Hiển thị các bài đăng có nhãn huyền thọai. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn huyền thọai. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013

Lên đỉnh Tà Lơn nghe huyền thoại

SGTT.VN - Một vùng hiểm địa từng được miêu tả: “Ngó dưới sông con cá mập lội dư ngàn, nhìn trên suối sấu nằm như trăm khúc…” đó chính là núi Tà Lơn, một ngọn núi phủ đầy huyền thoại mà hành trình lần này tôi có dịp tìm đến.


Một trong những phiến đá hình chiếc thuyền nằm quanh khu vực chùa Năm Thuyền.

Núi Tà Lơn (Phnom Bokor) thuộc tỉnh Kampot của đất bạn Campuchia là ngọn núi thiêng, gắn liền với rất nhiều những truyền thuyết, huyền thoại, bùa chú cùng những vị đạo sĩ tu luyện bằng nhiều hình thức đầy kỳ bí. Bóng mây huyền bí về Tà Lơn chỉ thực sự tan biến dần khi người Pháp bắt đầu khai phá đỉnh non thiêng này vào năm 1917, xây dựng khu nhà nghỉ, sòng bạc, đi kèm có cả nhà thờ, chùa chiền… mà nay trở thành một phần di sản kỳ thú trên đỉnh Tà Lơn.

Đi như rắn trườn lên Bokor

Sự khai phá của người Pháp biến Bokor trở thành một điểm du lịch nghỉ dưỡng từng một thời đình đám trong giới thượng lưu ở những năm đầu thế kỷ 20, với con đường nối liền từ thị xã Kampot lên đỉnh núi. Tương truyền để khai mở con đường hiểm trở này, người Pháp đã tốn nhiều công của, cộng với những mất mát về nhân công bởi con đường lên đỉnh Bokor bên là vách núi cheo leo, bên là vực sâu hun hút.

Đường lên Bokor nay đã khang trang hơn, từng được các tay lái caravan Việt Nam (nhóm du lịch bằng xe ôtô tự lái) khen nức nở bởi vẻ đẹp đầy quyến rũ, ngoạn mục, những đoạn ngoằn ngoèo như con rắn trườn lên đỉnh cao. Cung đường được cải tạo, làm mới dựa trên trục đường cũ từ thời Pháp xây dựng. Trong hành trình lên đỉnh núi, không khó để nhận ra dấu tích của những cây cầu cổ thời ấy còn khá nguyên vẹn, đang được gia cố và tôn tạo lại để giữ nguyên vẻ đẹp ban đầu, là điểm dừng chân cho du khách tham quan.

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

Bóng ma bí ẩn ở rừng hoang 10 năm

10 năm nay, cảnh sát đã truy tìm “bóng ma” đáng sợ luôn đứng trong khu rừng Maules ở Thụy Sỹ, đội chiếc mặt nạ chống khí ga, mặc bộ đồ bảo hộ và đội mũ trùm kín đầu. “Bóng ma” này đã được đặt tên là Le Loyon.
Tháng 8/2012, lần đầu tiên người ta chụp được hình ảnh đầu tiên về “bóng ma” bí ẩn huyền thoại quẩn quanh trong khu rừng Maules suốt 10 năm.
Bức hình chụp đầu tiên về "bóng ma" bí ẩn trong rừng Thụy Sỹ


Nhân vật này đã được người Thụy Sỹ gọi là quái vật hồ Loch Ness trong rừng. Bóng ma này luôn mặc quân phục bộ đội, khoác chiếc áo choàng dày và đeo mặt nạ chống khí ga che khuất khuôn mặt của mình. Trong suốt 10 năm, ngày nào nhân vật này cũng đi lại ở chính con đường đó.
Khu rừng từ lâu đã trở thành mối kinh hoàng khiến không ai dám lại gần. Cảnh sát Thụy Sỹ đang tìm mọi cách tiếp cận Le Loyon. Một nhiếp ảnh gia không chuyên cho biết: “Tôi đã tình cờ đi ngang qua anh ta. Và tôi chỉ cách anh ta khoảng 10 mét. Anh ta cao khoảng 1,9 mét. Anh ta nhìn vào tôi rồi quay lưng lại và bỏ đi trong im lặng”.

Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2012

THỬ VÉN MÀN HUYỀN THOẠI AN DƯƠNG VƯƠNG

KS. PHAN DUY KHA
Cổ Loa thành ốc khác thường
Ngàn năm dấu tích chiến trường còn đây.
(Ca dao cổ)
Cũng như thời đại các vua Hùng, triều đại An Dương Vương được lịch sử ghi lại chủ yếu dựa vào truyền thuyết. Khác với thời các vua Hùng, các truyền thuyết về An Dương Vương xoay quanh một “thực thể” có thật – thành Cổ Loa. Người ta có thể thêu dệt nên huyền thoại nhưng không thể “bịa” ra cả một tòa thành. Thành Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội) là chứng tích vật chất hùng hồn của triều đại An Dương Vương. Tương truyền Cổ Loa có chín vòng thành, nay còn lại dấu tích ba vòng. Thành nội hình chữ nhật, có chu vi l,6Km, cao 5m, mặt thành rộng l0m, chân thành từ 20 – 30m. Thành giữa hình đa giác, có chu vi 6,5km, cao 6 – 12m. Thành ngoại có chu vi 8km, cao trung bình 4 -5m (trải hơn 2.200 năm bị nắng mưa bào mòn và con người tàn phá mà thành còn như thế, chắc rằng khi mới xây dựng, thành rất hùng vĩ!). Nơi đây, Thục An Dương Vương và triều đình của ông trị vì quốc gia được 50 năm (257 – 208 trước Công nguyên)(1).

Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2012

THỬ VÉN MÀN HUYỀN THOẠI CHỬ ĐỒNG TỬ – TIÊN DUNG

KS. PHAN DUY KHA

Một nàng Mị Nương (tức công chúa) không thích sống gò bó trong cảnh cung vàng điện ngọc, lầu son gác tía ở kinh đô mà lại thích đi du ngoạn để tìm hiểu đất nước. Một chàng trai nghèo đến nỗi không có một mảnh khố che thân, hàng ngày phải ngâm mình dưới nước để đi ăn xin. Một mối nhân duyên kỳ lạ trên bờ lau bãi cát. Một chiếc nón úp lên đầu gậy, qua đêm bỗng biến thành một tòa lâu đài. Cũng tòa lâu đài ấy trong một đêm bỗng bay lên trời, để lại một cái đầm Nhất Dạ… Từ xưa, truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung (CĐT – TD ) vẫn lấp lánh trong tâm khảm chúng ta như một viên ngọc quý. với vẻ đẹp trinh nguyên buổi đầu lập quốc…

Cái gạch nối về địa lý
Địa chỉ của Tiên Dung là kinh đô Phong Châu (Vĩnh Phú). Đây là vùng trung du, hay nói theo danh từ của các nhà nghiên cứu địa – lịch sử là miền “trước núi”, là đỉnh của tam giác châu Bắc bộ, là điểm khởi đầu của cuộc thiên di thứ hai của dân tộc Việt.

Thứ Năm, 19 tháng 8, 2010

Thiếu Lâm tự và sự thật bí kíp tuyệt học Dịch cân kinh

Trong các tiểu thuyết võ hiệp, Dịch cân kinhTẩy tủy kinh là những bí kíp mà cả võ lâm đều mơ có được. Nếu như Dịch cân kinh được mô tả có thể giúp hoán chuyển kinh mạch, phát dương nội công, thì Tẩy tủy kinh là thần pháp biến đổi từ bên trong, giúp con người cải lão hoàn đồng.
Trong Tiếu ngạo giang hồ, Dịch cân kinh được nhà văn Kim Dung mô tả là thần công do thiền sư Thiên Trúc là Bồ Đề Đạt Ma sáng tạo ra, uy lực vô cùng lớn, “hàng trăm năm qua không phải bậc kì nhân thì không truyền thụ, mà dẫu kì nhân nhưng không gặp kì duyên thì cũng không truyền thụ; dù có là đệ tử xuất chúng của chính Thiếu Lâm mà không có phúc duyên thì cũng không được truyền”.

 Lệnh Hồ Xung - người hùng thoát chết nhờ Dịch cân kinh


Trong tiểu thuyết này, Lệnh Hồ Xung đại đệ tử phái Hoa Sơn bị nhiều luồng chân khí hỗn chiến trong cơ thể, tình trạng vô cùng nguy kịch, chỉ có Dịch cân kinh mới hóa giải được. Nhưng muốn học, điều kiện đầu tiên là phải gia nhập Thiếu Lâm, mà chàng thà chết không phản bội Hoa Sơn, do đó kiên quyết không chịu học. Cuối cùng, cảm kích trước nghĩa khí và công lao của vị thiếu hiệp, Phương Chính đại sư của Thiếu Lâm đã phá luật, mượn lời Phong Thanh Dương để truyền lại bí kíp này cho Lệnh Hồ Xung.

Còn trong Thiên long bát bộ, Trang Tụ Hiền nhờ luyện Dịch cân kinh mà đẩy được kịch độc băng hàn ra khỏi cơ thể, tự chữa vết thương, rồi trở thành cao thủ hàng đầu trên giang hồ. Ở một cuốn tiểu thuyết Kim Dung khác, Anh hùng xạ điêu, Quách Tĩnh cũng nhờ vào bộ bí kíp này để giải thoát cho mình và Hoàng Dung, vạch mặt Dương Khang trong đại hội Cái Bang.

 Một bản Dịch cân kinh lưu truyền

Sức hấp dẫn của bí kíp võ công này qua nghệ thuật mô tả của Kim Dung lớn đến nỗi, trước năm 1975, ở Sài Gòn xuất hiện những bản Dịch cân kinh giả khác với bản lưu truyền tại Trung Quốc; trong điều kiện khó khăn về thông tin, sách vở bấy giờ, rất nhiều người đã tin và học theo, nhẹ thì vô ích, nặng dẫn tới mất mạng.

Thứ Năm, 15 tháng 4, 2010

NHỮNG VẦN THƠ CỦA CÁC VỊ TIÊN

100 năm trước: Thương nòi giống - Thần tiên giáng bút

Nguyễn Xuân Diện
Trong các nghi lễ của người Việt thời trước, có một không gian nghi lễ khá đặc biệt rất đáng để ý là thiện đàn. Ở đấy diễn ra một hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh độc đáo là giáng bút - một hiện tượng văn hoá tâm linh có thực trong xã hội Việt Nam, tức là cầu Thánh - Thần - Tiên - Phật cho mình những bài thơ, thông qua một người có năng lực đặc biệt. Song vì nhiều lý do mà giới nghiên cứu đã coi đó là một vùng cấm và không dành cho nó một sự quan tâm thích đáng, ngoại trừ hai học giả là Nguyễn Văn Huyên (Tục thờ cúng thần tiên ở Việt Nam, 1944) và Đào Duy Anh (Hồi ký Nhớ nghĩ chiều hôm, 1989).


Giáng bút là hiện tượng “nhập thần” trong đó thực hiện nghi lễ cầu cúng để mong muốn có sự phán truyền dạy dỗ của thần linh thông qua văn tự (Hán Nôm) mà thư viện Viện Hán Nôm hiện đang lưu trữ 254 cuốn thơ văn giáng bút, với hàng vạn bài thơ, bài văn.
.
Tài liệu có niên đại sớm nhất là năm 1825 được in tại đền Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, nay là di tích Việt Đông hội quán, số nhà 22 Hàng Buồm, Hà Nội. Về niên đại xuất hiện nhiều bản giáng bút nhất là các năm 1870 - 1898 và 1906 - 1911.


Năm 1825 là niên đại của tài liệu sớm nhất hiện biết trong kho sách Hán Nôm. Thế nhưng, Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) một danh sĩ, nhà khảo cứu nổi tiếng thời cuối Lê đầu Nguyễn, trong Đường An Đan Loan Phạm gia thế phả (A.909) có thuật chuyện ông ngoại của mình như sau: “Cụ có thuật bói tiên, thường lấy cành đào làm thành hình mỏ hạc treo lên một cần trúc, lấy một cái sọt tre đựng đầy ắp cát sạch, đặt cần trúc bên cạnh rồi đốt bùa đọc phép, cái mỏ hạc tự nhiên chuyển động, vạch thành chữ trên cát”. Lời thuật này rõ ràng cho biết ông ngoại của Phạm Đình Hổ là người thực hiện nghi lễ giáng bút cầu văn tự. Qua đây cho thấy, chúng ta có thể vẫn tìm thấy các văn bản giáng bút có niên đại sớm hơn năm 1825 là bản xưa nhất có trong thư viện Viện Hán Nôm.

Thứ Năm, 21 tháng 1, 2010

Những khối đá huyền bí - Bài 6: Những huyền thoại đá ở Lào Cai



Tổng thể đài thờ Trà Kiệu bằng đá
Lời khấn trước thần Đá được học giả Léopold Cadière ghi lại dưới đây là của một chủ lễ cầu nguyện cho một cháu bé thoát cơn bệnh hiểm nghèo.
“Con sụp lạy, bái kính thần Đá. Con tên... ở làng... Con có thằng con nhỏ khó nuôi tên là... Con xin được bán hoặc ký thác cho ngài thần Đá với lời khẩn nguyện chân thành là (xin thần) cho thằng bé ăn chơi mạnh khỏe. Hằng năm cứ vào ngày tháng (định trước) con sẽ trở lại dâng cúng (lễ vật) lên ngài. Khi thằng bé được 12 tuổi, con sẽ trở lại tạ ngài, xin tháo gỡ lời cam kết hôm nay”.
Sau lời khấn, chủ lễ lạy 4 lạy rồi đứng dậy, nghiêng mình lần nữa trước khi cáo từ thần Đá. Những người dự lễ đem rượu cúng ra uống, tin rằng rượu ấy sẽ xua đuổi hết tà khí lạnh lẽo trong người. Đồ cúng gồm xôi chuối, gà luộc có thể mang về nhà dùng như những “món lộc” được ban hưởng sau khi thần Đá đã dùng hết tánh linh của thực phẩm.