Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

Đông Tây gặp nhau về lịch số học



Người ta không lẽ sống u minh trong cõi thời gian không cùng không tận này mà chẳng hay rằng
mình đã trường cửu được bao lâu. Vũ trụ có hai cái không cùng là Không gian và Thời
gian (l'Espace et le Temps). Đã biết dùng thước để đo Không gian, tất phải nghĩ ra cách gì để đo
Thời gian. Bởi thế, bao nhiêu thế hệ, học giả nối nhau tìm cách đặt lịch (calendrier) nhưng lấy gì
làm bản vị(unité)? Đó là then chốt của phép đo thời gian; biết được điều ấy tức là tìm ra cách làm
lịch.
Xét nghiệm những hiện tượng của mặt trăng, mặt trời và cõi đất, đều khiến người xưa phải để ý
trước nhứt là sự thay đổi của bốn mùa luân lưu trong một khoảng thời gian gần như nhứt định.

Ảnh minh họa : Internet
Sự thay đổi của bốn mùa có ảnh hưởng trực tiếp ngay đến bản thân, nên dù người có lãng ý đến
đâu, người tối dạ đến đâu cũng nhận thấy.

Tiếp theo những ngày rét thấu xương vừa hết, một bầu trời đầm ấm hình như thấm nhuần vào
thân thể ta một khí vị rất êm đềm nhẹ nhàng dễ chịu.

Rồi ngày qua thấm thoát, lại đến độ nóng thiêu người... Chỉ ít lâu, mặt trời bớt nóng, người ta đã
trút được cái khí nồng nực nặng nề mà sống thư thái những ngày nắng dịu khí buồn và những
đêm gió mát trăng trong. Những cái vẻ buồn ngày một tăng thêm mà thành ra hãm cái hơi mát
ngày một dịu lần mà thành ra lạnh.

Người ta bước sang mùa rét được ít lâu, rồi lại đến ngày tươi đầm ấm.

Bốn mùa cứ thay đổi như thế không ngừng, ảnh hưởng trực tiếp ngay đến thân thể con người,
khiến người xưa để ý đến trước nhứt và nhận ra sự luân chuyển rất đều đặn của thời tiết hình
như đã hạn định trong một khoảng bao nhiêu ngày đó.

Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2013

Những trao đổi xung quanh loạt bài "Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động"

Trong và sau khi Thanh Niên đăng loạt bài Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động, đã có nhiều nhà nghiên cứu và bạn đọc gửi thư, viết bài hưởng ứng và tranh biện. Một số báo như Nhân Dân, Thông tấn xã Việt Nam, Thể Thao & Văn hóa, Nhà báo & Công luận... cũng đã đăng bài trao đổi. Để rộng đường dư luận và trao đổi học thuật, chúng tôi sẽ lần lượt đăng một số bài viết thể hiện các ý kiến khác nhau.

Chúng tôi mong muốn những phát hiện mới về lịch sử cũng như những ý kiến tranh luận sẽ sớm được các cơ quan khoa học về lịch sử thẩm định, đánh giá, kết luận, nhằm góp phần làm sáng rõ những trang sử vẻ vang của dân tộc, nhất là vào các thời kỳ nước ta không có hoặc có rất ít sử liệu. Số báo này xin giới thiệu nguyên văn bài viết của ông Trương Thái Du và bài viết của nhà giáo Hà Văn Thịnh.

Đôi lời với những phát hiện lịch sử chấn động

Từ ngày 27.2.2008 đến 6.3.2008, Báo Thanh Niên liên tiếp đăng loạt bài Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động của tác giả Hoàng Hải Vân. Vì yêu thích cổ sử và ít nhiều đã có những biên khảo nhỏ ở góc độ nghiệp dư, tôi đặc biệt chú ý và theo dõi rất kỹ vấn đề ông Thát theo đuổi. Từ gợi ý của Thanh Niên, tôi đã vừa đọc báo, vừa tìm hiểu quyển Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta của tác giả Lê Mạnh Thát. XNB Tổng hợp TP.HCM - 2006 (LĐTK).

Một số điểm nổi bật

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động (tiếp theo)

Lê Thánh Tôn nói: Một tấc đất của tổ tiên cũng không để mất! Kèm theo câu nói đó là việc dựng lại Ngọc phả Hùng Vương... Tiếp tục hành trình về thời đại Hùng Vương

Cho đến nay, với nhiều nỗ lực nghiên cứu, các nhà sử học nước ta đã phát hiện rất nhiều tài liệu quan trọng về nền văn minh của nước ta thời đại Hùng Vương, đặc biệt là đã thu thập, giám định, phân tích một khối lượng đồ sộ các di chỉ khảo cổ học từ văn hóa Phùng Nguyên, văn hóa Đồng Đậu, văn hóa Gò Mun đến văn hóa Đông Sơn. Những nỗ lực đó cho phép phác thảo bước đầu diện mạo của thời đại khởi nguồn của dân tộc, đủ để bác bỏ những mưu đồ phủ nhận hoặc hạ thấp công lao dựng nước của tổ tiên. Ghi nhớ lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Các vua Hùng có công dựng nước...", Nhà nước ta đã chính thức quyết định lấy ngày Giỗ tổ Hùng Vương làm Quốc Giỗ.

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động

Với những khám phá của ông, chúng ta có đủ tư liệu để dựng lại lịch sử vẻ vang của dân tộc ta từ hai ngàn năm trước...
Là một nhà tu hành xuất gia từ bé, nhưng Thượng tọa Thích Trí Siêu (tức giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát) vẫn để tóc. Thú thật là quá tò mò về chuyện đó, tôi mạnh dạn hỏi ông vì sao như vậy. Ông cười phá lên, chỉ vào bức ảnh Đức Bồ đề Đạt Ma: "Ông ấy có cạo đầu đâu! Tôi còn thua ông ấy một bộ râu". Tôi ngộ ra rất nhiều điều trong tiếng cười của ông.

Tôi đã gặp ông nhiều lần, trước hết là để viết bài về Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc (VESAK) được tổ chức tại Việt Nam sắp tới mà ông là Chủ tịch Ủy ban quốc tế (IOC) đồng thời là Tổng thư ký Ủy ban điều phối quốc gia Đại lễ này. Tôi cũng đã đọc nhiều sách ông viết. Nhưng với trình độ nông cạn của tôi, hiểu về con người cùng sở học mênh mông vi diệu của vị cao tăng này thật không dễ chút nào.

Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013

Những thông điệp có khả năng làm sáng tỏ nghi án ngàn năm

Người Trung Hoa luôn tự hào và mạnh miệng tuyên bố rằng chính họ là người sáng tạo ra Hà Đồ, Kinh Dịch… Bất chấp không ít ý kiến, công trình nghiên cứu của nhiều học giả đặt nghi vấn về nguồn gốc thật của nó.
Một trong những nhà nghiên cứu luôn bày tỏ sự nghi ngờ đó chính là tác giả Viên Như. Ông đã từng có hàng loạt khám phá, phân tích và chứng minh lý thú xoay quanh các “nghi án ngàn năm” về chuyện các triều đình Trung Hoa song song với việc xâm lược Việt Nam bằng quân sự còn chú ý thực hiện hàng loạt kế hoạch tiêu diệt văn hóa Việt với nhiều thủ đoạn không thể tưởng.
Một trong các thủ đoạn thâm độc đó là xuyên tạc và bóp méo nhiều tác phẩm quan trọng của các danh nhân người Việt có tư tưởng và công trạng lớn lao trong việc dựng nước và giữ nước trước họa xâm lăng từ phương Bắc, được nhân tôn kính. Đồng thời bịa ra nhiều câu chuyện hư hư thật thật xung quanh cuộc đời của các danh nhân người Việt để bôi đen nhân cách của họ.
Tác giả Viên Như vừa cho công bố một loạt bài nghiên cứu chứng minh Hà Đồ, Kinh Dịch hoàn toàn là thành quả trí tuệ của người Việt cổ, tổ tiên của người Việt Nam ngày nay. “Nói có sách, mách có chứng”, theo tác giả Viên Như toàn bộ các chứng cứ đều được ghi rõ trên mặt trống đồng cổ của người Việt.
Đây có lẽ là một nghi án văn hóa lớn nhất và dài nhất của nhân loại. Tác giả Viên Như tin tưởng rằng với những phát hiện mới và hệ thống chứng cứ của ông về những gì đã ghi lại trên mặt các trống đồng cổ của người Việt, cho phép ông khẳng định: Hà Đồ và Kinh Dịch 100% là của người Việt Nam.

Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

VỀ TẤM BIA THỜI TÙY (601) MỚI PHÁT HIỆN Ở CHÙA GIÀN – HUỆ TRẠCH TỰ

Nguyễn Quang Hà[1]
Chùa xã Trí Quả (Huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) tên chữ là “Huệ Trạch tự”, hay còn có tên Nôm là chùa Giàn - Một trong Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Điện, Pháp Lôi, Pháp Vũ) trong tín ngưỡng thờ tự ở vùng Dâu. Hiện nay  các vị trong làng kể lại về lai lịch của chùa: Vào thời Trần, con trai của Đức vua Trần Hưng Đạo là Trần Hồng khi đánh giặc Mông Nguyên được Phật độ cho nên đã đánh thắng giặc do đó ban cho tên chùa là “Huệ Trạch tự) (惠澤寺). Chùa trước đây có gác chuông cổ nhưng đã bị phá đi để làm cầu. Trong chùa còn một chiếc chuông đồng niên đại thời Lê, trên 4 núm có khắc “Huệ Trạch tự chung” (惠澤寺鍾). Ngoài sân, trước tòa Tam bảo hiện còn tấm bia 4 mặt, mặt chính trên trán bia ghi: “Huệ Trạch tự”(惠澤寺), mặt thứ tư phần niên đại ghi: Chính Hòa nhị thập niên (1700) nội dung về việc cúng tiền xây gác chuông và cúng ruộng vào chùa. Ở gian phải của tòa Tam bảo còn một cây hương, trên đó có khắc tên người cung tiến. Chùa còn giữ được hai sắc phong. Đạo sắc thứ nhất phần niên đại ghi 25 tháng 7 năm Khải Định 9 (1924). Nội dung ban tặng: (…)“Diệu Cảm Nhiên Phù, Chương Hiển Đôn Ngưng, Dực Bảo Trung Hưng Thành Hoàng Linh Ứng Tôn Thần”(耀感然孚章顯敦凝翊保中興城皇靈應尊神). Sắc thứ 2 cũng có cùng ngày tháng năm với Đạo sắc trên với đối tượng được ban là: (…)

Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2012

THỬ VÉN MÀN HUYỀN THOẠI CHỬ ĐỒNG TỬ – TIÊN DUNG

KS. PHAN DUY KHA

Một nàng Mị Nương (tức công chúa) không thích sống gò bó trong cảnh cung vàng điện ngọc, lầu son gác tía ở kinh đô mà lại thích đi du ngoạn để tìm hiểu đất nước. Một chàng trai nghèo đến nỗi không có một mảnh khố che thân, hàng ngày phải ngâm mình dưới nước để đi ăn xin. Một mối nhân duyên kỳ lạ trên bờ lau bãi cát. Một chiếc nón úp lên đầu gậy, qua đêm bỗng biến thành một tòa lâu đài. Cũng tòa lâu đài ấy trong một đêm bỗng bay lên trời, để lại một cái đầm Nhất Dạ… Từ xưa, truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung (CĐT – TD ) vẫn lấp lánh trong tâm khảm chúng ta như một viên ngọc quý. với vẻ đẹp trinh nguyên buổi đầu lập quốc…

Cái gạch nối về địa lý
Địa chỉ của Tiên Dung là kinh đô Phong Châu (Vĩnh Phú). Đây là vùng trung du, hay nói theo danh từ của các nhà nghiên cứu địa – lịch sử là miền “trước núi”, là đỉnh của tam giác châu Bắc bộ, là điểm khởi đầu của cuộc thiên di thứ hai của dân tộc Việt.

Thứ Ba, 30 tháng 11, 2010

Mạc Hiến Tông ( ? – 1546)

Mạc Hiến Tông ( ? – 1546) là vua thứ ba nhà Mạc trong lịch sử Việt Nam, ở ngôi từ năm 1540 đến 1546. Ông tên thật là Mạc Phúc Hải, còn có tên là Đức Nguyên, là con trưởng của Mạc Thái Tông, Người xã Cao Đôi, huyện Bình Hà (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách), tỉnh Hải Dương, Việt Nam. Mạc Phúc Hải được ông nội là Thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung lập lên ngôi tháng 2 năm Canh tý (1540) sau khi vua cha mất. Ông lấy niên hiệu là Quang Hòa.
Cuối đời Mạc Thái Tông, quan hệ với nhà Minh trở nên căng thẳng. Tình hình ở phía Nam cũng nguy cấp: quân đội Lê trung hưng sau 7 năm chiêu binh luyện mã đã đủ sức về đánh chiếm Nghệ An và hai năm sau năm Quí Mão (1543) đã kiểm soát được cả Tây Đô (Thanh Hoá). Thái Tổ Mạc Đăng Dung phải trở lại Đông Kinh đưa cháu nội là Mạc Phúc Hải lên nối ngôi năm Tân Sửu (1541).
Lúc này, ở Trung Quốc, Minh Thế Tông đem việc Nam chinh ra luận bàn, rất nhiều quan lại nhà Minh dâng sớ can vua mềm dẻo mà giải quyết việc biên giới phía Nam, rút bài học thất bại của các đời vua trước. Họ bộ thị lang Đường Trụ dâng sớ trình bày 7 điều không nên đánh An Nam, cho rằng các thời vua trước chưa bao giờ thắng lợi ở An Nam kể từ Mã Viện đến Minh Thái Tông... Thị lang Phan Trân lại nói: "Mạc Đăng Dung cướp ngôi Lê cũng như Lê cướp ngôi Trần vậy; nếu Đăng Dung chịu dâng biểu nộp cống thì coi như được".
Vua Minh Thế Tông và lũ triều thần qua nhiều tháng luận bàn đã quyết định chiếm An Nam làm quận huyện nối chí vua Minh Thánh Tổ. Vua Minh cử Cừu Loan làm đô đốc, Mao Bá Ôn làm tham tán quân vụ phụ trách việc đánh dẹp, Hộ bộ thị lang Hồ Liễn và Cao Công Thiều đi đốc thúc quân lương ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây.

Thứ Bảy, 20 tháng 11, 2010

Mạc Thái Tông (? – 1540)

Mạc Thái Tông (? – 1540) là vị vua thứ hai của nhà Mạc, ở ngôi từ năm 1530 đến 1540. Ông tên thật là Mạc Đăng Doanh, là người xã Cao Đôi, huyện Bình Hà (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách), tỉnh Hải Dương, Việt Nam. Mạc Đăng Doanh là con trưởng của Thái Tổ Mạc Đăng Dung, không rõ năm sinh.
Thời Lê Chiêu Tông(1506 –1526), Mạc Đăng Dung nắm quyền, ông được phong làm Dục Mỹ hầu, giữ điện Kim Quang. Khi Mạc Thái Tổ lên ngôi ngày 15 tháng 6 âm lịch năm 1527, ông được lập làm Thái tử.
Ngày 1 tháng 1, tết nguyên đán năm Canh Dần (1530), Mạc Thái Tổ truyền ngôi cho ông và lên làm Thái thượng hoàng, tôn bà nội là Đặng Thị Hiếu làm Thái hoàng thái hậu.
Tháng 8 năm 1530, sau khi lên ngôi, Mạc Thái Tông hội binh ở huyện Hoằng Hoá đánh Lê Ý, sai Mạc Quốc Trinh lĩnh thuỷ quân đi trước. Ý đón đánh được cả hai đạo quân Mạc. Mạc Thái Tông phải án binh cố thủ. Tháng 11 năm đó, Thái Tông sai Quốc Trinh ở lại cầm quân còn mình rút về kinh thành. Lê Ý thắng liền mấy trận có ý chủ quan, bị Quốc Trinh bắt được giải về kinh giết chết.
Đầu năm 1531, Nguyễn Kim khởi binh chống Mạc ở Ai Lao, mang quan về đánh Thanh Hoá. Thái Tông sai Tây quốc công Nguyễn Kính vào đánh. Nguyễn Kim đánh thắng được Nguyễn Kính hai trận, chia quân giữ các huyện. Tháng 9, trời đổ mưa nhiều, quân Mạc thừa cơ dùng thuỷ quân tiến đánh, quân Nguyễn Kim rối loạn phải rút về Ai Lao.

Thứ Ba, 16 tháng 11, 2010

Hồ Quí Ly và Mạc Đăng Dung

Trong một thời gian cách nhau hơn một thế kỷ, nước ta đã có hai trường hợp cướp ngôi. Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần năm 1400, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê năm 1527. Hai trường hợp khởi đầu trong một kịch bản tương đối giống nhau: một dòng họ hư đốn làm cho đất nước suy đồi, rồi một đại thần phế bỏ vua, tự lập lên ngôi. Trong cả hai trường hợp, vị vua cũ bị giết hại. Trong cả hai trường hợp, các triều thần của dòng vua cũ được mời ở lại giúp vua mới. Nhưng kết quả đã khác nhau, và sự phán xét của lịch sử đã rất lạ lùng.
Hồ Quí Ly là một đại thần bất lực, bên trong làm cho đất nước suy đồi, bên ngoài thì không giữ được bờ cõi. Quân Chiêm Thành ra vào cướp phá như chỗ không người, kinh đô mấy lần bị rơi vào tay quân địch, Hồ Quí Ly chỉ biết dắt vua bỏ chạy. Chẳng có công lao gì với đất nước nhưng Hồ Quí Ly cũng đã trấn áp được vua Trần rồi cướp ngôi. Hồ Quí Ly cũng tỏ ra đặc biệt bội bạc với đất nước Việt nam đã cho ông ta tất cả, ông ta vẫn tự coi là người Tàu dù tổ tiên đã lập nghiệp tại Việt nam từ bốn đời. Cướp được ngôi vua, Hồ Quí Ly, trước đó mang họ Lê theo bố nuôi, đã lấy lại họ Hồ theo họ cũ của mình và đổi tên nước ta từ Đại Việt thành Đại Ngu theo tên cố quốc của mình, rồi thi hành một chính sách cướp bóc ra mặt đối với dân chúng. Nguyên Trãi kể tội Hồ Quí Ly: Vừa qua nhà Hồ vì chính sách phiền hà làm cho lòng người oán giận. Kết quả là Hồ Quí Ly làm mất nước, nước ta lại rơi vào vòng Bắc thuộc sau gần năm trăm năm độc lập. Tội của Hồ Quí Ly đối với Việt nam thực là lớn. Thế nhưng xem ra Hồ Quí Ly chỉ bị lên án vừa phải thôi, không những thế còn được khen là con người lỗi lạc, một trí tuệ siêu việt và sáng tạo.

Thứ Sáu, 12 tháng 11, 2010

Mạc Đăng Dung & Vương triều nhà Mạc...

Trong các bộ chính sử của nhà nước quân chủ Việt Nam, kể từ “Đại Việt sử ký toàn thư” đời Lê - Trịnh đến “Việt sử thông giám cương mục” đời Nguyễn, cũng như trong quan niệm chính thống của các sử gia đương thời, có ba triều đại bị đặt ra ngoài lề của dòng chính sử, bị coi là “nhuận triều” hay “nguỵ triều” chỉ vì lẽ “cướp ngôi vua, giết vua thì danh không chính, ngôn không thuận, vì lẽ nghịch mà lấy được nước, nên không chép là chính thống”. Đó là các triều: nhuận Hồ, nguỵ Mạc và nguỵ Tây Sơn.

Thành nhà Mạc ở Lạng Sơn
Với quan điểm của sử học hiện đại, trong nhiều năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, chuyên khảo, với cách nhìn mới đã làm rõ được các mặt tiến bộ và hạn chế của các triều đại đó. Nhờ vậy đã có nhiều ý kiến tôn vinh nhà Tây Sơn như là một cuộc cách mạng, một đỉnh cao vinh quang của truyền thống chiến thắng giặc ngoại xâm, trong đó Quang Trung - Nguyễn Huệ được coi là biểu tượng của người anh hùng dân tộc. Hay như nhà Hồ, tuy ngắn ngủi nhưng đã được coi là một vương triều chứa đựng nhiều yếu tố cải cách tiến bộ nhằm giải quyết khủng hoảng trầm trọng làm tàn lụi nhà Trần. Mặc dù đã bị thất bại trước cuộc xâm lược của giặc Minh, nhưng nhà Hồ và Hồ Quý Ly vẫn được nhắc đến như một nhà cải cách, đáng được tiếp tục nghiên cứu.
Đối với nhà Mạc và Mạc Đăng Dung, dưới ngòi bút của các sử gia phong kiến, tư sản thì thật tồi tệ. Các bộ chính sử của các triều đại sau vẫn miệt thị, lên án Mạc Đăng Dung đủ điều, nhất là tội chuyên quyền, cướp ngôi vua và đầu hàng giặc Minh. Triều Mạc được xếp vào nguỵ triều. Lê Quý Đôn, trong một vài tác phẩm của mình, hoặc xem nhà Mạc không tồn tại (Kiến Văn tiểu lục), hoặc xếp vào hàng nghịch thần (Đại Việt thông sử). Bộ sách mang tính chất Bách khoa của Phan Huy Chú - Lịch triều Hiến chương loại chí - sau này cũng chỉ bàn tới nhà Mạc như một dị biệt... Quan điểm ấy còn kéo dài hơn nữa trong cả thời cận và hiện đại qua các tác phẩm của Trần Trọng Kim (Việt Nam sử lược), Phan Xuân Hoà (Lịch sử Việt Nam)... và cho tới cả bộ Lịch sử Việt Nam tập I do Uỷ ban KHXH Việt Nam chủ trì biên soạn xuất bản lần đầu năm 1971, tái bản năm 1976 vẫn coi nhà Mạc là một tập đoàn quân phiệt vì lợi ích của dòng họ mà cướp quyền, đoạt ngôi... và họ Mạc tự chuốc lấy sự phẫn nộ của nhân dân...

Lưu Văn Khuê với tiểu thuyết lịch sử “Mạc Đăng Dung”

Tác giả Lưu Văn Khuê - hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng - đã có gần 30 năm cầm bút sáng tác truyện cho thiếu nhi, với những cuốn truyện vừa Hành tinh màu da cam (NXB Kim Đồng - 1991) - tác phẩm đoạt Giải thưởng của Trung ương Đoàn và Hội Nhà văn Việt Nam, Có một mùa bóng đá (NXB Kim Đồng - 1990) mới đây được Hãng phim Giải Phóng dựng thành phim U14 đội bóng trong mơ. Lưu Văn Khuê còn có một loạt tác phẩm về đề tài lịch sử và đề tài cách mạng. Mới đây, anh được NXB Hải Phòng cho ra mắt bạn đọc liền 2 tiểu thuyết. Tiểu thuyết Một thời vệ quốcviết về những năm tháng của đất nước trong thời kì "ngàn cân treo sợi tóc". Tác giả dựa trên tư liệu lịch sử về những sự kiện diễn ra ở Hải Phòng từ sau Cách mạng tháng Tám đến ngày nổ ra “Sự kiện Hải Phòng”, ngày đánh dầu cho thành phố Cảng mở đầu ở Miền Bắc bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp. Còn tiểu thuyết lịch sử Mạc Đăng Dung viết về thân thế và sự nghiệp một danh tướng đã lập lên vương triều Mạc cùng những thăng trần của đất nước ta trong thế kỉ XVI.
Trong nền văn học Việt Nam, mảng thể loại tiểu thuyết lịch sử không mạnh. Suốt cả thời kỳ phong kiến cho đến những năm Pháp thuộc, chỉ thấy nhắc đến những tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái và Trùng Quang tâm sửcủa Phan Bội Châu. Sau này, trong nền văn học Việt Nam hiện đại, vẫn rất ít người viết tiểu thuyết lịch sử, vì nó ít được chú ý, nên cũng rất ít tác phẩm có thể để lại dư âm lâu dài. Trong tình hình đó, có được một cuốn tiểu thuyết lịch sử như tác phẩm Mạc Đăng Dung (NXB Hải Phòng - 2007) của nhà văn Lưu Văn Khuê thì thật là đáng quý và đáng đọc.

Để dễ tiếp cận với nội dung cuốn tiểu thuyết Mạc Đăng Dung của Lưu Văn Khuê cũng như những cuốn tiểu thuyết lịch sử của các tác giả khác, xin trước hết được lạm bàn đôi chút về thể loại văn học lịch sử này. Trên thế giới tồn tại nhiều trường phái, cũng là do có những quan niệm khác nhau về tiểu thuyết lịch sử, về cách viết truyện lịch sử. Tuy nhiên, vẫn có thể qui vào 2 quan niệm bao trùm. Thứ nhất là tôn trọng sự kiện lịch sử, từ đó hư cấu. Thứ hai là không coi trọng sự thật lịch sử, coi lịch sử chỉ là cái cớ. Có thể xếp hầu hết các tiểu thuyết lịch sử cổ điển của Trung Quốc vào trường phái thứ nhất, dẫu tỉ lệ sự thật lịch sử và hư cấu đậm nhạt khác nhau, nhưng phần sự thật không bao giờ quá ít. Tiểu thuyết lịch sử Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung theo tỉ lệ “bảy thực ba hư” như chính tác giả tuyên bố. Còn tác phẩm Thuỷ hử của Ngô Thừa Ân thì phần hư cấu nhiều hơn, có lẽ là “ba thực bảy hư”. Đấy cũng là trường hợp tiểu thuyết Pie Đại đế của nhà văn Nga Alecxei Tolstoi. Có người coi cuốn Pie Đại đế thuộc loại tiểu thuyết tôn trọng sự thật lịch sử, còn tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa thì thuộc loại tiểu thuyết viết theo nhãn quan chính trị chính thống của thời đại mà tác giả đang sống. ở đây, cần nói một cách sòng phẳng là, dù có tôn trọng sự kiện lịch sử đến mấy, nhà văn nếu không bị chi phối bởi nhãn quan chính trị chính thống của thời đại thì cũng theo quan điểm của chính mình, nên không thể nói những nhà tiểu thuyết theo trường phái này là hoàn toàn tôn trọng lịch sử. Bởi chính các nhà viết sử – những người cần tôn trọng lịch sử hơn ai hết cũng vậy và nhiều khi còn bị phụ thuộc vào những gì có khi chính họ không muốn. Nói về thể loại văn học lịch sử, ở Trung Quốc và cả ở nước ta ngày trước, còn có các thể ký, truyện, chí. Đọc những cuốn Sử ký của Tư Mã Thiên hay cuốn Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, sẽ thấy nhiều chỗ có sức hấp dẫn của tác phẩm văn học và có cảm tưởng như được đọc những trang tiểu thuyết. Điển hình cho trường phái tiểu thuyết lịch sử thứ hai đã nói ở trên, là nhà văn Pháp Alexandre Dumas (cha) với những tác phẩm Ba chàng ngự lâm pháo thủ, Hoàng hậu Margo... Dumas từng nói: "Lịch sử là cái đinh, ở đó tôi treo móc những bức tranh của tôi". “Đi quá” hơn nữa là lối viết dựa vào các sự kiện lịch sử, nhưng làm nó biến dạng hẳn đi, đó là các tiểu thuyết dã sử, tiểu thuyết kiếm hiệp,... Với quan điểm như Dumas và các nhà viết truyện kiếm hiệp, có lẽ không nên xếp tác phẩm của họ vào loại tiểu thuyết lịch sử, vì cái gọi là lịch sử trong đó không thể tin cậy, với những người ít hiểu biết, thứ “lịch sử” đó thậm chí còn làm nguy hại tới nhận thức của họ. Như vậy, chỉ nên coi những truyện thuộc loại coi trọng sự thật lịch sử là tiểu thuyết lịch sử đích thực, bởi ở đó, nhà văn tái tạo lịch sử và chân dung nhân vật vốn đã định hình một cách trung thực theo quan điểm lịch sử và cái nhìn tiên tiến, sự hư cấu nghệ thuật không thể đi quá giới hạn cho phép.