơn nữa, hai phần ba các trang sách đã bị mất.
Tuy nhiên đối với ông Sanders giá trị tiền bạc không phải là điều khiến ông ngạc nhiên, ông nói:
“Chỉ nội được dịp cầm trên tay một cuốn sách có từ thời thế giới mới bắt đầu biết in ấn đã là quí rồi. Oái oăm thay ở thế kỷ 21 này vào lúc người ta đang nói đến ngày tàn của sách vở thì một cuốn sách trên 500 tuổi lại vẫn còn tồn tại cho đến bây giờ.”

Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2011

Ly kỳ chuyện săn tìm kho vàng 3 tạ ở Bắc Giang

(VTC News) - Bản đồ chỉ rõ, có một kho báu nằm ở vị trí “Thượng ao Giành, hạ búi mai”. Kho báu chứa một lượng vàng khổng lồ, lên tới khoảng 3 tạ.


Trước tin đồn về kho báu của người anh hùng Hoàng Hoa Thám ở Tân Trung (Tân Yên, Bắc Giang) tôi đã tìm về mảnh đất nhiều huyền thoại này để xác minh thực hư của kho báu.


Đi qua thị trấn Nhã Nam 3km, đặt chân lên địa bàn xã Tân Trung, hỏi về kho báu, ngay lập tức tôi được chỉ vào nhà ông Dương Minh Châu người làng Thị. Sự lạ ấy khiến tôi tự hỏi: Phải chăng câu chuyện về kho báu Hoàng Hoa Thám đã trở nên quá quen thuộc với người dân nơi đây? Nhất là khi biết rằng, xã Tân Trung là nơi diễn ra trận đánh đầu tiên của nghĩa quân Yên Thế năm xưa và chính người dân Tân Trung và vùng lân cận cũng từng đóng góp tài sản ủng hộ phong trào. Tôi chợt nghĩ, vài tạ vàng như lời đồn, có thể không có, nhưng ít nhiều cụ Thám cũng để lại chút tài sản ở đây? Suy nghĩ đó làm tôi hăm hở đi qua những con đường ngoằn ngoèo với những ổ gà, ổ vịt, tìm đến nhà ông Dương Minh Châu.


Ông Dương Minh Châu tin rằng đất nhà ông có kho báu 3 tạ vàng. 


Nhà ông Dương Minh Châu nằm cheo leo trên sườn đồi. Dù ở trên cao, nhưng nhà ông vẫn có ao. Cái ao trên đồi làm tôi hết sức băn khoăn, vì bây giờ đang là mùa cạn mà vẫn có nước. Hỏi ra mới biết đây không phải cái ao bình thường mà là cái ao có tên tuổi đàng hoàng. Nó tên là ao Giành, cái ao huyền thoại trong câu nói bí truyền mà dân gian vẫn đồn là “Thượng ao Giành, hạ búi mai” khi nói về vị trí kho báu cụ Đề.


Ông Dương Minh Châu năm nay ngoại lục tuần, nhưng còn khỏe mạnh và tinh anh. Mở đầu câu chuyện, tôi thắc mắc ngay: “Có đúng trên đất nhà ông có kho báu của cụ Hoàng Hoa Thám như lời đồn không?”. Tôi bất ngờ khi ông nói: “Không, tôi chưa bao giờ nói trên đất nhà tôi có kho báu của cụ Đề Thám. Đất nhà tôi chỉ có kho báu của người Trung Quốc thời xưa”.


Thế rồi, ông bắt đầu say sưa kể chuyện về một kho báu bí ẩn được truyền lại trong gia đình mình nhiều đời nay. Đời tổ tiên ông, khoảng chừng 10 đời trước, vua Lê Chiêu Thống chạy loạn qua địa bàn xã Tân Trung ngày nay, đã dừng chân trên ngọn đồi này. Vì cụ tổ của ông làm Chánh tổng nên được ưu tiên lên ngọn đồi vua ngự để thăm hỏi và tiếp tế cho vua.

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2011

Bức tượng cổ

Mấy năm dài ở Mỹ nằm nghe mốc cả người, tôi bỗng nhiên muốn sang chơi Trung Quốc một thời gian, một phần cũng để trau dồi vốn liếng chữ Hán còm cõi của mình. Trong những ngày trôi nổi đó, vào chuyến đi Thượng Hải lần đầu, tôi đã có dịp ghé thăm Tô Châu rồi Hàng Châu, quê hương của những hòn giả sơn và vườn cảnh lừng danh thế giới. Trước sau, tôi đã dừng chân ở Hoa Lục chỉ vỏn vẹn một năm nhưng từ đó ra đi, tôi thấy mình không còn là mình ngày nào nữa. Tôi đã chết ở Trung Quốc và tiếp tục sinh tồn bằng một hóa thân mới. Người đã khiến tôi thực hiện cuộc thoát thai hoá cốt đó là một nhà sư tình cờ hạnh hội trên đường phố Hàng Châu.

Hôm đó trong lúc đang đứng chọn lựa một miếng đá để đưa ông chủ tiệm khắc cho một con dấu làm kỷ niệm, một nhà sư tuổi trạc trung niên, ăn vận giống tôi, xem chừng cũng phái Phật Giáo Nam Truyền, đã đến cạnh tôi chào hỏi. Giữa xứ Tàu mênh mông, gặp được một bạn tu đồng môn, tôi mừng lắm. Đợi lấy xong con dấu, chúng tôi cùng đến một ngôi lương đình tương đối yên tịnh để chuyện vãn.

Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2010

Nghiên mực Tức Mặc Hầu của Dực Đức Tôn hoàng đế



OZ-Truyện của Cụ Vương, dẫu là những câu chuyện thường nhật cũng đủ mê hoặc lòng người chứ chưa nói đến những bài viết của Cụ về cổ vật. Cụ có lối viết giản dị, bình dân nhưng tao nhã và  tài hoa.Tôi chỉ là bậc hậu bối thôi nhưng rất say mê những tác phẩm của Cụ. Câu chuyện này trích trong tác phẩm Hơn nửa đời hư, xin được đăng lại hầu quý độc giả.
http://www.vietnamlit.org/wiki/images/1/1e/Vuong_Hong_Sen.jpg
Cố học giả Vương Hồng Sển
Dẫn - Bài nghiên cứu nầy trước đây dã đăng trong Bách Khoa thời đại, số 290 -291 ngày 12 và 15-2 năm 1969 (xuân Kỷ Dậu). Kế đó, tôi viết lại trong tập số 9 bộ Hiếu cổ đặc san, đề tựa ngày 17-6- 1973. Nhưng tập nầy xấu số, chết ngợp, cho đến nay vẫn nằm trong tủ và không xuất bản được. Hôm nay, tôi soạn lại bài nầy là chép vào bộ Hơn nửa đời hư. Nếu có xảy ra việc gì chẳng lành: sách vở trong Nam bị đốt bỏ, bị tịch thu hay bị nấu làm giấy mới, tôi cầu xin trong ba bài của tôi còn lại một, là đủ cho tôi bằng lòng. Nghiên mực Tứ mặc hầu là quốc bảo. Nay còn lưu lạc... Mấy trang nầy còn lại, ít nữa người nào đời sẽ biết giá trị của nó mà phăn lần, hoạ may tìm ra mà đem nó trả về Viện bảo tàng nhà nước. Khi ấy dẫu nằm dưới đất, tôi cũng yên tâm. 
Vua Tự Đức trị vì từ năm 1847 đến năm 1883. Ông có tiếng là một ông vua hay chữ nhứt trong dòng Nguyễn Phước. Chính Thân Trọng Huề, năm xưa đã từng viết bài ca tụng tài học của vua, trội hơn cả, tài học lỗi lạc của các quan, tuy khoa giáp xuất thân, trôi đã có dịp thấy tận mắt tài ba của ngài, tiếc thay, như vịt nghe sấm, thằng đui ngắm tranh, vì tôi là thằng dốt. Năm 1958, nhơn một dịp ra Huế, lần đầu, tôi được ông chủ quản thủ Viện bảo tàng ngoài ấy, lấy châu bản ra cho xem. Châu bản là bản sớ tấu, tờ điều trần viết mực đen, chữ đen, của các quan dâng lên vua, và vua phê chữ son vào, nên gọi châu bản. Châu là chu, là son, là sắc đỏ. Châu bản triều Gia Long, chữ son phê rất ít, đôi hàng ngăn ngắn, viết thật đều. Châu bản hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị cũng na ná như thế, khi ít, khi khá hơn, không chừng độ. Duy qua triều vua Tự Đức châu bản mới thật là một rừng chữ son, chữ dày mịt, nhi nhít khít rịt và thẳng thớm, có khi trên nhiều tờ, còn nhiều chữ hơn phần sớ tấu của các quan gởi lên, tiếc vì tôi không đọc được. Đến châu bản đời Khải Định, còn thấy phê son bằng chữ Hán tự, duy đến đời ông Bảo Đại, quả là đại, ông nầy chỉ phê bằng quốc ngữ, có khi vấn tắt vỏn vẹn còn hai chữ ký tắt B.Đ, nhưng chữ thật to thật mạnh. Tôi thấy sao thì nói vậy, không biết tâng, mà còn gì nữa mà tâng. Bảo Đại học theo Tây, chơi thể thao Tây nhiều hơn cầm bút ngọc, chữ Nho, vả lại chữ Hán ông Tản Đà đã đem hết cả lên bán ở Chợ Trời. Vua Tự Đức là ông vua hay chữ, nên những gì thuộc văn phòng tứ bảo, ông hết sức tâng tiu. Ông có một nghiên mực làm bằng đá Đoan Khê, ông rất ưng ý đến nỗi phong nghiên mực chức là Tức Mặc Hầu. Nghiễm nhiên ông đã nhân cách hoá (personnifier) một vật vô tri, một cục đá mài mực, phong quan tước hầu, vì biết dâng mực cho ông cặp kỳ, theo ý ông muốn. Ngày nay ta đã mất tin dị đoan, mất hết ý vị thơ và thần, hết sợ ma, không còn mơ đến sự huyền bí tin tưởng phép tiên, phép tà thuật, cho nên tuy nghe vậy nhưng vẫn xem nghiên mực nầy cũng là vật tầm thường, như bao nhiêu vật và nghiên mực khác. Chớ vào cuối thế kỷ XIX, đời ông Tự Đức, khoa học chưa để chân vào nước ta còn thắp đèn dầu mù u, sang lắm là dầu phộng hoặc đèn sáp trắng - vào đời ấy có một cục đá mài mực khô ngoeo, cầm không dơ tay,thế mà khi cấp bách, muốn có mực kịp lúc, chỉ cần thổi một hơi thổi vào mặt nghiên, lức thì mực tươm ra đủ dùng. Quả là “nghiên mực tiên “, còn đòi hỏi gì nữa, và chưa lạ lùng quá sức tưởng tượng hay sao? Ông Tự Đức vốn là ông vua hay chữ, bình sinh ông có tánh giản dị, ít sai cất ai. Ông đã nằm yên dưới lăng, nào cần tôi binh vực, và tôi chỉ muốn nói về nghiên mực Tức Mặc Hầu. Vua Tự Đức làm việc bằng cây bút thật nhiều, mỗi khi viết gặp gấp rút, không sẵn mực dưới tay, nếu đợi cung phi lấy nghiên lấy nước, mài mực thì lâu hoắc, ý nghĩ đâu có chờ mài mực và sẽ bay mất đi còn gì, những khi muốn viết vội vài chữ, hoặc ghi một câu thi hay vừa nảy trong trí, ngài chỉ hà hơi vào nghiên tức thì mớ mực cũ còn lại, lại ướt lên và tươm ra óng mướt, ôi quý hoá thay nghiên mực nầy. Tôi tả vụng về thế ấy, làm sao có người chịu tin là sự thật nó như vậy? Nhưng tôi xin cam đoan, tôi đã từng cầm nghiên mực ấy trên tay, và đã từng tự làm thí nghiệm, và đã thấy y như đã nói. Kỳ tôi ra Huế năm 1958, một buổi sáng tốt trời, tôi vào viếng Viện bảo tàng và được cố quản thủ, cụ Tôn Thất Đào, tiếp tôi một cách hết sức niềm nở, không biết tại mớ tóc bạc, hay vì ông là người tôn thất, có tên Đào, nên cử chỉ thật là trang nhã. Bỗng, cụ lấy nghiên mực ra khoe với tôi: “Viện Sài Gòn có cái ni không?”. Tức Mặc Hầu (ảnh đã mất một ảnh giao Bách Khoa năm xưa cũng lạc luôn). 
http://vnthuquan.net/diendan/upfiles/31295/A100D609A4F54F6F90C36E4320BA1858.jpg
(Không biết Tức Mặc Hầu Cụ Vương nhắc đến có phải là hình trên không?-Hình Internet) 
 
Tức Mặc Hầu vóc lớn và nặng, cỡ hai phần ba miếng gạch Tàu, nhớ độ chừng, lối ba tấc Tây bề dài, hai tấc bề ngang, và dầy cỡ ba phân. Bởi là loài đá tỷ như đá bùn đá nổi, nên tôi so sánh sức nặng và vóc dạc như miếng gạch Tàu, thứ lát sân, lát nhà, tôi là người tục nên so sánh cũng tục. Về cách chạm trổ, thì tuyệt khéo. Nét chạm tinh vi, đá đã trơn bén sẵn, bây giờ thời gian lại ký tên vào đá bằng một màu cổ kính, Pháp gọi “patiné par le temps”, có mấy chữ mà toi cơm không dịch nổi: nếu đá ngoài trời, thì tạm gọi rêu mờ phong sương, ngặt vì đây là đá quý phái thường nằm trên đài son các tía, có lẽ phong trần từng nếm, nên dịch đỡ “lạc tinh” mấy độ với thời gian. Tôi cầm nghiên mực mà suy nghĩ mông lung, ban đầu tôi lật bề trái xem trước, và đây cũng là méo mó vì nghề nghiệp, thuở nay nghề chơi đĩa xưa dạy hễ gặp thứ gì hay thì “lật đít” xem trước, đọc ký hiệu nếu là đồ cổ, hoặc tìm gì gì nếu đó là thiên kim giai nhân? Dưới đáy nghiên là một bài văn “ngự chế” của đức Dực Tôn, đề cao đặc tính của nghiên Tức Mặc Hầu. Chữ khắc nổi, mạ vàng lên mặt chữ, sắc sảo không thể tả, tiếc vì tôi chỉ biết mò bằng tay và khen tấm tắc, chớ không biết khen bằng mắt vì mắt không đọc được chữ nào. Lúc đó tuy có thâu vào máy ảnh, nhưng chữ tế vi quá, không đọc được, vả lại ngày nay ảnh cũng mất, nên khen cũng như không. Sau khi xem đáy, tôi xem qua hộp đựng, thì đây là một cái hộp rất mỹ thuật, làm bằng đồi mồi Hà Tiên, loại thật đẹp, thật quý, trong trẻo và vàng hực, khiến cho bài thi ngự chế nổi bật: một bài khắc trên nắp hộp và một bài nữa khấc trên mặt dưới của cái hộp, khiến tôi khen thầm, nội cái hộp nầy không cũng đủ là một mỹ thuật phẩm tuyệt tác. 

Thứ Ba, 7 tháng 9, 2010

Tận mắt "quái vật biển" 230 triệu năm ở rừng Cúc Phương

VTC News) - Trong số hàng triệu loài thú khổng lồ sinh ra, chết đi, xương thịt trở về với cát bụi, có một chú Bò sát răng phiến, là loài bò sát có thể sống dưới biển hoặc trên bờ, thường được gọi là Ngư Long, hay “quái vật biển” trong các truyền thuyết, rơi vào vùng có nhiều trầm tích.  
 

Giữa những ngày mưa gió đi tìm bộ xương “khủng long” giữa Vườn Quốc gia Cúc Phương thật vất vả. Hướng vào rừng hoàn toàn không có đường, thi thoảng mới lộ một vài vết đi lại cắt dọc ngang của những người bản địa vào rừng kiếm sống. Người dân quanh vùng thường đi sâu vào Vườn Quốc gia Cúc Phương để bắt cua núi, ốc núi, hai thứ đặc sản rất có giá trị. Một số người sống như thời nguyên thủy trong rừng già để săn bắn. Họ làm cả giàn trên cây rồi ngồi trên đó ngày đêm phục kích bắn thú.
Mùa mưa, rừng Cúc Phương ẩm ướt, nên thứ nhiều nhất trong rừng là vắt. Loài vắt xanh bám trên lá, chờ người và thú đi qua là bám vào tìm da thịt hút máu. Vắt đất thì một miệng cắn xuống đất, một miệng ngỏng lên trời ngo ngoe. Hễ chân người dẫm vào, là nó bám riết tìm đường chui vào trong ống quần. Lúc đầu, tôi vừa đi vừa lấy dao gạt vắt khỏi giầy và ống quần, sau thấy mất thời gian quá thì thây kệ cứ đi, không thèm để ý. Cuốc bộ chừng dăm bảy trăm mét, ngồi nghỉ, mới tiện tay gạt lũ vắt khỏi giày tất, rồi tháo giày kiểm tra một lượt, truy tìm bọn vắt đang say mê hút máu ra khỏi chân.

"Tường thành đá" - nơi chứa hóa thạch "quái vật biển" 230 triệu năm tuổi. 

Chúng tôi trèo qua những sườn núi tai mèo sắc nhọn, lội qua những thung sâu ngập nước mùa mưa đến quá trưa thì một “tường thành đá” hiện ra giữa rậm rạm cây cối. Một bức tường đá thẳng đứng, kéo dài tít tắp và cao ngang với một tòa nhà 10 tầng. Bức tường đá tự nhiên phẳng lì lên màu đen bóng. Nhìn bức tường đá tự nhiên này, tôi chợt nhớ đến “thành đá Tà Cơn” trong rừng già Vĩnh Thạnh (Bình Định). “Thành đá” này nếu không phải do tạo hóa vô tình làm ra, thì chỉ có thể là “siêu nhân” mới tạo ra được.
Anh Hiến bảo nghỉ chân dưới “thành đá”, rồi nói: “Đề nghị nhà báo vận dụng khả năng hiểu biết của mình về lĩnh vực địa chất để tìm hiểu xem ngọn núi này có gì đặc biệt không?”. Thấy anh Hiếu đề nghị thế, tôi nghĩ có chuyện gì thú vị, nên lần mò dưới chân “tường thành đá” đen bóng này để tìm hiểu.
Tôi khá bất ngờ khi phát hiện ra nhiều biểu hiện của hóa thạch quanh ngọn núi này. Những khối đá đen bóng giống như mới nhô lên từ lòng đất. Trên bề mặt của những khối đá đó ẩn hiện những hình thù của những thân cây. Để ý kỹ, tôi mới phát hiện ra, khu vực này là một quần thể hóa thạch thân cây. Những thân cây to chừng vài người ôm đã hóa đá từ hàng trăm triệu năm trước vẫn hiện rõ những u mấu, những thăn thớ trông như thớ gỗ.

Tác giả và anh Lương Khắc Hiến bên khối đá chứa hóa thạch Bò sát răng phiến. 

Tôi trình bày phát hiện của mình về một quần thể hóa thạch cây cối, anh Lương Khắc Hiến cười tủm tỉm dặn tôi dò xét kỹ trên vách đá xem phát hiện được gì. Tôi bập tay vào những u mấu trèo lên các vách đá để xem xét tỉ mẩn. Khi trèo đến độ cao 4 mét của một vách đá thấp, nằm dưới chân “bức tường đá” cao vòi vọi, tôi sững sờ khi thấy những mấu đá trồi ra, trông rõ ràng như những khúc xương sống xếp theo một hàng dài ngoằng. Thì ra, đây chính là hóa thạch của loài bò sát 230 triệu năm tuổi mà Ban Lãnh đạo Vườn Quốc gia Cúc Phương giấu kín chục năm nay. Thì ra, đây là thứ mà cả chục năm nay, chỉ số ít các nhà khoa học nổi tiếng được tận mắt chiêm ngưỡng, nghiên cứu.
Qua ánh sáng lờ nhờ yếu ớt lọt qua những kẽ lá của khu rừng rậm, tôi quan sát kỹ lưỡng bộ xương hóa thạch được cho là độc nhất vô nhị ở vùng Đông Nam Á rộng lớn này. Một dãy đốt sống gồm 12 đốt nguyên vẹn, rõ ràng, lồi ra khỏi mặt phẳng phiến đá như được một nghệ sĩ tài hoa đẽo tạc. Những đốt sống hình trụ, thót giữa, mặt lõm sâu chẳng khác gì đốt sống của các loài thú lớn ngày nay.

Hóa thạch như một tác phẩm điêu khắc trên vách đá phẳng. 

Thứ Ba, 3 tháng 8, 2010

Bí ẩn hai thanh kiếm cổ

Hai người dân ở Lục Yên, Yên Bái tìm thấy hai thanh kiếm cổ. Một tìm thấy trong hang trên núi Chuông. Một tìm thấy ở dòng suối trên núi Lung Chạng. Từ ngày tìm thấy hai thanh kiếm ấy, hai người này gặp phải nhiều chuyện bí ẩn chưa thể giải thích nổi. 

Kiếm người âm hại người dương

Một cán bộ xã Tân Lĩnh dẫn tôi đến gia đình bà Nguyễn Thị Hoa. Bà Hoa cho biết: Vào năm 2004 chồng bà là Đỗ Văn Ngự đã tìm thấy thanh kiếm cổ trong hang đá trên núi Chuông. Ông Hoàng Ngọc Chấn, chủ tịch UBND xã Tân Lĩnh cho hay: Dưới chân núi Chuông có làng Chuông, tên này không biết các cụ đặt từ bao giờ. Làng Chuông có 3 thôn: Hin Chạng, Roong Chuông và Chuông ính.

Bà Nguyễn Thị Hoa, vợ ông Ngự tâm sự: Tôi chưa được tận mắt nhìn thấy thanh kiếm cổ mà ông nhà tôi tìm  thấy trong hang đá trên núi Chuông, chỉ được nghe ông ấy kể lại: Hôm ấy một mình ông vào trong hang đá, vì nghe mọi người nói trong hang đá người xưa để rất nhiều đồ thờ cúng. Ông ấy vào trong hang đá để tìm các đồ cổ bán kiếm tiền. 
d
Núi Chuông - nơi ông Đỗ Văn Ngự đã tìm thấy thanh kiếm cổ trong hang đá.
Hang đá nằm trên lưng chừng núi và rất sâu, trên làn đá cao thấy nhiều đồ cúng như bát đĩa, bình hương... ông ấy chỉ lấy mỗi thanh kiếm mang về. Vốn nhát gan nên không dám mang về nhà mà đưa cho hai người tên là Hải và Hoà cất giữ. Tôi cũng chả biết hai người bán được bao nhiêu, nghe nói có cho ông Ngự nhà tôi mấy chục ngàn.

Từ sau khi nhặt được thanh kiếm đó, tiền chẳng thấy đâu còn gia đình tôi thì gặp bao nhiêu là chuyện chẳng lành: Trâu đang buộc trong chuồng tự nhiên sùi bọt mép lăn  đùng ra chết, lợn gà chết dịch không còn một mống. Ông nhà tôi thì đổ đốn ham mê cờ bạc, rượu chè. Tìm được thanh kiếm năm trước thì năm sau ông ấy bị ngã bệnh mất. Bệnh viện bảo ông ấy chết vì bệnh phổi.
Đứa con gái lớn nhà tôi đang yên đang lành thì bị một thằng đàn ông đã có hai con lừa làm vợ. Lại còn lừa vào tận trong Nam, nuôi con nó công cốc, còn mình thì chẳng sinh nở gì. Năm rồi nó bỏ ra đây rồi xin vào làm trong Công ty Hùng Đại Dương. Vào đó làm một thời gian rồi "xin xỏ" mãi mới kiếm được thằng cháu trai này bác ạ. Khổ quá, chả biết nói thế nào cho hết được nỗi khổ. 

Thứ Năm, 17 tháng 6, 2010

Những kho báu giá trị của thế giới bị thất lạc

Bảo vật ngàn đời của dân tộc Do Thái, của cải châu báu của thành cổ Lima, những đồ tuỳ táng của các vị vua Pharaoh, nơi chôn giấu tiền vàng của tướng cướp Râu Đen… tất cả những kho báu  này đều có thật nhưng đều bị thất lạc trong quá khứ và cho tới nay chúng vẫn thu hút sự chú ý của hàng nghìn đoàn thám hiểm truy tìm báu vật trên khắp thế giới.

Phòng Hổ Phách của Piốt Đại Đế
Phòng Hổ Phách (The Amber Room) của Sa hoàng Nga được sử sách mô tả là kỳ quan nhân tạo đứng thứ 8 trong danh sách những công trình nghệ thuật kiệt tác của nhân loại.

Phòng Hổ Phách “nhái” được xây dựng lại và trưng bày trong điện Catherine ở Nga. 

Sở dĩ nó có tên gọi là Phòng Hổ Phách vì toàn bộ đồ đạc, vật dụng trang trí trong căn phòng có diện tích rộng gần 4 mét vuông này được chế tác toàn bằng vàng bạc, châu báu. Khi thắp nến để chiếu sáng, cả căn phòng bỗng trở lên vàng rực như đang đứng  trong một khối hổ phách khổng lồ.

Không chỉ có vậy, trong căn phòng đặc biệt này còn có rất nhiều những tác phẩm nghệ thuật quý giá nhất thời bấy giờ của người Phổ (Prussia) và người Nga. Phòng Hổ Phách đầu tiên được thiết kế dành riêng cho vua Phổ Friedrich I, sau đó báu vật này được chuyển giao cho Sa hoàng Nga Piốt Đại Đế (Peter the Great) vào năm 1716.
Phòng Hổ Phách của Piốt Đại Đế được bố trí tại Cung điện Catherine gần thành phố Saint Petersburg. Trị giá của căn phòng này nếu tính theo đơn giá hiện tại ít nhất cũng tương đương 142 triệu USD chưa kể giá trị lịch sử của nó.

Đầu năm 1940, khi trùm Phát xít Adolf Hitler lê cỗ máy chiến tranh xâm lược lãnh thổ Nga, người Nga đã cố gắng bảo vệ căn phòng đặc biệt này bằng cách cố gắng di chuyển mọi đồ đạc của căn phòng đi chỗ khác nhưng không thành công vì lúc này dưới tác động của biến cố chiến tranh toà cung điện Catherine bắt đầu có hiện tượng đổ vỡ. Chính vì vậy người ta đã cố gắng bí mật bảo vệ nó bằng cách trang trí lại căn phòng bằng giấy dán tường.

Thứ Hai, 17 tháng 5, 2010

Tiết lộ đầu tiên về TP 8.000 tuổi, cổ nhất phương Đông

VTC News) - Các nhà khảo cổ của Viện Đông phương học thuộc Đại học Chicago và các đồng nghiệp người Syria đã công bố những kết quả nghiên cứu đầu tiên về một trong những thành phố cổ nhất vùng Cận Đông. Khu dân cư rộng lớn có niên đại cách đây 8.000 năm nằm trải dài trên hai bờ sông Balih và cách Racca ngày nay không xa này đã khiến các nhà khoa học ngạc nhiên về trình độ phát triển văn hóa rất cao.

Các nhà khoa học khai quật thành phố 8.000 năm. 

Trên đồi Tell-Zeidan ở miền Nam Xyri đang diễn ra những cuộc khai quật đầu tiên, theo các nhà khoa học thì đây là “thành phố đầu tiên” của vùng Cận Đông. Những món đồ tạo tác khai quật được đã cho phép các chuyên gia hình dung được quy mô ấn tượng của nền văn hóa Ubaid tồn tại ở đây từ 6.000 đến 4.000 năm trước Công nguyên.

Một điều hoàn toàn có thể là vào thời gian này, tại Tell-Zeidan đã bắt đầu hình thành một xã hội có giai cấp thực sự đầu tiên tại vùng Cận Đông, bởi các con dấu bằng đá khai quật được nói lên điều này (những con dấu này có kích thước 3,8x5cm khắc hình con hươu). Giới quý tộc thời đó đã dùng chúng để đánh dấu thể hiện sự sở hữu của mình. Con dấu tương tự cũng đã từng được tìm thấy cách đó 300km về phía Đông.

Bình gốm 8.000 tuổi.  

Những món đồ khảo cổ mà các nhà khoa học khai quật được đã chứng minh rằng, đây là một trung tâm thương mại - công nghiệp lớn với nghề đúc đồng và sản xuất đồ gốm phát triển.

Giới khoa học xôn xao vì hạt thóc 3.000 tuổi nảy mầm

Trong lúc khai quật tại Thành Dền (huyện Mê Linh, Hà Nội), đoàn khai quật đã tìm thấy rất nhiều hạt thóc và gạo cháy xém ở tầng đất có niên đại 3.000 năm. 10 hạt nảy mầm khi ngâm trong nước bảo quản.
Thông tin trên được Phó giáo sư – Tiến sĩ Lâm Thị Mỹ Dung – Chủ nhiệm Bộ môn Khảo cổ học (Khoa Lịch sử, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội) khẳng định. Theo Tiến sĩ Dung, hơn một tháng trước, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn kết hợp với Bảo tàng Hà Nội đã tiến hành khai quật tại địa điểm khảo cổ Thành Dền trên diện tích 300 m2. Trong quá trình khai quật đã xuất lộ nhiều vết tích bếp cổ (hố rác bếp).
Đầu tháng 5, đoàn khai quật đã tìm thấy những hạt thóc và gạo cháy sém tại 4 hố rác bếp, tất cả đều nằm trong một mặt bằng lớp 8, sâu gần 1 mét so với mặt đất. Đất ở lớp này có nước rỉ ra, xung quanh có rất nhiều than tro cùng các tàn tích thức ăn như xương cá, vỏ ốc…
Những hạt thóc nảy mầm được khai quật từ tầng đất có niên đại 3.000 năm.
Theo bà Dung, sự phát hiện những hạt thóc và hạt cơm cháy sém không phải là đặc biệt, nhưng điều làm bà và các cộng sự hết sức ngỡ ngàng là sau khi ngâm trong nước để bảo quản khoảng 2 ngày thì có tới 10 hạt thóc đã nảy mầm, đâm lá.

Thứ Ba, 9 tháng 3, 2010

Tượng phật nào cổ nhất Việt Nam?

Xuất hiện tại Pháp vào năm 2005 trong một triển lãm cổ vật Đông Nam Á và được phía Pháp mua bảo hiểm với giá 5 triệu USD, tượng Phật Đồng Dương trở thành một trong những bức tượng giá trị nhất của cổ vật Việt Nam. Hiện, bức tượng Phật Đồng Dương này đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (TP HCM) để công chúng chiêm ngưỡng...
Một ngày đầu tháng 2/2010, ngoài việc được chiêm ngưỡng bức tượng Phật hiếm có, tôi còn được Tiến sĩ (TS) Bá Trung Phụ, Trưởng phòng Trưng bày Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - TP HCM cho biết rất nhiều thông tin thú vị về bức tượng bằng đồng có một không hai này.
Pho tượng Phật Đồng Dương được phát hiện tại khu vực Đồng Dương (Quảng Nam), tượng Phật Thích Ca Mâu Ni cao 1m22, pho tượng có niên đại thế kỷ thứ III, được xác định là tượng Phật của người Chăm Pa cổ, tượng tạc theo tư thế đứng đang thuyết pháp. Tượng Phật được các nghệ nhân khắc họa với khuôn mặt phúc hậu, đôi mắt sáng đang nhìn vào cõi xa xăm, muốn giải thoát con người khỏi dục vọng trần thế, với một tay tư thế chuyển pháp luân trong dáng điệu bắt ấn, một tay cầm cà sa phủ kín một vai, đôi chân đứng trên bệ sen.
Theo TS Bá Trung Phụ: Phật giáo du nhập vào Chăm Pa từ những năm trước Công nguyên qua con đường thương mại, đầu tiên phải nói đến người Ấn Độ. Vào những thế kỷ trước và sau Công nguyên, các thương gia Ấn Độ vượt biển sang buôn bán ở các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Chăm Pa. Đứng trước một khu vực giàu có về vàng, trầm hương và các hương liệu khác đã hấp dẫn các tàu buôn và thương nhân Ấn Độ.

Tiến sĩ Bá Trung Phụ và bức tượng Phật Đồng Dương.
Ngoài việc buôn bán trao đổi sản phẩm, còn có việc truyền đạo  qua các tăng lữ Bà La Môn và các phật tử, thầy tu. Qua các di tích khảo cổ và các bia ký, vào khoảng giữa đầu Công nguyên, chắc chắn đã có cuộc giao lưu văn hóa thương mại giữa người Ấn Độ và cư dân Chăm Pa.