Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền thuyết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền thuyết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

Truyền thuyết Dreamcatcher - chiếc bùa đuổi bắt giấc mơ

Chiếc bùa mang lại giấc ngủ an lành và những giấc mơ đẹp đang được Kim Tan phim 'Những người thừa kế' tích cực lăng xê.
Dreamcatcher là một trong những truyền thống hấp dẫn nhất của bộ tộc da đỏ bản địa Ojibwa ở Mỹ. Trong văn hóa của bộ tộc này, Dreamcatcher là một loại bùa được treo ở đầu giường để bảo vệ những đứa trẻ đang ngủ khỏi những cơn ác mộng và mang tới cho chúng những giấc mơ đẹp.
1474362-615127105217090-183544-6812-2398
Lá bùa này được người da đỏ làm thủ công từ gỗ của cây liễu, gồm một chiếc vòng được đan lỏng thắt dần vào vòng trung tâm và ba sợi dây trang trí có gắn lông vũ hoặc các hạt khô nhẹ đầy màu sắc. Người Ojibwa tin rằng, những giấc mộng đẹp sẽ đi qua vòng trung tâm của Dreamcatcher xuống các sợi lông vũ đến bên những đứa trẻ để chúng có giấc ngủ ngon cùng giấc mộng đẹp. Còn những cơn ác mộng trong đêm tối sẽ bị vướng vào các mạng đan trong vòng tròn Dreamcatcher, sau đó sẽ bị hóa giải bởi những tia nắng mặt trời đầu tiên của ngày mới.
Lá bùa cầu giấc mộng lành Dreamcatcher đã trở thành một phần quan trọng trong nền văn hóa bản địa của người Mỹ từ đời này sang đời khác. Chúng có nhiều nét tương đồng và được xem là biểu tượng mới của truyền thống tạo hình vòng thiêng của người da đỏ bản địa. Với ngụ ý rằng, vòng tròn là biểu tượng của sự sống, sức mạnh và sự đoàn kết.
Truyền thuyết về Dreamcatcher

Thứ Ba, 19 tháng 11, 2013

Bí mật cột rồng đá ngàn tuổi phá phép yểm bùa

Có một điều kỳ thú khiến các nhà khoa học say mê tìm hiểu, đó là làm cách nào mà người xưa, với công cụ thô sơ đã vận chuyển được khối đá khổng lồ này lên gần đỉnh núi Dạm? Theo tính toán, cột đá này nặng ít nhất 54 tấn.
Kinh Bắc là vùng đất cổ kính, với dày đặc các di tích lịch sử xếp hạng quốc gia. Tuy nhiên, trong một báo cáo đề xuất công nhận bảo vật quốc gia gửi đến Cục Di sản Văn hóa, Bảo tàng Bắc Ninh lại chọn cột đá chùa Dạm là bảo vật đứng đầu. Vậy cái cột đá có gì đặc biệt, được coi trọng như thế?



Cột rồng đá chùa Dạm.

Đi tìm bí mật rồng đá

Những ngày đầu năm, chúng tôi theo đoàn người tứ phương, xe cộ nườm nượp đổ về quả núi Đại Lãm, thuộc xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh để chiêm ngưỡng, cầu may trước tượng rồng đá ở chùa Dạm. Lên chùa Dạm có hai đường, một đường đi bộ theo các bậc đá quanh co từ chân lên đến đỉnh núi, một đường xe ủi mới mở chạy thẳng lên chùa. Cả hai đường đều vắng quay vắng quắt, chẳng có bóng người. Ngôi chùa tuềnh toàng, tạm bợ, nhỏ xíu cũng cửa khóa, chẳng có ai. Giờ tôi mới hiểu, chùa Dạm chỉ còn là thứ trong sách vở.

Thứ tôi cần tìm nằm uy nghi ngay cuối con đường mới mở từ chân núi lên tận ngôi chùa Dạm dựng lại tạm bợ. Tôi thực sự sững sờ trước một tuyệt tác đã đứng đó gần 1.000 năm. Trải bao mưa nắng, trơ gan cùng tuế nguyệt, công trình điêu khắc độc nhất vô nhị này vẫn chứa đựng những bí mật chưa được khám phá. Thật không quá lời, khi các cán bộ Bảo tàng Bắc Ninh khẳng định rằng, cột đá chùa Dạm là công trình nghệ thuật đặc sắc bậc nhất thời Lý còn lưu truyền cho hậu thế.

Lang thang loanh quanh khu vực núi Dạm, tôi gặp được cụ Nguyễn Thị Thập. Cụ Thập là Phật tử, thường xuyên lên chùa lau dọn, trông giữ những di vật để ngổn ngang, dãi dầu mưa nắng. Theo cụ Thập, truyền thuyết trong làng đều khẳng định rằng, cột đá chạm rồng có từ thời Lý.

Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013

Chuyện người chết đầu thai làm vua ở Việt Nam

Đây là câu chuyện về một thiền sư đầu thai làm vị vua thứ 5 của triều Lý và lên ngôi tại kinh thành Thăng Long cách đây gần một nghìn năm được sử sách ghi lại hết sức rõ ràng…

Ngày nay, vào đầu thế kỷ 21 này, khi đến tham quan chùa Lý Triều Quốc Sư (xưa gọi là đền Lý Quốc Sư) nằm ở quận Hai Bà Trưng – TP. Hà Nội và chùa Thiên Phúc trên đất Hà Tây, người ta có thể chiêm bái hai pho tượng tạc hai vị cao tăng là Nguyễn Minh Không và Từ Đạo Hạnh liên quan đến câu chuyện kỳ bí được rất nhiều sử sách từ xưa đến nay, cả những bộ sử có uy tín như: Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, hoặc các bộ: Việt sử tiêu án và Đại Nam nhất thống chí, đều có ghi chép và bàn bạc ngót nhiều thế kỷ nay.
Chùa Lý Quốc Sư, Hà Nội
Chuyện bắt đầu từ cái chết của quan đô án Từ Vinh. Ông ta đã bị một đối thủ thù ghét tìm cách mua chuộc một vị pháp sư có nhiều pháp thuật và bùa chú tên là Đại Điên dùng quyền năng thần bí đánh chết rồi quăng xác của ông xuống sông Tô Lịch ở kinh thành Thăng Long. Xác trôi dọc theo kinh thành đến trước nhà của pháp sư Đại Điên bỗng nhiên dừng lại không chịu trôi nữa mà đứng thẳng dậy như người sống, mở mắt trừng trừng oán giận nhìn vào nhà của Đại Điên. Đại Điên thấy vậy, dồn hết tinh lực đứng trên bờ đọc mấy câu thần chú và quát to như sấm nổ: “Này xác chết kia, khi còn sống ngươi cũng là một kẻ tu hành. Mà một kẻ tu hành thì không bao giờ nuôi lòng oán giận ai quá một ngày”. Sau câu quát kia, xác Từ Vinh từ từ ngã xuống theo dòng nước sông Tô Lịch trôi đi mất chẳng biết về đâu.

Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2013

Những trao đổi xung quanh loạt bài "Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động"

Trong và sau khi Thanh Niên đăng loạt bài Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động, đã có nhiều nhà nghiên cứu và bạn đọc gửi thư, viết bài hưởng ứng và tranh biện. Một số báo như Nhân Dân, Thông tấn xã Việt Nam, Thể Thao & Văn hóa, Nhà báo & Công luận... cũng đã đăng bài trao đổi. Để rộng đường dư luận và trao đổi học thuật, chúng tôi sẽ lần lượt đăng một số bài viết thể hiện các ý kiến khác nhau.

Chúng tôi mong muốn những phát hiện mới về lịch sử cũng như những ý kiến tranh luận sẽ sớm được các cơ quan khoa học về lịch sử thẩm định, đánh giá, kết luận, nhằm góp phần làm sáng rõ những trang sử vẻ vang của dân tộc, nhất là vào các thời kỳ nước ta không có hoặc có rất ít sử liệu. Số báo này xin giới thiệu nguyên văn bài viết của ông Trương Thái Du và bài viết của nhà giáo Hà Văn Thịnh.

Đôi lời với những phát hiện lịch sử chấn động

Từ ngày 27.2.2008 đến 6.3.2008, Báo Thanh Niên liên tiếp đăng loạt bài Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động của tác giả Hoàng Hải Vân. Vì yêu thích cổ sử và ít nhiều đã có những biên khảo nhỏ ở góc độ nghiệp dư, tôi đặc biệt chú ý và theo dõi rất kỹ vấn đề ông Thát theo đuổi. Từ gợi ý của Thanh Niên, tôi đã vừa đọc báo, vừa tìm hiểu quyển Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta của tác giả Lê Mạnh Thát. XNB Tổng hợp TP.HCM - 2006 (LĐTK).

Một số điểm nổi bật

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động (tiếp theo)

Lê Thánh Tôn nói: Một tấc đất của tổ tiên cũng không để mất! Kèm theo câu nói đó là việc dựng lại Ngọc phả Hùng Vương... Tiếp tục hành trình về thời đại Hùng Vương

Cho đến nay, với nhiều nỗ lực nghiên cứu, các nhà sử học nước ta đã phát hiện rất nhiều tài liệu quan trọng về nền văn minh của nước ta thời đại Hùng Vương, đặc biệt là đã thu thập, giám định, phân tích một khối lượng đồ sộ các di chỉ khảo cổ học từ văn hóa Phùng Nguyên, văn hóa Đồng Đậu, văn hóa Gò Mun đến văn hóa Đông Sơn. Những nỗ lực đó cho phép phác thảo bước đầu diện mạo của thời đại khởi nguồn của dân tộc, đủ để bác bỏ những mưu đồ phủ nhận hoặc hạ thấp công lao dựng nước của tổ tiên. Ghi nhớ lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Các vua Hùng có công dựng nước...", Nhà nước ta đã chính thức quyết định lấy ngày Giỗ tổ Hùng Vương làm Quốc Giỗ.

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động

Với những khám phá của ông, chúng ta có đủ tư liệu để dựng lại lịch sử vẻ vang của dân tộc ta từ hai ngàn năm trước...
Là một nhà tu hành xuất gia từ bé, nhưng Thượng tọa Thích Trí Siêu (tức giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát) vẫn để tóc. Thú thật là quá tò mò về chuyện đó, tôi mạnh dạn hỏi ông vì sao như vậy. Ông cười phá lên, chỉ vào bức ảnh Đức Bồ đề Đạt Ma: "Ông ấy có cạo đầu đâu! Tôi còn thua ông ấy một bộ râu". Tôi ngộ ra rất nhiều điều trong tiếng cười của ông.

Tôi đã gặp ông nhiều lần, trước hết là để viết bài về Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc (VESAK) được tổ chức tại Việt Nam sắp tới mà ông là Chủ tịch Ủy ban quốc tế (IOC) đồng thời là Tổng thư ký Ủy ban điều phối quốc gia Đại lễ này. Tôi cũng đã đọc nhiều sách ông viết. Nhưng với trình độ nông cạn của tôi, hiểu về con người cùng sở học mênh mông vi diệu của vị cao tăng này thật không dễ chút nào.

Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2012

THỬ VÉN MÀN HUYỀN THOẠI AN DƯƠNG VƯƠNG

KS. PHAN DUY KHA
Cổ Loa thành ốc khác thường
Ngàn năm dấu tích chiến trường còn đây.
(Ca dao cổ)
Cũng như thời đại các vua Hùng, triều đại An Dương Vương được lịch sử ghi lại chủ yếu dựa vào truyền thuyết. Khác với thời các vua Hùng, các truyền thuyết về An Dương Vương xoay quanh một “thực thể” có thật – thành Cổ Loa. Người ta có thể thêu dệt nên huyền thoại nhưng không thể “bịa” ra cả một tòa thành. Thành Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội) là chứng tích vật chất hùng hồn của triều đại An Dương Vương. Tương truyền Cổ Loa có chín vòng thành, nay còn lại dấu tích ba vòng. Thành nội hình chữ nhật, có chu vi l,6Km, cao 5m, mặt thành rộng l0m, chân thành từ 20 – 30m. Thành giữa hình đa giác, có chu vi 6,5km, cao 6 – 12m. Thành ngoại có chu vi 8km, cao trung bình 4 -5m (trải hơn 2.200 năm bị nắng mưa bào mòn và con người tàn phá mà thành còn như thế, chắc rằng khi mới xây dựng, thành rất hùng vĩ!). Nơi đây, Thục An Dương Vương và triều đình của ông trị vì quốc gia được 50 năm (257 – 208 trước Công nguyên)(1).

Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

THỬ GIẢI MÃ TRUYỀN THUYẾT THÁNH GIÓNG

KS. PHAN DUY KHA
Cậu bé Gióng lên ba tuổi bỗng trở nên to lớn dị kỳ, cưỡi ngựa sắt, mặc giáp sắt, đội nón sắt, cầm gậy sắt. Đánh đuổi giặc Ân xâm lược. Giặc tan, Gióng một mình một ngựa lên núi Sóc Sơn, bay về trời. Câu chuyện trên đã bị phủ một lớp sương mù huyền thoại dày đặc, nhưng nếu dùng nhãn quan ngày nay, chúng ta vẫn có thể thấy được cốt lõi của sự thật lịch sử…
Thánh Gióng, người anh hùng của nhân dân.
Theo truyền thuyết thì Thánh Gióng thuộc về đời Hùng Vương thứ 6. Cũng như nhiều truyền thuyết khác, chúng ta không thể xác định được thật chính xác niên đại, nhưng có thể ước đoán mốc thời gian của câu chuyện vào khoảng thế kỷ VI – V trước Công nguyên (tr. CN), tức là sau khi triều Hùng ra đời khoảng trên 100 năm. Niên đại này nếu đem đối chiếu với niên đại khảo cổ học là hoàn toàn phù hợp. Truyền thuyết Thánh Gióng ở vào sơ kỳ thời đại đồ sắt (lúc đó sắt được coi là vật liệu lý tưởng), cách ngày nay vào khoảng 2.500 năm.
Gióng là con một bà mẹ nghèo ở miền quê, không biết bố là ai (sau này người ta thần thoại hóa bằng chi tiết bà mẹ giẫm vào dấu chân khổng lồ mà thụ thai – một chi tiết có ở nhiều câu chuyện cổ về các nhân vật thần kỳ). Vì không chồng mà chửa, người mẹ ấy đã phải chịu bao tủi nhục cay đắng: bà đã bị đuổi ra khỏi làng, lên rừng Trại Nón (nay là Phù Dực) đề sinh ra Gióng; bà đã phải bắt ốc, mò cua để nuôi con. Chi tiết đó vẫn còn lại trong truyền thuyết: khi bà đẻ Gióng, trời bỗng cho nhiều cua, ốc và nhiều cá để bà lấy sữa nuôi con. Là một người mẹ nghèo khổ, sinh ra Gióng trong điều kiện như vậy, bà bị mọi người hắt hủi (sau này trong lễ hội; làng xưa kia đã đuổi mẹ Gióng không được làm chủ hội – đây cũng là một hình thức xử lý của tâm thức dân gian đối với thái độ xử không công bằng với mẹ Gióng trước đây). Gióng lớn lên bằng cơm, cà những thức ăn bình dân của quê hương và uống nước sông quê” Một bữa ăn của Gióng: Bảy nong cơm, ba nong cà. Uống một hơi nước, cạn đà khúc sông.

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012

BÀN VỀ GIAI THOẠI CỘT ĐỒNG MÃ VIỆN

Tôn Thất Thọ
Lịch Đạo Nguyên (466 hoặc 472-527) khi biên soạn Thủy kinh chú sớ đã chú thêm:
“Theo Cựu đường chí, Mã Viện đi đánh dân Man Lâm Ấp, đến quận Nhật Nam, lại đi về phía nam hơn 400 dặm là đến nước Lâm Ấp, lại đi về phía nam hơn 2.000 dặm, có nước di Tây Hồ. Viện trồng hai cột đồng ở biên giới phía nam quận Tượng Lâm, phân ranh giới với nước di Tây Hồ để ghi lại đức tốt của nhà Hán”. (Thủy kinh chú sớ, Sđd, tr.395)
Ở nước ta, các sử thần ở các triều đại đã chép về chuyện cột đồng đó như sau:
- Trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Cương mục):
“Năm Quý Mão (43 sau CN). Tháng Giêng, mùa Xuân, Trưng Trắc cùng em gái là Nhị cự chiến với quân Hán. Hai bà bị thua và mất – Trưng Vương cùng em gái là Trưng Nhị cự chiến với quân Hán, quân vỡ, thế cô, đều bị thất trận chết. Mã Viện đuổi đánh tàn quân của hai bà là bọn Đô Dương, đến huyện Cư Phong thì hàng phục được họ. Mã Viện lập cột đồng để ghi đại giới tận cùng của nhà Hán. Khi Mã Viện về rồi, người trong nước thương nhớ Trưng Vương, lập đền thờ bà”. (Cương mục, Sđd, tr.109).

Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2012

THỬ VÉN MÀN HUYỀN THOẠI CHỬ ĐỒNG TỬ – TIÊN DUNG

KS. PHAN DUY KHA

Một nàng Mị Nương (tức công chúa) không thích sống gò bó trong cảnh cung vàng điện ngọc, lầu son gác tía ở kinh đô mà lại thích đi du ngoạn để tìm hiểu đất nước. Một chàng trai nghèo đến nỗi không có một mảnh khố che thân, hàng ngày phải ngâm mình dưới nước để đi ăn xin. Một mối nhân duyên kỳ lạ trên bờ lau bãi cát. Một chiếc nón úp lên đầu gậy, qua đêm bỗng biến thành một tòa lâu đài. Cũng tòa lâu đài ấy trong một đêm bỗng bay lên trời, để lại một cái đầm Nhất Dạ… Từ xưa, truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung (CĐT – TD ) vẫn lấp lánh trong tâm khảm chúng ta như một viên ngọc quý. với vẻ đẹp trinh nguyên buổi đầu lập quốc…

Cái gạch nối về địa lý
Địa chỉ của Tiên Dung là kinh đô Phong Châu (Vĩnh Phú). Đây là vùng trung du, hay nói theo danh từ của các nhà nghiên cứu địa – lịch sử là miền “trước núi”, là đỉnh của tam giác châu Bắc bộ, là điểm khởi đầu của cuộc thiên di thứ hai của dân tộc Việt.

LAN MAN CHUYỆN CỌP… TRUYỀN THUYẾT VỀ ÔNG BA MƯƠI VÀ TỤC THỜ THẦN HỔ


Trong tiếng Việt, từ vựng chỉ hổ thật phong phú. Ngoài hổ (Vào hang hổ; Thả hổ về rừng) còn có cọp (Cọp tha ma bắt), hùm (Vuốt râu hùm; Miệng hùm nọc rắn), dần (Tí, Sửu, Dần, Mão…), khái (Chưa qua truông đã trật lọ cho khái), kễnh (Mèo tha miếng thịt xôn xao, kễnh tha con lợn thì nào thấy chi!)… Hổ ba chân gọi là Ông Ba cụt, hổ ba móng gọi là Ông Ba ngoe, hổ thành tinh gọi là Ông Chằng hay Ông Kẹ.
Tại sao người ta phải gọi hổ bằng nhiều tên khác nhau như vậy? Chắc là vì sợ. Trong buổi đầu khai hoang mở đất, hổ là một trong những lực lượng thiên nhiên hoang dã mà lưu dân phải đối chọi hàng ngày. Hổ không những khoẻ mạnh, hung dữ mà còn tinh khôn, nhanh nhẹn vô cùng, cứ thoắt hiện thoắt biến, rất khó đối phó. Người xưa sợ hổ, tôn thờ hổ, ví hổ như thần, không dám gọi đích danh vì sợ “phạm húy”. Lúc nào cũng gọi hổ bằng “Ông” hoặc “Ngài” một cách kính cẩn: Ông Thầy, Ông Cả, Ông Dần…

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2011

Tổ ăn trộm và truyền nhân(*)

Một cảnh sát khu vực của quận Cờ Đỏ, TP Cần Thơ, từng được xem như khắc tinh của trộm tại địa bàn cho biết: “Đối với loại trộm “rày”, trộm “đột xuất”, trộm không đẳng cấp thì liệu pháp giáo dục có tác dụng, chứ loại trộm có thờ tổ nghiệp thì phải dùng chiêu mới trị được. Khổ nữa, cứ hễ được thả ra là chúng lại chứng nào tật ấy”. Ăn trộm có tổ nghiệp, nghe thật lạ đời, nhưng đó là chuyện có thật. Vậy chúng là ai?

Huyền thoại tổ nghiệp


Ông Ba (đã đổi tên - NV) ngụ tại quận Cờ Đỏ từng làm cán bộ công an thị trấn (thời Cần Thơ chưa được nâng cấp lên thành phố trực thuộc Trung ương) "xẩu mình, xẩu mẩy" nhiều lần vì "thành tích" ăn trộm. Cả chục lần "tù vặt" và tập trung cải tạo, tổng cộng không dưới 15 năm, tay đạo chích vẫn không bỏ nghề. Bị kiểm điểm trước dân, tay trộm chuyên nghiệp này... khóc: "Mong bà con thứ lỗi trước, vì ngày mai tui vẫn phải ăn trộm!". Mấy ngày sau một hàng xóm bị mất gà, tìm đến nhà thì thấy ông Ba đang chưng con gà luộc lên bàn thờ. Xì tiền ra trả cho nạn nhân, ông gãi đầu thú nhận: "Tui bồi thường tiền con gà. Tui hổng ăn trộm cúng, tổ hành tui".


Tổ nghề trộm là Bạch Mi Thần hay Bạch Mi Lão Thần, xuất xứ từ Trung Hoa. Bạch Mi Thần là tổ chung của giới trộm, cướp, ca kỹ, ăn mày. Bạch Mi có nhiều tên gọi và hiện thân khác nhau: Bạch Nhãn Thần, Quản Trọng, Câu Lan Nữ thần (tức Câu Lan Thổ địa), Lữ Đồng Tân, Thiết Bản Kiều Chân Nhân Tiên Sư, Ngũ Đại Tiên, Kim Tướng Quân, Nữ Hồ Tiên, Lưu Xích Kim Mẫu, Giáo Phường Đại Vương... Dù là tên gọi nào thì vị thần này cũng được phác họa thân hình to lớn, râu dài, lông mày trắng, mắt đỏ, mặc giáp, tay cầm đao, cưỡi ngựa oai phong.

Thứ Ba, 28 tháng 9, 2010

Một số ảnh Tháp Chàm Bình Định

Tặng các Bạn 1 số ảnh Tháp Chàm Bình Định để thư giãn chút.




Tháp Cánh Tiên - Ảnh : Đào Tiến Dật



Tháp Dương Long - Ảnh : Đào Tiến Dật



Tháp Phú Lộc - Ảnh : Đào Tiến Dật

Thứ Bảy, 25 tháng 9, 2010

LỜI NGUYỀN TRÊN CÁC KHO BÁU CHĂM -Phần 2

Tháng 4.1997 nghe tin có người rà được một khối lượng lớn vàng bạc của huyện Phù Cát (Bình Định) lập tức chúng tôi tìm hiểu và được Thế Hà, một đồng nghiệp ở Đài Truyền thanh huyện cho biết: “Ngày 5.4.1997 anh Trần Văn An - người ở xã Cát Tân khi rà sắt để tìm phế liệu tại thôn Hưng Mỹ thuộc xã Cát Hưng đã phát hiện một hũ bằng đồng chứa nhiều đổ cổ (chén đĩa bằng vàng và bạc)... reo mừng vì sự giàu có bất ngờ An đã ôm chiếc hũ chạy đi mất. Những người đang làm cỏ mía quanh đó vội ùa lại và hợp sức khoét rộng cái hố, đào sâu hơn và vận may đã mỉm cười với họ. Ở độ sâu hơn 1,5m nhóm người này đã tìm thấy một hũ lớn bằng sành bên trong chứa nhiều vật dụng bằng vàng như bình đựng, đĩa, tô chén, một số khác trông như đồ trang sức với khối lượng ước tính khoảng 3kg. Những người này đã dùng rựa để chia đều số vàng này ra. Những gì mà ông An và nhóm người kia khai quật được nếu tính theo giá trị của vàng ước được 400 triệu đồng. Nhận được tin Công an Phù Cát đã tìm cách thu hồi, nhưng kết quả chỉ được 1 hũ, 6 bình đựng, 9 đĩa và vẻn vẹn có 5 lạng vàng...”


Chum Gò Sành (cao 70cm)
Phù điêu tượng thần Brahma

ự kiện này đã gieo vào những người chuyên rà tìm phế liệu giấc mộng tìm thấy kho báu của người Hời. Nhưng cứ như một trò cút bắt bí hiểm, hàng trăm nhóm với nhiều máy dò tìm kim loại chia nhau rà nát những cánh rừng, đồng ruộng, ven sông... nhưng “vàng Hời” vẫn im lặng không chịu lên tiếng. Khi nhiều nhóm chán nản bỏ cuộc thì cuối tháng 10.1997 ông Lê Văn An (trú ở thôn Phú Thọ, xã Tây Phú, huyện Tây Sơn) cùng một người đàn ông tên Liêm gốc gác ở Thanh Hóa đã gây chấn động khi khai quật được một số lượng lớn cổ vật bằng vàng.

Thứ Sáu, 24 tháng 9, 2010

LỜI NGUYỀN TRÊN CÁC KHO BÁU CHĂM -Phần 1

Những tượng cổ, kho vàng, báu vật của dân tộc Chăm luôn luôn là mơ ước của những người săn lùng cổ vật. Cơn sốt săn tìm báu vật, vàng Chăm đã bắt đầu từ mấy thế kỷ trước, đặc biệt là trên vùng kinh đô Vijaya (tức Bình Định ngày nay) và hạ nhiệt từ rất lâu, nhưng dứt hẳn thì chưa bao giờ. Chúng âm ỉ mãi cho đến nay với những huyền thoại hư ảo nhưng hấp dẫn.

Theo nhiều tư liệu khoa học, lịch sử thì người Pháp chính là những người đầu tiên phát hiện và đánh giá tầm vóc của văn hóa Chăm. Cũng chính họ là những người đầu tiên săn tìm, khai quật, vét cạn những cổ vật Chăm quý giá.

Năm 1886 gần 80 tấn đá chạm, phù điêu, tượng cổ các loại... đã được các chuyên gia Pháp gom lại từ Tháp Bánh Ít (tức Tháp Bạc theo cách gọi của người Pháp) để chuyển về Bảo tàng Lyon bằng tàu Mekong dưới sự giám sát của Tiến sĩ Maurice.

Trên đường vận chuyển, đến Hồng Hải, không rõ vì lý do gì con tàu này bị đắm. Những thổ dân Somalia nghĩ rằng đây là con tàu chở vàng bạc châu báu nhưng họ đã thất vọng khi những chiếc hòm vớt được chỉ có đá và đá... Sau này người ta không sao tìm lại được những thùng cổ vậy ấy và một bí mật bao trùm lên con tàu Mekong bởi hồ sơ con tàu, danh sách hàng hóa cũng bị thất lạc. [ít lâu sau khi phóng sự này đăng trên Thế giới Mới, có người cung cấp cho mình thông tin về con tàu này, đổi lại là mình copy dù người ta hai cuốn sách ở Thư viện Bình Định. Sở dĩ có việc này là vì những cuốn sách được bảo vệ rất kỹ. Mình "phô" được là vì có quan hệ riêng, và trước đó có tặng cho Thư viện phó bản môt cuốn sách mà thư viện tìm đã lâu mà không thấy].
Phù điêu tượng nũ thần Mahisamandhi - niên đại thế kỷ XII. Hiện vật này đã được tỉnh Bình Định đề nghị công nhận là bảo vật quốc gia. Năm 2005 nó đã được Nhà nước Việt Nam cho Bảo tàng Dân tộc học Vương quốc Bỉ mượn để trưng bày. Riêng chi phí để mua bảo hiểm của nó không thông thôi đã là 50.000 USD.

Thứ Năm, 23 tháng 9, 2010

Muôn Ma Hời sờ soạn dắt nhau đi


Miền trung nơi mà xưa kia là thủ đô của người Chăm pa rải dài từ Đà Nẵng cho đến Bình thuận. Chả biết vô tình hay hữu ý mà bây giờ dự báo thời tiết trên VTV luôn gộp lại 1 dải từ Đà Nẵng đến Bình Thuận như vố tình nhắc lại 1 thời vang bóng của 1 vương quốc mà vết tích để lại không phải là nhỏ. Những tháp Chàm lững lững chỉ vào trời xanh tồn tại qua bao cuộc bể dâu của đât nước và ghi dấu ấn vào nền văn hóa nhận loại qua chứng chỉ UNESCO như là bằng chứng công nhận 1 nền văn minh rực rỡ của Châu Á bị biến mất
Huyền lực của 1 nền văn hóa bị biến mất vẫn tồn tại trong dân gian qua những truyền thuyết, huyền thoại và thậm chí ghi dấu ấn phi vật thể lên rất nhiều thứ theo thời gian. Ví như bút danh Chế Lan Viên của nhà thơ Phan Ngọc Hoan được hình thành qua những cảm nhận hoài niệm về 1 nền văn hóa Chăm Pa tại Bình Định. Có lẽ Chế Lan Viên đã ngoại cảm được huyền lực Chăm Pa đến nỗi ông lấy bút danh họ Chế ( Tưởng nhớ về  Chế Bồng Nga, hay Che Bonguar, (tên thật là Po Binasor hay Po Bhinethuor) là niên hiệu của vị vua thuộc vương triều thứ 12 của nhà nước Chiêm Thành. Trong thời kỳ ông cầm quyền, nhà nước Chiêm Thành rất hùng mạnh, từng đem quân nhiều lần xâm phạm Đại Việt của nhà Trần. Không rõ ngày tháng năm sinh cũng như ngày tháng mất của ông, chỉ biết rằng ông bị giết năm 1390 khi đang đem quân tấn công Thăng Long lần thứ 4.) và viết những vần thơ ngoại cảm :
 
Đây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn,
Muôn Ma Hời sờ soạn dắt nhau đi.
Những rừng thẳm bóng chiều lan hỗn độn,
Lừng hương đưa, rộn rã tiếng từ quy.

 
Tôi vốn dĩ là người miền trung, sống cạnh những tháp Chàm. Tôi cũng bị ám ảnh rất nhiều từ câu thơ
Muôn ma Hời sờ soạn dắt nhau đi
Vậy ma Hời là ma gì, xin trích tư liệu nghiên cứu của Nguyễn Trọng:
Ma Hời là hồn ma của ai?
Trước khi tìm hiểu về Ma Hời mà rất ít sử liệu đề cập tới, chúng tôi muốn nói về từ ngữ Hời bởi đâu mà ra. Theo ông Nguyễn văn Huy, một nhà nghiên cứu công phu về Chiêm Thành thì từ ngữ Hời xuất phát từ ngôn ngữ Chàm: “Danh xưng Hời rất ít được nhắc đến, người ta chỉ thấy chữ này xuất hiện một vài lần trong tập thơ Điêu Tàn năm 1937, của Chế Lan Viên. Hời là cách đọc trại đi từ chữ Hroi (H’roi hay Ho Roi), tên của một bộ lạc sơn cước sinh sống trên vùng rừng núi phía Tây các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ( Chế Lan Viên sinh quán tại Bình Định). Người Hời thực ra cũng là người Champa, vì trước kia là thần dân của vương quốc Chiêm Thành di cư đi tận lên Tây Nguyên tránh loạn rồi định cư luôn ở đấy, họ vẫn còn giữ ngôn ngữ và một số phong tục tập quán của người Chàm đồng bằng trong những sinh hoạt thường nhật”.
Trong cuốn “Linh Địa Trà Kiệu”, ông Lê Công Đắc, sinh quán tại đây, đã viết nhiều về Ma Hời và Thành Hời. Ma Hời ở đây, như đã nói ở trên, là Ma Chàm. Còn Thành Hời tức là thành Trà Kiệu, tiếng Chàm là Sinhapura, đế đô của vương quốc Chàm trong nhiều thế kỷ, cho đến giữa thế kỷ VIII thì dời về Ninh Thuận, rồi Quảng Nam, và sau cùng là Trà Bàn Vijaya ở Bình Định. Trà Bàn là nói toàn vùng tỉnh Bình Định ngày nay, còn Đồ Bàn là kinh đô, nói theo tài liệu của một vài nhà khảo cổ ngoại quốc.
 
Năm 1471, kinh đô Đồ Bàn bị thất bại và tàn phá khi vua Lê Thánh Tôn đem quân chinh phạt Chiêm Thành, theo bài của ông Nguyễn Đức Hiệp ngày 4/12/04 phổ biến trên Internet. Theo ông này thì nhà vua đã dùng chính sách phá huỷ văn hóa để tiêu diệt dân tộc Chiêm Thành và năng lực tinh thần nước Chàm: đền đài, cung điện, tháp, bia ký, tư liệu phản ảnh đặc trưng của văn hoá Chàm đều bị phá huỷ, quân nhân và nghệ nhân bị tàn sát hay bị bắt đi. Có tài liệu khác lại nói rằng vua Lê Thánh Tông đã đem một đoàn thuyền và lục quân hùng mạnh đánh Vijaya. Sau khi chiếm được, nhà vua Lê Thánh Tông ra lệnh phá huỷ thành Đồ Bàn, giết hơn bốn chục ngàn quân Chàm và bắt đưa về Thăng Long hơn ba chục ngàn tù binh, trong đó có nhiều cung nữ biết ca hát và nhảy múa. Thời điểm này chưa phải là ngày vương quốc Chiêm Thành bị tiêu diệt hoàn toàn, biến mất trên lãnh thổ duyên hải miền Trung. Những cuộc nổi dậy và đánh phá lẻ tẻ của vương quốc Chàm bị thu hẹp còn kéo dài cho mãi tới năm 1692 thì Chúa Nguyễn đã đại thắng, đổi tên nước Chiêm Thành là Trấn Thuận Thành, gồm có Phan Rang, Phố Hải và Phan Rí. Trấn ngày xưa rộng như một tỉnh bây giờ.
...