Trung tuần tháng Tư năm 1993, nhằm mùa Pimay Lao ( Tết Lào ) tôi về lại Lào nhân chuyến công tác thiện nguyện cho Hội Học Đường Không Biên Giới ( Ecoles Sans Frontière ) và đã được nhìn tận mắt một cảnh lạ tại Ban That, cách Savannakhet 15 cây số, nơi tọa lạc tháp IngHang nổi tiếng, trong đó, theo truyền thuyết có lưu giữ xá lợi của Đức Phật là một sợi tóc. Cảnh lạ đó là một gốc dứa ( thơm / khóm ) lại kết được những hăm mốt ( 21) trái ! Con rể chủ vườn là người Việt, em trai của một người bạn cũ nay đã qua đời. Lần thứ nhất tôi theo gia đình ra xem, chùm dứa 21 trái, mỗi trái to cở nắm tay người lớn. Thâm tâm tôi thắc mắc nhưng chưa dám mạo muội kiểm chứng. Khách viếng tấp nập. Mỗi đầu người vào xem phải cúng dàng 100 Kịp ( tiền Lào ) để góp phần vào việc tu bổ các chùa trong vùng. Truyền hình Lào có đến thu hình và cho phổ biến khắp nước. Một tuần sau tôi ra xem lại, đi cùng cô bạn học cũ tên L. từ HongKong về thăm nhà, 21 trái dứa đã to hơn chút đỉnh và đã được chủ vườn làm hai vòng hàng rào bao quanh, lại có thêm hương hoa nhang khói nghi ngút, người Lào gọi là Bu-Sa.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2012
Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2012
Cuộc đấu phép giữa Ma Lai và thầy phù thủy
Theo lẽ còn một số thiên sứ mang hình ảnh Ấn Phật mà người Lào rất sùng kính như Phra In ( Thượng Đế ), Phí Thén, Phí Phrả ( Trời ), Nang Thorani ( nữ thần đất ), Thén Tẻng hay Pissanoukan ( thần mỹ thuật ), Thén Lổ ( thần chủ trì việc hợp nhất và tổ chức nhân quần ) v.v... và có thể lạm bàn liên miên về vô số Phí thuần Lào khác trên đất Lào như Phí Đôồng ( ma đồng ), Phí Pà ( ma rừng ), Phí phửm ( ma núi ), Phí Pủ tà ( tổ tiên, ông bà ), Phí Phò ( cha ), Phí Mè ( mẹ ) ... song thiển nghĩ như trên cũng tạm đủ để hiểu sơ về Phí, nhất là tạm đủ để hình dung tiềm năng tưởng tượng dồi dào của người Lào trong quá trình tạo ra thế giới Phí của riêng họ, trên đất nước họ, trong cuộc sống và lẽ sống của chính họ mà xét ra còn thật hơn thế giới - nghe nói và chỉ mới nghe nói sẽ đồ sộ huy hoàng - mà một nhúm người đã và đang tàn tâm, tàn lực mộng mơ. Dân số Lào quá ít lại quá đôn hậu để có thể thử thách lâu hơn nữa trong việc tạo dựng thế giới đồ sộ huy hoàng viễn mơ nầy. Cũng như ở hải ngoại, chuyện bán đất trên trời trong cộng đồng tị nạn đã đi trước cơ quan NASA của Hoa Kỳ những hai, ba mươi năm nay. Đa số rao giá cả là tùy hỉ, tùy tâm. Bán đất trên trời để ganh đua phóng lao tạo dựng những cơ ngơi nghênh ngang dưới đất vốn chính họ cho là cõi ta bà cát bụi, huyễn mộng, hư không ... :
Thứ Tư, 17 tháng 10, 2012
Ma quỉ trên đất Lào
Tác giả Hàn Lệ Nhân
Khi bạn hỏi một người Lào : " Ma là gì, có thật hay không ( Phí mèn nhắng, mi thẻ lứ bò ? " . Họ sẽ thành thật trả lời : " Cũng không biết nữa ( kà bò chắc léo ) hay chằng-và là nơ ( thì thế ). Câu trà lời thứ nhì có ngụ ý Có và Không, tức bạn muốn hiểu sao thì hiểu hay nếu muốn, tùy hoàn cảnh để mà hiểu. Khi bạn hỏi họ đã từng thấy ma ( phí ) chưa mà họ có vẻ hốt hoảng trả lời bạn bằng mấy tiếng " hoày ( oái ) " hay " dzồ ( ồ ) " thì bạn nên tế nhị, lịch sự ngừng ngay việc đặt câu hỏi. Mấy tiếng " hoày ", " dzồ " là một cách biểu lộ sự … kh'lăm của họ !
Họ không thể hoặc không muốn giải thích cho bạn nhưng tựu trung Phí đối với họ là tất cả hay không là gì hết ; hoặc bất cứ một đồ vật, một hình tướng nào cũng có thể tiềm ẩn một linh hồn, một loại Phí với một tên gọi riêng biệt :
Nhận Diện Các Phí
1. Phí Koong Koi (Ma Koong Koi)
Phí Koong Koi : Ma cô độc, ma rừng núi … thích ăn ruột, gan, lòng thú và … người sống.
Khi bạn hỏi một người Lào : " Ma là gì, có thật hay không ( Phí mèn nhắng, mi thẻ lứ bò ? " . Họ sẽ thành thật trả lời : " Cũng không biết nữa ( kà bò chắc léo ) hay chằng-và là nơ ( thì thế ). Câu trà lời thứ nhì có ngụ ý Có và Không, tức bạn muốn hiểu sao thì hiểu hay nếu muốn, tùy hoàn cảnh để mà hiểu. Khi bạn hỏi họ đã từng thấy ma ( phí ) chưa mà họ có vẻ hốt hoảng trả lời bạn bằng mấy tiếng " hoày ( oái ) " hay " dzồ ( ồ ) " thì bạn nên tế nhị, lịch sự ngừng ngay việc đặt câu hỏi. Mấy tiếng " hoày ", " dzồ " là một cách biểu lộ sự … kh'lăm của họ !
Họ không thể hoặc không muốn giải thích cho bạn nhưng tựu trung Phí đối với họ là tất cả hay không là gì hết ; hoặc bất cứ một đồ vật, một hình tướng nào cũng có thể tiềm ẩn một linh hồn, một loại Phí với một tên gọi riêng biệt :
Nhận Diện Các Phí
1. Phí Koong Koi (Ma Koong Koi)
Phí Koong Koi : Ma cô độc, ma rừng núi … thích ăn ruột, gan, lòng thú và … người sống.
Thứ Hai, 15 tháng 10, 2012
Những kiêng kỵ trên đất Lào
Tác giả Hàn Lệ Nhân
Mỗi người sống lâu năm trên đất Lào dù muốn dù không đều giấu trong tâm linh cùng lúc hai hai niềm tin. Một niềm tin có định nghĩa thoát tục, xa vời : Tôn giáo. Một niềm tin với định nghĩa trần thế, hiện tiền : Dị đoan, mê tín hay tín ngưỡng dân gian. Trên lý thuyết hai niềm tin nầy đã được phân ranh rõ ràng, với hai nội dung, hai hình thức và hai cứu cánh khác nhau. Qua dị đoan, mê tín người Lào cầu tìm hạnh phúc và sức khoẻ, sự an toàn và sự bảo bọc trước mắt và tức khắc cho mỗi cá nhân và cho cộng đồng ; còn qua tôn giáo ( Phật giáo tiểu thừa nói riêng ), ngoài cứu cánh nói trên, họ cầu một giải pháp tạm thời cho các hệ lụy tâm linh trong đời sống hiện tại tức hiện sinh hay hư sinh đồng thời dự phóng một sinh lộ siêu thời gian, ngoài kiếp người tức siêu sinh hay niết bàn. Trên thực tế tại đất nước Lào, hai niềm tin nầy sinh hoạt bổ túc hài hoà, cởi mở tự nhiên trong tâm linh 6 triệu con người, đến nổi chính họ, trong đời sống hàng ngày hay trong các dịp lễ lạc, hầu như không còn băn khoăn bóc tách giữa niềm tin tôn giáo ( thứ Phụt = thờ Phật ) hay niềm tin dị đoan ( thứ Phí = thờ Ma ). Có thể khẳng định mà không sợ lầm lẫn rằng hai niềm tin nầy trên đất Lào có một mối tương quan kỳ lạ tạo nên một cấu trúc tín ngưỡng đặc thù cho đại thể dân tộc Lào (1). Các dịp lễ có tính cách dị đoan như Bun Bang Phay ( Hội pháo thăng thiên, lễ cầu mưa ), Bun Suồng Hưa ( Hội nước, lễ đua thuyền ) …
Mỗi người sống lâu năm trên đất Lào dù muốn dù không đều giấu trong tâm linh cùng lúc hai hai niềm tin. Một niềm tin có định nghĩa thoát tục, xa vời : Tôn giáo. Một niềm tin với định nghĩa trần thế, hiện tiền : Dị đoan, mê tín hay tín ngưỡng dân gian. Trên lý thuyết hai niềm tin nầy đã được phân ranh rõ ràng, với hai nội dung, hai hình thức và hai cứu cánh khác nhau. Qua dị đoan, mê tín người Lào cầu tìm hạnh phúc và sức khoẻ, sự an toàn và sự bảo bọc trước mắt và tức khắc cho mỗi cá nhân và cho cộng đồng ; còn qua tôn giáo ( Phật giáo tiểu thừa nói riêng ), ngoài cứu cánh nói trên, họ cầu một giải pháp tạm thời cho các hệ lụy tâm linh trong đời sống hiện tại tức hiện sinh hay hư sinh đồng thời dự phóng một sinh lộ siêu thời gian, ngoài kiếp người tức siêu sinh hay niết bàn. Trên thực tế tại đất nước Lào, hai niềm tin nầy sinh hoạt bổ túc hài hoà, cởi mở tự nhiên trong tâm linh 6 triệu con người, đến nổi chính họ, trong đời sống hàng ngày hay trong các dịp lễ lạc, hầu như không còn băn khoăn bóc tách giữa niềm tin tôn giáo ( thứ Phụt = thờ Phật ) hay niềm tin dị đoan ( thứ Phí = thờ Ma ). Có thể khẳng định mà không sợ lầm lẫn rằng hai niềm tin nầy trên đất Lào có một mối tương quan kỳ lạ tạo nên một cấu trúc tín ngưỡng đặc thù cho đại thể dân tộc Lào (1). Các dịp lễ có tính cách dị đoan như Bun Bang Phay ( Hội pháo thăng thiên, lễ cầu mưa ), Bun Suồng Hưa ( Hội nước, lễ đua thuyền ) …
Thứ Năm, 28 tháng 10, 2010
Chuyện về một ngôi mộ cổ
(LĐ) - Một lần về Gò Công dự lễ giỗ Anh hùng dân tộc - Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định, tôi đã thử tìm hiểu, ngoài các tượng đài, khu lưu niệm của vị anh hùng, trên vùng đất này còn lưu lại di tích nào khác về con người dám cãi mệnh triều đình, ở lại lãnh đạo nhân dân chống ngoại xâm.
Thật thú vị là ở Gò Công còn lưu một số di tích có liên quan đến Anh hùng Trương Định, mà ngôi mộ cổ sau đây là một thí dụ.
| Phần trên ngôi mộ. Ảnh: K.Q |
Mộ bà bên ngôi cổ tự
Từ thị xã Gò Công đi về hướng biển Tân Thành khoảng 5 cây số là đến ấp Hòa Bình – xã Bình Nghị – huyện Gò Công Đông (Tiền Giang). Quẹo vào con đường nhỏ gần 1 cây số là đến ngôi chùa cổ có tên Long Thiền. Ngôi chùa khá đồ sộ, nằm giữa vườn cây um tùm. Theo sư trụ trì ngôi chùa, ngôi cổ tự này có từ giữa thế kỷ thứ 19, lúc đó quy mô khiêm tốn. Đến thời kháng chiến chống Pháp, ngôi chùa bị hư hỏng nặng, phật tử gần xa đã góp công, góp của xây dựng lại như ngày hôm nay.
Giống như bao ngôi chùa khác, trong khuôn viên nhà chùa có một số ngôi mộ của các vị sư từng trụ trì ngôi chùa. Trong đó có một ngôi mộ rất đẹp, cao to như một quả đồi nhỏ, làm bằng đá xanh, người dân trong vùng quen gọi là “mộ bà”. Hàng năm, vào tháng sau tết, bà con trong vùng đến viếng chùa và viếng mộ bà thật đông.
Những dòng chữ khắc trên bia mộ cho chúng ta biết chủ nhân của nó tên là Dương Thị Hương, pháp danh Thanh Đăng, tự Diệu Quang, sinh năm 1844 (năm Giáp Thìn), mất năm 1933, thọ 90 tuổi. Bà là con gái của bà Trần Thị Sanh, người đã hiến cúng khu đất này để xây chùa. Bà Trần Thị Sanh là vợ thứ của Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định. Chỉ bấy nhiêu đó thôi chưa đủ để bà Hương, nghĩa nữ của Anh hùng Trương Định, có ngôi mộ đẹp và được người dân trong vùng tưởng nhớ đến ngày nay. Bà được tôn vinh là có nguyên do khác, gắn với việc bảo vệ thanh danh của Anh hùng dân tộc Trương Định.
Thứ Hai, 18 tháng 10, 2010
"Giải mã" cách đặt tên phố ở thủ đô
Trong hoạt động quy hoạch và quản lý đô thị, đặt tên đường chưa bao giờ là việc nhỏ. Nhiều thành phố trên thế giới có những “chính sách” riêng trong việc này. Ví dụ, ở Brisbane (Queensland, Úc), các con phố ở khu trung tâm được đặt tên theo các nhà vua và nữ hoàng Anh. Các phố tên vua song song với nhau và cắt các phố tên nữ hoàng (cũng song song với nhau).
Tại các thành phố lớn ở Mỹ, đường xá nói chung được đặt theo tên con số, quang cảnh, cây cối, chẳng hạn Oakhill (Đồi Sồi) là tên kết hợp giữa “đồi” và “cây sồi”. Lấy tên danh nhân vật đặt cho đường cũng là một truyền thống ở nhiều nơi trên thế giới: đại lộ Wilson ở Brooklyn (New York), phố Enrico Fermi ở Rome, đại lộ Victor Hugo ở Paris v.v. Hoặc dựa theo một nghề kinh doanh đã từng phổ biến ở con đường đó: phố Haymarket (như kiểu Hàng Cỏ của ta), phố Millstone (cối xay gió) ở London… (nguồn: Wikipedia)
Ở Hà Nội, việc đặt tên phố phường theo tên các anh hùng, danh nhân là cách làm phổ biến nhất. Song, đáng chú ý là các tên tuổi không bị xếp lộn xộn mà theo một trật tự rõ ràng. Quy tắc ấy như thế này: Phố phường Hà Nội (phần chưa mở rộng) được đặt theo từng cụm, mỗi cụm tương ứng với một thời, một triều đại nhất định trong lịch sử.
Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2010
GIA PHẢ VÀ ĐẠO LÝ UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN
GIA PHẢ - NGUỒN CẢM XÚC DẠT DÀO VỀ ĐẠO LÝ UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒNMai Xuân Hải
Hai tiếng "Gia phả" đối với người Việt Nam ta xưa nay thật vô cùng thiêng liêng. Bởi gia phả chính là bộ sử sống của gia đình, của dòng họ, mà ở đó tổ tiên, ông bà các đời của chúng ta, những người liên tục truyền nối từ thuở vô thủy tới nay đã mang đến cho ta mạng sống, cho ta được làm người đã hiện lên rõ rệt...
Xưa kia, bất kể dòng họ lớn nhỏ nào cũng thường có gia phả. Dòng họ nhỏ đôi khi chỉ vào mươi trang ghi chép vắn tắt họ, tên, ngày giỗ, phần mộ của các cụ. Dòng họ lớn thì gia phả viết rất quy củ, có phép tắc, có đủ lời tựa, lời dẫn, phàm lệ, đủ cả phần chính phả, ngoại phả. Ngoài việc ghi chép họ tên, thụy hiệu, ngày sinh ngày mất, phần mộ, chức tước, hành trạng, công lao lúc sống của các cụ, gia phả còn ghi chép cả thơ văn, bi ký, hoành phi, câu đối, văn khấn, nghi thức cúng giỗ, điều lệ dòng họ, về việc xây dựng từ đường, ruộng họ, cùng các đạo sắc phong, chế cáo ban tặng của nhà vua. Phần nhiều là gia phả viết tay, đôi khi những dòng họ có điều kiện kinh tế và có ý thức cao, gia phả còn được khắc in.
Nhưng dù dài ngắn mặc lòng, gia phả vẫn là những bộ sử riêng của gia đình, dòng họ viết về những bậc tiền bối với tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, “phục bản phản thủy”, “thận chung truy viễn”, nên nó thường tràn đầy một tình cảm thiêng liêng, một trách nhiệm, một bổn phận cao cả đối với các lớp tiền bối và cả các lớp con cháu sau này, một thái độ thành kính, biết ơn công lao sinh thành, gây dựng, vun đắp của tổ tiên, nên có sức lôi cuốn, có sức cảm hóa mạnh mẽ các lớp cháu con.
Đọc gia phả chúng ta sẽ thu hoạch được rất nhiều tri thức bổ ích. Chúng ta sẽ hiểu sâu hơn về các mặt sinh hoạt xã hội, phong tục tập quán, những sự kiện lịch sử mà nhiều khi không được ghi chép trong chính sử của triều đình. Rồi còn văn chương, thơ phú, triết lý... Quả thật có những cuốn giả thực sự có tính chất “bách khoa toàn thư” về dòng họ, về xã hội quá khứ. Nhưng trong bài viết này, chúng tôi không đi sâu vào khía cạnh nhận thức của gia phả, chúng tôi chỉ xin trích dịch một vài đoạn văn, một vài mẩu chuyện trong một số cuốn gia phả, nói lên những suy nghĩ và đạo đức, đạo lý làm người của ông cha, thân thiết gần gũi với chúng ta, mà ngày nay, những nét đẹp đạo đức ấy, đã từ lâu được người Việt Nam ta chấp nhận, trở thành đạo đức truyền thống, tâm linh dân tộc, rất giàu cảm xúc uống nước nhớ nguồn, được các gia đình của mọi dòng họ Việt Nam vẫn thường dạy dỗ con cháu, đặng góp vào việc đánh thức những cảm xúc hướng thiện trong chúng ta trong cuộc hành trình trở về cội nguồn đang diễn ra sôi nổi hôm nay.
Thứ Bảy, 2 tháng 10, 2010
Nơi Chiếu dời đô ban xuống
TTCT - Khởi đi từ Hoa Lư, Thiên đô chiếu của vua Lý Công Uẩn đã mở ra một Thăng Long văn hiến, hào hoa nay nghìn năm tuổi.
Trong lòng dân Hoa Lư ở lại vùng đất xưa - nơi vị hoàng đế đầu tiên của nước Việt chọn làm kinh đô, nghìn năm ấy vẫn đọng lại không ít nỗi niềm...
| Đường làng, ngõ xóm ở thôn Tam Kỳ - Ảnh: Hà Châu |
Dân về đám giỗ vua Đinh
Sáng 15-8 âm lịch (22-9-2010), tại khu di tích đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng (xã Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình) diễn ra một “buổi chầu” của rất nhiều đại thần cùng các nữ quan và cung tần. Với mâm lễ gồm xôi, thủ lợn, hương oản, hoa quả... các vị đại thần thành kính dâng lên vua Đinh những sản vật của quê hương, bày tỏ tấc lòng thành của con dân Cồ Việt quốc.
“Năm nào cũng vậy, đến ngày này chúng tôi đều làm giỗ tưởng nhớ ngài - một người con của đất Ninh Bình, cũng để tưởng nhớ đến kinh đô của nước Đại Cồ Việt - một phụ nữ trong vai nữ quan cho biết - Con dân của đất cố đô chưa khi nào nguôi nỗi nhớ về đức tiên hoàng đã có công dẹp loạn 12 sứ quân, xây dựng một kinh đô tráng lệ tại đất Trường Yên này”. Phía trước cổng đền, một công trường rộng lớn ngổn ngang chuẩn bị sân khấu cho nghi lễ rước Chiếu dời đô vào tối 30-9 và sáng 1-10.
Hòa trong đoàn người áo mão chỉnh tề dâng lễ có rất nhiều người dân trong vùng. Anh Nguyễn Văn Lịch, một người buôn bán nhỏ ở thôn Nam, nói: “Tôi xem tivi thì biết ở ngoài kia (Hà Nội) đang tổ chức kỷ niệm 1.000 năm vua Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư đến Thăng Long, còn ở đây hôm nay chúng tôi về giỗ vua Đinh, tưởng nhớ ông, không có ông thì không có Hoa Lư”.
Mâm cúng được dâng tại đền Đinh xong, những người tham dự sang chiêm bái ở đền thờ vua Lê và nhà bia tưởng niệm vua Lý Thái Tổ ở ngay bến sông Sào Khê - nơi vua Lý đã ban Chiếu dời đô rồi bước xuống thuyền rồng ngược dòng Sào Khê đến Hoàng Long, về Thăng Long dựng kinh đô mới.
| Một ngôi nhà có tường rào đá ở thôn Tam Kỳ - Ảnh: Hà Châu |
Cố đô, cầu cổ và chùa cổ
Hình như chưa ai đặt câu chuyện phố cổ tại Trường Yên, nhưng theo những người dân thì sau khi vua Lý đi, dân đã vào thành nội sinh sống. Đại Việt sử ký toàn thư kể lại sau khi vua dời đô ra Đại La thành thì: “Đổi châu Cổ Pháp gọi là phủ Thiên Đức, thành Hoa Lư gọi là phủ Trường Yên”.
Dân tràn vào thành nội sinh sống, nên phủ Trường Yên rất đông đúc từ thế kỷ 11. Xã Trường Yên nay còn các địa danh gắn với kinh thành: thôn Tây, thôn Nam, thôn Đông, thôn Tam Kỳ... Trải qua gần 1.000 năm nhưng may mắn chỉ chịu biến động về thời gian, ít chịu biến động về thiên tai, địch họa nên những nếp nhà xưa, những dòng họ vẫn sống tiếp nối từ đời này qua đời khác.
Dấu tích của người xưa còn lại nơi những cổng đá, bờ rào đá, vỉa hè đá, sân làm bằng đá nguyên khối mà không ai nhớ, không tài liệu nào ghi chép niên đại. Những đường xương cá, phố bàn cờ, những ngôi nhà san sát chứng tỏ sự thịnh vượng của một triều đại với những người dân Việt gốc của các dòng họ Nguyễn, Lê, Trần, Dương, Ngô...
Cột đá Nhất Trụ được Nam Việt Vương Đinh Liễn (con trai trưởng của Đinh Tiên Hoàng) cho làm để chép kinh và được đặt ở nhiều nơi, trong đó có cột đá lớn nhất để tại chùa Nhất Trụ nay vẫn còn. Sư thầy Thích Đàm An, trụ trì chùa Nhất Trụ, cho biết 30 năm trước khi thầy về đây trụ trì thì chiếc hồ lô trên đỉnh cùng đài sen bị vỡ vì những năm chiến tranh trước đó, nhưng chữ khắc trên cột đá Nhất Trụ vẫn còn đọc được (Bảo tàng tỉnh Ninh Bình đã in và dịch bản kinh này).
Từ bấy đến nay, thời gian đã khiến những hàng chữ trên cột bị mờ gần hết. Trong những lần khảo cổ cách đây không lâu, mấy chục cột đá chép kinh đã được tìm thấy ở rải rác những nơi khác trên đất Ninh Bình (hiện đều để trong bảo tàng tỉnh).
Di tích cố đô nay là chốn mưu sinh cho không ít dân Trường Yên, những nông dân xưa chỉ biết làm ruộng, nay vật đổi sao dời, khi 40% diện tích đất nông nghiệp ở đây đã chuyển đổi, họ bắt đầu làm nghề dịch vụ: xe ôm, bán hàng, thậm chí cho thuê trâu để khách du lịch chụp ảnh. Những lái xe ôm như anh Hội thường kiêm luôn hướng dẫn viên chở khách đến các địa điểm khác của khu cố cung, từ chùa Nhất Trụ sang Cầu Đông, Cầu Dền, đền thờ công chúa Phất Kim...
Hôm chúng tôi tới, khu du lịch vắng vẻ, những quả dứa nhỏ xíu của người bán hàng rong héo quắt do “ít khách du lịch nên không có người mua”. Bên cạnh mấy người bán hàng là một con trâu được đeo nơ đỏ trên đầu: “Trâu của vua Đinh đấy, 10.000 đồng/lần chụp ảnh”.
Anh Lịch, một lái xe ôm khác ở thôn Nam, khi chia tay đã nói: “Việc dời đô của vua Lý là hoàn toàn sáng suốt. Vì khi đặt kinh đô ở đây, vua Đinh đã đặt việc binh lên trên, lấy núi làm thành, lấy sông làm hào.
Trải qua mấy chục năm khẳng định chủ quyền, khi vua Lý tiếp nhận vương triều thì ông nhận thấy cần phải phát triển cả văn hóa, kinh tế và chính trị. Nếu vua Lý không dời đô thì sẽ có vua khác dời đô thôi. Nhưng dù nơi đây không còn là kinh đô nữa thì chúng tôi vẫn tự hào vì được sinh ra ở nơi vua đã sinh sống”.
| Dâng cúng vua Đinh xong, dân sang chiêm bái ở đền thờ vua Lê - Ảnh: Hà Châu |
Những cái tên làm nên hồn phố
TTCT - Đằng sau quyết định dời đô 1.000 năm trước của vua Lý Thái Tổ không chỉ là việc chuyển kinh thành từ một nơi chật hẹp, hiểm trở đến chốn “rồng cuộn, hổ ngồi, muôn đời là thắng địa”, mà còn là sự dịch chuyển của rất nhiều con người, số phận, thói quen, cả những địa danh...
| Bia đá Đông Kiều tạc thẳng vào vách Núi Chợ đã bị nhà dân che lấp - Ảnh: Việt Dũng |
Nghìn năm dâu bể qua đi, những tên người, những số phận đã chìm khuất, nhưng những địa danh như Ô Cầu Dền, Cầu Đông, chùa Nhất Trụ (Một Cột)... nay vẫn “tươi thắm”, vẫn thủy chung đứng đó trên đất Hoa Lư cố đô xưa.
Bà già đi chợ Cầu Đông...
Cầu Đông dù không còn bằng đá, nay vẫn bắc qua dòng Sào Khê, sách thời Nguyễn gọi là Long Giang, nhưng tấm bia tạc vào sườn núi đá hai chữ Đông Kiều lại “ẩn cư” cách đó chừng 70m. Anh Nguyễn Văn Khang, một người nghiên cứu lâu năm về Hoa Lư, năn nỉ mãi mới được cho mở cửa một căn nhà quanh năm đóng im ỉm, vòng ra sau nhà, leo lên sân thượng, sững sờ nhìn lên hai chữ Đông Kiều chân phương, rắn rỏi, sắc nét tạc trên vách đá như chưa hề có dấu vết thời gian.
Chủ Nhật, 15 tháng 8, 2010
TƯỢNG LÝ THÁI TỔ Ở VƯỜN HOA CHÍ LINH
Những người học vẽ đều biết bức tranh “Người Vitruvius” (L’homme de Vitruve) của danh họa bậc thầy Léonard de Vinci. Đó là hình một người đàn ông khỏa thân đứng dang chân tay ở hai tư thế trong một hình vuông và một hình tròn lồng nhau, nên một mà thành hai. Tâm của hình tròn là rốn người mẫu. Hai đường chéo của hình vuông là nơi bộ phận sinh dục.
Người mẫu này cho ta các tỷ lệ về cơ thể con người. Đầu bằng 1/8 thân người. Hai tay giơ ngang bằng chiều cao thân người. Từ đỉnh đầu đến núm vú bằng 1/4 thân người. Độ rộng tối đa giữa hai vai cũng bằng 1/4 thân người. Bốn ngón tay bằng một lòng bàn tay. Sáu lòng bàn tay bằng một cánh tay …vv…
Các họa sĩ hay các nhà nặn tượng căn cứ vào đấy mà tạo nên các hình người đúng quy cách, ví như bên âm nhạc có cái công cụ âm thanh diapason (thường gọi âm cữ hay thanh la chuẩn), các nhạc cụ khác phải căn cứ vào thanh la chuẩn của diapason mà điều chỉnh âm thanh cho đúng cung bậc trong một buổi hòa tấu.
Người Vitruvius (L’homme de Vitruve) là mẫu người phương Tây. Cao ráo, cân đối. Ta có thể hình dung đến những vận động viên trong các cuộc thi Olympic của Hy Lạp cổ đại.
Người mẫu này cho ta các tỷ lệ về cơ thể con người. Đầu bằng 1/8 thân người. Hai tay giơ ngang bằng chiều cao thân người. Từ đỉnh đầu đến núm vú bằng 1/4 thân người. Độ rộng tối đa giữa hai vai cũng bằng 1/4 thân người. Bốn ngón tay bằng một lòng bàn tay. Sáu lòng bàn tay bằng một cánh tay …vv…
Các họa sĩ hay các nhà nặn tượng căn cứ vào đấy mà tạo nên các hình người đúng quy cách, ví như bên âm nhạc có cái công cụ âm thanh diapason (thường gọi âm cữ hay thanh la chuẩn), các nhạc cụ khác phải căn cứ vào thanh la chuẩn của diapason mà điều chỉnh âm thanh cho đúng cung bậc trong một buổi hòa tấu.
Người Vitruvius (L’homme de Vitruve) là mẫu người phương Tây. Cao ráo, cân đối. Ta có thể hình dung đến những vận động viên trong các cuộc thi Olympic của Hy Lạp cổ đại.
Còn người Việt chúng ta, theo học giả Nguyễn Văn Huyên, trong tập chuyên khảo “Văn minh Việt Nam” (La Civilisation annamite) bảo vệ luận án tiến sĩ Đại học Sorbonne Paris trước 1945, chương Một viết về Chủng tộc Việt, có những nhận xét như sau:
Thứ Hai, 5 tháng 7, 2010
Chữ tượng hình Trung Quốc
Thứ Hai, 17 tháng 5, 2010
Tiết lộ đầu tiên về TP 8.000 tuổi, cổ nhất phương Đông
VTC News) - Các nhà khảo cổ của Viện Đông phương học thuộc Đại học Chicago và các đồng nghiệp người Syria đã công bố những kết quả nghiên cứu đầu tiên về một trong những thành phố cổ nhất vùng Cận Đông. Khu dân cư rộng lớn có niên đại cách đây 8.000 năm nằm trải dài trên hai bờ sông Balih và cách Racca ngày nay không xa này đã khiến các nhà khoa học ngạc nhiên về trình độ phát triển văn hóa rất cao.
Trên đồi Tell-Zeidan ở miền Nam Xyri đang diễn ra những cuộc khai quật đầu tiên, theo các nhà khoa học thì đây là “thành phố đầu tiên” của vùng Cận Đông. Những món đồ tạo tác khai quật được đã cho phép các chuyên gia hình dung được quy mô ấn tượng của nền văn hóa Ubaid tồn tại ở đây từ 6.000 đến 4.000 năm trước Công nguyên.
Một điều hoàn toàn có thể là vào thời gian này, tại Tell-Zeidan đã bắt đầu hình thành một xã hội có giai cấp thực sự đầu tiên tại vùng Cận Đông, bởi các con dấu bằng đá khai quật được nói lên điều này (những con dấu này có kích thước 3,8x5cm khắc hình con hươu). Giới quý tộc thời đó đã dùng chúng để đánh dấu thể hiện sự sở hữu của mình. Con dấu tương tự cũng đã từng được tìm thấy cách đó 300km về phía Đông.
Những món đồ khảo cổ mà các nhà khoa học khai quật được đã chứng minh rằng, đây là một trung tâm thương mại - công nghiệp lớn với nghề đúc đồng và sản xuất đồ gốm phát triển.
| Các nhà khoa học khai quật thành phố 8.000 năm. |
Trên đồi Tell-Zeidan ở miền Nam Xyri đang diễn ra những cuộc khai quật đầu tiên, theo các nhà khoa học thì đây là “thành phố đầu tiên” của vùng Cận Đông. Những món đồ tạo tác khai quật được đã cho phép các chuyên gia hình dung được quy mô ấn tượng của nền văn hóa Ubaid tồn tại ở đây từ 6.000 đến 4.000 năm trước Công nguyên.
Một điều hoàn toàn có thể là vào thời gian này, tại Tell-Zeidan đã bắt đầu hình thành một xã hội có giai cấp thực sự đầu tiên tại vùng Cận Đông, bởi các con dấu bằng đá khai quật được nói lên điều này (những con dấu này có kích thước 3,8x5cm khắc hình con hươu). Giới quý tộc thời đó đã dùng chúng để đánh dấu thể hiện sự sở hữu của mình. Con dấu tương tự cũng đã từng được tìm thấy cách đó 300km về phía Đông.
| Bình gốm 8.000 tuổi. |
Những món đồ khảo cổ mà các nhà khoa học khai quật được đã chứng minh rằng, đây là một trung tâm thương mại - công nghiệp lớn với nghề đúc đồng và sản xuất đồ gốm phát triển.
Giới khoa học xôn xao vì hạt thóc 3.000 tuổi nảy mầm
Trong lúc khai quật tại Thành Dền (huyện Mê Linh, Hà Nội), đoàn khai quật đã tìm thấy rất nhiều hạt thóc và gạo cháy xém ở tầng đất có niên đại 3.000 năm. 10 hạt nảy mầm khi ngâm trong nước bảo quản.
Đầu tháng 5, đoàn khai quật đã tìm thấy những hạt thóc và gạo cháy sém tại 4 hố rác bếp, tất cả đều nằm trong một mặt bằng lớp 8, sâu gần 1 mét so với mặt đất. Đất ở lớp này có nước rỉ ra, xung quanh có rất nhiều than tro cùng các tàn tích thức ăn như xương cá, vỏ ốc…
Những hạt thóc nảy mầm được khai quật từ tầng đất có niên đại 3.000 năm.
Theo bà Dung, sự phát hiện những hạt thóc và hạt cơm cháy sém không phải là đặc biệt, nhưng điều làm bà và các cộng sự hết sức ngỡ ngàng là sau khi ngâm trong nước để bảo quản khoảng 2 ngày thì có tới 10 hạt thóc đã nảy mầm, đâm lá.
Thứ Tư, 21 tháng 4, 2010
PHÁT HIỆN LẠI VỀ VIỆT NHÂN CA (越人歌)
Việt nhân ca quá nổi tiếng. Sau khi được đưa vào phim và hát thì nổi lên phong trào tìm hiểu Việt nhân ca trong dân gian chứ không còn là chuyện của các chuyên gia nghiên cứu văn hóa. Nổi tiếng vì có thể nói đó là bài thơ tình đầu tiên, bài dân ca xuất hiện sớm nhất được ghi nhận trọn vẹn, cách nay khoảng 2800 năm…
Tóm tắt về bối cảnh ra đời của Việt nhân ca: Lưu Hướng (刘向) là cháu bốn đời của Lưu Giao (刘交). Lưu Giao là em của Lưu Bang (刘邦) cao tổ của nhà Hán. Lưu Hướng là tác giả của sách Thuyết uyển (说苑). Sách có chương kể chuyện “Tương Thành Quân Thủy phong chi nhật” (襄 成君始封之日). Tương Thành Quân là Sở Tương Vương (楚襄王) tên hiệu là Hùng Hoành (熊橫). Trong câu chuyện có nhắc đến Ngạc Quân Tử Tích (鄂君子皙) là vua Sở Hùng Ngạc (楚熊咢) dùng thuyền dạo mát ngoạn cảnh thì có người chèo thuyền hát bài dân ca Việt. Ngạc Quân Tử Tích nhờ người ghi lại và phiên dịch ra tiếng "Sở" là bài "Việt nhân ca".
Nguyên văn đoạn đó như sau:
"襄成君始封之日,衣翠衣,带玉剑,履缟舄(舄:xi4,古代一种双层底加有木垫的鞋;缟舄:白色细生绢做的鞋),立于游水之上,大夫拥钟锤(钟锤: 敲击乐鼓的锤子),县令执桴(桴:鼓槌)号令,呼:“谁能渡王者于是也?”楚大夫庄辛,过而说之,遂造托(造托:上前求见)而拜谒,起立曰: “臣愿把君之手,其可乎?”襄 成君忿然作色而不言。庄辛迁延(迁延:退却貌)沓手(沓:盥之误 字,盥手即洗手)而称曰:“君独不闻夫鄂君子皙之泛舟于新波之中也?乘青翰之舟(青翰:舟名,刻成鸟形的黑色的船),极(:man2,上艹下两;芘:bi4。芘:不详为何物,疑为船上帐幔之类),张翠盖而检 (检:插上)犀尾,班(班,同“斑”)丽袿(袿:gui1,衣服后襟,指上衣)衽(衽:ren4,下裳),会钟鼓之音,毕榜枻(榜:船;枻,yi4,桨。榜枻:这里指代船工)越人拥楫而歌,歌 辞曰:‘滥兮抃草滥予,昌枑泽予昌州州,饣甚州州焉乎秦胥胥,缦予乎昭,澶秦踰渗,惿随河湖。’鄂君子皙曰:‘吾不知越歌,子试为我楚说之。’于是乃召越译,乃楚说之曰:‘今 夕何夕兮,搴中洲流。今日何日兮,得与王子同舟。蒙羞被好兮,不訾诟耻。心几顽而不绝兮,知得王子。山有木兮木有枝,心说君兮君不知。’ 于 是鄂君子皙乃揄修袂,行而拥之,举绣被而覆之。鄂君子皙,亲 楚王母弟也。官为令尹,爵为执圭,一榜枻越人犹得交欢尽意焉。今君何以踰于鄂君子皙,臣何以独不若榜枻之人,愿把君之手,其不可何也?”襄成君乃奉手而进之,曰:“吾少之时,亦尝以色称于长者矣。未尝过僇(僇:lu4,羞辱)如此之卒也。自今以后,愿以壮少之礼谨 命。”
Dịch nghĩa:
“Ngày đầu tiên Tương Thành Quân được phong quan tước, mặc áo đẹp, đeo kiếm ngọc, mang cao guốc, đứng phía trên dòng nước, đại phu gõ nhạc, đánh trống. Lệnh rằng: "Ai có thể đưa bổn vương lên đò?" Sở đại phu Trang Tân bước lên phía trước bái kiến, đứng thẳng nói rằng: "Thần nguyện nắm tay của quân vương, có được không ?"
Thứ Năm, 15 tháng 4, 2010
NHỮNG VẦN THƠ CỦA CÁC VỊ TIÊN
100 năm trước: Thương nòi giống - Thần tiên giáng bút
Nguyễn Xuân Diện
Trong các nghi lễ của người Việt thời trước, có một không gian nghi lễ khá đặc biệt rất đáng để ý là thiện đàn. Ở đấy diễn ra một hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh độc đáo là giáng bút - một hiện tượng văn hoá tâm linh có thực trong xã hội Việt Nam, tức là cầu Thánh - Thần - Tiên - Phật cho mình những bài thơ, thông qua một người có năng lực đặc biệt. Song vì nhiều lý do mà giới nghiên cứu đã coi đó là một vùng cấm và không dành cho nó một sự quan tâm thích đáng, ngoại trừ hai học giả là Nguyễn Văn Huyên (Tục thờ cúng thần tiên ở Việt Nam, 1944) và Đào Duy Anh (Hồi ký Nhớ nghĩ chiều hôm, 1989).
Giáng bút là hiện tượng “nhập thần” trong đó thực hiện nghi lễ cầu cúng để mong muốn có sự phán truyền dạy dỗ của thần linh thông qua văn tự (Hán Nôm) mà thư viện Viện Hán Nôm hiện đang lưu trữ 254 cuốn thơ văn giáng bút, với hàng vạn bài thơ, bài văn.
Giáng bút là hiện tượng “nhập thần” trong đó thực hiện nghi lễ cầu cúng để mong muốn có sự phán truyền dạy dỗ của thần linh thông qua văn tự (Hán Nôm) mà thư viện Viện Hán Nôm hiện đang lưu trữ 254 cuốn thơ văn giáng bút, với hàng vạn bài thơ, bài văn.
.
Tài liệu có niên đại sớm nhất là năm 1825 được in tại đền Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, nay là di tích Việt Đông hội quán, số nhà 22 Hàng Buồm, Hà Nội. Về niên đại xuất hiện nhiều bản giáng bút nhất là các năm 1870 - 1898 và 1906 - 1911.
Năm 1825 là niên đại của tài liệu sớm nhất hiện biết trong kho sách Hán Nôm. Thế nhưng, Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) một danh sĩ, nhà khảo cứu nổi tiếng thời cuối Lê đầu Nguyễn, trong Đường An Đan Loan Phạm gia thế phả (A.909) có thuật chuyện ông ngoại của mình như sau: “Cụ có thuật bói tiên, thường lấy cành đào làm thành hình mỏ hạc treo lên một cần trúc, lấy một cái sọt tre đựng đầy ắp cát sạch, đặt cần trúc bên cạnh rồi đốt bùa đọc phép, cái mỏ hạc tự nhiên chuyển động, vạch thành chữ trên cát”. Lời thuật này rõ ràng cho biết ông ngoại của Phạm Đình Hổ là người thực hiện nghi lễ giáng bút cầu văn tự. Qua đây cho thấy, chúng ta có thể vẫn tìm thấy các văn bản giáng bút có niên đại sớm hơn năm 1825 là bản xưa nhất có trong thư viện Viện Hán Nôm.
Năm 1825 là niên đại của tài liệu sớm nhất hiện biết trong kho sách Hán Nôm. Thế nhưng, Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) một danh sĩ, nhà khảo cứu nổi tiếng thời cuối Lê đầu Nguyễn, trong Đường An Đan Loan Phạm gia thế phả (A.909) có thuật chuyện ông ngoại của mình như sau: “Cụ có thuật bói tiên, thường lấy cành đào làm thành hình mỏ hạc treo lên một cần trúc, lấy một cái sọt tre đựng đầy ắp cát sạch, đặt cần trúc bên cạnh rồi đốt bùa đọc phép, cái mỏ hạc tự nhiên chuyển động, vạch thành chữ trên cát”. Lời thuật này rõ ràng cho biết ông ngoại của Phạm Đình Hổ là người thực hiện nghi lễ giáng bút cầu văn tự. Qua đây cho thấy, chúng ta có thể vẫn tìm thấy các văn bản giáng bút có niên đại sớm hơn năm 1825 là bản xưa nhất có trong thư viện Viện Hán Nôm.
Thứ Năm, 11 tháng 3, 2010
Bộ sưu tập tên cho bé trai và bé gái
OZ-Trong chúng ta hẳn sẽ có lúc phải bối rối khi phải vắt óc suy nghĩ tìm một cái tên cho đứa con thân thương của mình, hoặc vinh dự hơn có người nhờ đặt tên cho con cháu của họ vì ta "hay chữ" chẳng hạn. Để giúp Quý bằng hữu có nhiều sự lựa chọn, OZ xin giới thiệu Bộ sưu tập một ngàn tên cho bé trai và một ngàn tên cho bé gái của tác giả Nhược Thủy bên diễn đàn HTT.
A/1000 TÊN CHO BÉ GÁI:
Ái Hồng Ái Khanh Ái Linh Ái NhânÁi Nhi Ái Thi Ái Thy Ái Vân
An Bình An Di An Hạ An Hằng
An Nhàn An Nhiên Anh Chi Anh Ðào
Ánh Dương Ánh Hoa Ánh Hồng Anh Hương
Ánh Lệ Ánh Linh Anh Mai Ánh Mai
Ánh Ngọc Ánh Nguyệt Anh Phương Anh Thảo
Anh Thi Anh Thơ Ánh Thơ Anh Thư
Anh Thy Ánh Trang Ánh Tuyết Ánh Xuân
Bạch Cúc Bạch Hoa Bạch Kim Bạch Liên
Bạch Loan Bạch Mai Bạch Quỳnh Bạch Trà
Bạch Tuyết Bạch Vân Bạch Yến Ban Mai
Băng Băng Băng Tâm Bảo Anh Bảo Bình
Bảo Châu Bảo Hà Bảo Hân Bảo Huệ
Bảo Lan Bảo Lễ Bảo Ngọc Bảo Phương
Bảo Quyên Bảo Quỳnh Bảo Thoa Bảo Thúy
Bảo Tiên Bảo Trâm Bảo Trân Bảo Trúc
Bảo Uyên Bảo Vân Bảo Vy Bích Châu
Cái tên làm nên tính cách
Chữ cái đầu tiên trong tên gọi một con người biểu hiện nhiều nét tính cách của người ấy. Ngay bản thân hình thù của từng mẫu tự đã chứa đựng điều đó.
Tuy nhiên, vạn sự trên đời luôn bao hàm hai ý nghĩa đối lập: tiêu cực và tích cực. Mời các bạn tham khảo công trình “nghiên cứu” vui dưới đây để cùng khám phá.
***
A
Chữ A chứa đựng năng lực chỉ huy. Người có tên bắt đầu với nguyên âm này có khả năng đứng vững trên đôi chân của mình. Họ có nhiều tham vọng, thường rơi vào tình thế phải đưa ra những quyết định nhanh. Mặt tiêu cực: hơi bảo thủ và ích kỷ. Đặc biệt: dễ mắc bệnh về hô hấp.
B
Họ có tính cách rụt rè, kín đáo, luôn khao khát tình cảm yêu thương. Họ rất hay dồn nén những buồn vui cho riêng mình chịu đựng. Chớ nên quá cầu toàn đi tìm điều tốt đẹp hơn, một khi họ đã chấp nhận những sự việc chung quanh mình. Mặt tiêu cực: họ sống hơi cô lập và ủy mị.
Tuy nhiên, vạn sự trên đời luôn bao hàm hai ý nghĩa đối lập: tiêu cực và tích cực. Mời các bạn tham khảo công trình “nghiên cứu” vui dưới đây để cùng khám phá.
***
A
Chữ A chứa đựng năng lực chỉ huy. Người có tên bắt đầu với nguyên âm này có khả năng đứng vững trên đôi chân của mình. Họ có nhiều tham vọng, thường rơi vào tình thế phải đưa ra những quyết định nhanh. Mặt tiêu cực: hơi bảo thủ và ích kỷ. Đặc biệt: dễ mắc bệnh về hô hấp.
B
Họ có tính cách rụt rè, kín đáo, luôn khao khát tình cảm yêu thương. Họ rất hay dồn nén những buồn vui cho riêng mình chịu đựng. Chớ nên quá cầu toàn đi tìm điều tốt đẹp hơn, một khi họ đã chấp nhận những sự việc chung quanh mình. Mặt tiêu cực: họ sống hơi cô lập và ủy mị.
Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2010
Theo chân GS Trần Đại Sỹ đi tìm nguồn gốc dân tộc và biên cương nước Việt Nam cổ
Là con dân đất Việt ai cũng tự hào về lịch sử nước nhà, nhưng phần đông chưa chắc đã hiểu tường tận, có ai biết gốc tích người Việt nước mình, biên cương lãnh thổ cha ông thời dựng nước có đúng như trong huyền sử, chẳng hạn:
Nước văn Lang bắc tới hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ tôn,Tây giáp Ba Thục, đông giáp biển Đông Hải ?
Núi Ngũ Lĩnh phân chia nước Văn Lang và Trung Quốc khi xưa có phải là núi Ngũ Lĩnh phân chia nam, Bắc Trung Quốc hiện thời ?
Cánh đồng Tương nơi Quốc Tổ và Quốc Mẫu hẹn nhau hôi ngộ một lần theo Huyền sử là vùng trũng phía Tây ngạn giới hạn phía bắc là hồ Động đình, Nguyên giang. Phía nam là Linh lăng, Hành giang, phía Tây là vùng Chiêu giang, Lãnh thủy Ngày nay cánh đồng Tương là khu vực tứ giác : Tương giang, Nguyên giang, Liên thủy, Thạch khê thủy?
Đạo thờ vua bà ngày nay tại năm tỉnh phía nam Trung Quốc là di tích lòng tôn kính thờ anh hùng dân tộc của tộc Việt trên lãnh thổ cũ của người Việt còn sót lại, vua Bà mà người Trung Hoa thờ chính là vua Trưng (Trưng Trắc và Trưng Nhị) ?
Theo Huyền sử quả có trận Trường Sa năm 39, trận Bồ Lăng năm 42 sau Tây lịch ?
Mời bằng hữu theo chân GS Trần Đại Sỹ khám phá khảo sát những vùng đất cha ông khi xưa ( Trung Quốc ngày nay ) cùng nỗi niềm tự hào và ngậm ngùi khi xác quyết những điều trên và phần lớn những điều ghi trong huyền sử đều là sự thật.
Vu lòng download tài liệu tại đây.
Thứ Hai, 30 tháng 11, 2009
Sao cứ bắt tổ tiên phải cởi trần đóng khố?
Tại sao người vẽ tranh cho truyện lại bắt tổ tiên ta phải ăn mặc nghèo nàn - trong khi, cùng thời đại - mà người láng giềng lại có được quần áo chỉnh tề như thế?
LTS: Xung quanh những bức hình trong cuốn truyện tranh "An Dương Vương và Nhà nước Âu Lạc" truyện của Nguyễn Thị Thu Hương, tranh của Hồ Vĩnh Phúc, do Nhà Xuất bản Giáo dục in năm 2007 đang có các ý kiến tranh luận nhiều chiều. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết thể hiện góc nhìn riêng của CTV Đinh Công Nguyên để độc giả đóng góp thêm ý kiến. Sau đây là nội dung bài viết:
Tôi nghĩ cách thể hiện hình ảnh trong cuốn truyện tranh có 2 cái sai, đó là:
1. Trang phục của tổ tiên ta không đúng với thực tế (bài viết: Xin đừng hiểu về trang phục của tổ tiên như thế chủ yếu chứng minh cho điều này) - nhưng xét trên khía cạnh một tác phẩm văn học - nghệ thuật (truyện, phim,...), vấn đề này cũng không phải là quá quan trọng.
2. Vấn đề đáng nói hơn, sai lớn hơn là ở chỗ, tại sao người vẽ tranh cho truyện lại bắt tổ tiên ta phải ăn mặc nghèo nàn - trong khi, cũng cùng thời đại - mà người láng giềng phương bắc lại có được quần áo chỉnh tề như thế. (Ít nhất thì cũng phải ngang nhau chứ - nếu có quần áo, thì cùng mặc quần áo - nếu không ta đóng khố lông chim, thì họ cũng là lông thú thôi, chứ đằng này...).
| Ảnh minh họa |
Cái ấu trĩ ở đây có lẽ là tư tưởng luôn tự cho mình là thấp kém hơn người khác. Nhiều người, do những lý do nào đó, họ không bao giờ được bằng bạn bằng bè, không bao giờ vượt qua được chính mình - vì trong tiềm thức họ đã luôn tự ti, mặc cảm rằng mình luôn thấp kém, không bằng mọi người... bản thân những người bi quan, tự ti, sẽ là thiệt thòi cho chính họ. Nhưng đem cái tư tưởng của số ít mà áp cho cả một dân tộc (theo kiểu bụng ta suy ra bụng cả làng..) thì thật là không nên, thật không thuyết phục.
Ở đây tôi không muốn quy kết cái tội danh gì cho ai đã viết, hay vẽ nên những bức tranh truyện kia (vì ít nhất, nó cũng đã được qua kiểm duyệt trước khi xuật bản!).
Song điều đáng nói ở đây là, hiện tượng tâm lý như trên, không phải chỉ có ở một vài người, hay một phần nhỏ người dân ta, mà có vẻ như nó đã ăn sâu, như một căn bệnh ung thư về tư tưởng trong một bộ phận không nhỏ người dân.
Việc này khiến tôi liên tưởng tới một trong những hiện tượng (có thể nói là đặc biệt) của xã hội ta cách đây ít lâu - đó là khi cả nước ta ăn mừng chiến thắng trước Thái Lan rồi giành cúp vô địch cúp bóng đá khu vực.
Khi đó tôi tự hỏi, liệu chiến thắng có thực sự đáng tự hào đến thế hay không? Thực tế, đây dù sao cũng chỉ là một chiến thắng trong thể thao (cho dù là môn thể thao vua - được yêu thích nhất) - nó chắng thể sánh với những chiến thắng trong những thành tựu khoa học - mà chúng ta đã phải rất khó khăn gian khổ, thậm chí mất mát hy sinh để có được - những chiến thắng này có giá trị đích thực của nó mà không cần phải tung hô - thể hiện ở sự ngưỡng mộ, nể trọng của bạn bè thế giới (ví dụ như chiến thắng trong công cuộc giải phóng đất nước, rồi những thành tựu y học kiệt xuất của một số cá nhân như: BS. Nguyễn Tài Thu, NS. Đặng Thái Sơn, ... và nhiều người khác).
Nhưng cũng thật dễ hiểu cho lễ ăn mừng rầm rộ (thậm chí là hơi quá) của quần chúng cả nước cho chiến thắng (mặc dù nếu nhìn từ lăng kính nước ngoài vào, thì đó đúng là chuyện vui nhưng cũng thường thôi, họ không hiểu vì sao lại rầm rộ đến như thế).
Bởi vì, mặc dù đây chỉ là một chiến thắng trong thể thao, nhưng nó đã đáp ứng mong mỏi - từ đã rất lâu rồi - của một xã hội mấy chục triệu dân - của cả một dân tộc mà vừa mới giành lại được một quốc gia độc lập cho riêng mình, được mấy chục năm - nhưng chính là từ đó đến nay, cái mà họ đã vất vả, cực nhọc, thậm chí hy sinh mất bao xương máu để đạt được ấy - từ khi khai sinh, dường như sau đó, chưa khẳng định được mình trước bạn bè thế giới - đáp ứng lòng mong mỏi của toàn dân.
Để rồi đến khi, một chiến thắng trong thể thao, như miếng bánh, cốc nước thỏa nỗi thèm khát của một cơ thể đang đói cồn cào, khát khô cổ...
| Ảnh minh họa |
Tất nhiên, đây chẳng phải lỗi của riêng ai, cũng không thể đổ tội cho mọi người trong xã hội (bằng chứng là, ở đâu đó, trong lĩnh vực nào đó đã có những cá nhân nổi lên để khẳng định mình, qua đó góp phấn quảng bá bộ mặt dân tộc, đất nước ra thế giới). Phải chăng đây là hậu quả của sự trì trệ - tự bóp chẹt mình trong một thời gian dài.
Trong hoàn cảnh như vậy, mỗi người tiến bộ, trước hết hãy tự đổi mới, cải cách chính mình ngay từ tư duy, cách nghĩ. Tiếp đến là làm sao để truyền bá luồng tư tưởng tiến bộ, mạnh dạn cầu tiến của mình đến cho người khác, đặc biệt là thế hệ trẻ. Chỉ có cách như vậy, dần dần đến một lúc nào đó, khi đa phần người trong xã hội có "bộ óc mới" thì khi đó mới có thể tăng tốc cho cả bộ máy xã hội này được.
Một lần nữa tôi muốn nhấn mạnh, rằng mình có thể kém người về tiền bạc, của cải, thậm chí là tri thức, khoa học công nghệ, ... - nhưng tất cả những thứ này đều có thể phấn đấu để làm giầu thêm cho mình, thậm chí đuổi kịp để sánh ngang, hay vượt qua những người đi trước (như ví dụ về những "con rồng châu Á" là điển hình) - nhưng trên tất cả, nếu ta thua kém người về ý chí, chấp nhận thất bại ngay từ trong ý nghĩ, nhận mình thua kém từ trước khi phấn đấu, xác định thua từ trước trận đấu thì... có thể nói thật quá khó để chúng ta vượt qua được chính mình.
Đinh Công Nguyên
Nguồn : Tuanvietnam.net
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
