Hiển thị các bài đăng có nhãn Chùa cổ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chùa cổ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

VỀ TẤM BIA THỜI TÙY (601) MỚI PHÁT HIỆN Ở CHÙA GIÀN – HUỆ TRẠCH TỰ

Nguyễn Quang Hà[1]
Chùa xã Trí Quả (Huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) tên chữ là “Huệ Trạch tự”, hay còn có tên Nôm là chùa Giàn - Một trong Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Điện, Pháp Lôi, Pháp Vũ) trong tín ngưỡng thờ tự ở vùng Dâu. Hiện nay  các vị trong làng kể lại về lai lịch của chùa: Vào thời Trần, con trai của Đức vua Trần Hưng Đạo là Trần Hồng khi đánh giặc Mông Nguyên được Phật độ cho nên đã đánh thắng giặc do đó ban cho tên chùa là “Huệ Trạch tự) (惠澤寺). Chùa trước đây có gác chuông cổ nhưng đã bị phá đi để làm cầu. Trong chùa còn một chiếc chuông đồng niên đại thời Lê, trên 4 núm có khắc “Huệ Trạch tự chung” (惠澤寺鍾). Ngoài sân, trước tòa Tam bảo hiện còn tấm bia 4 mặt, mặt chính trên trán bia ghi: “Huệ Trạch tự”(惠澤寺), mặt thứ tư phần niên đại ghi: Chính Hòa nhị thập niên (1700) nội dung về việc cúng tiền xây gác chuông và cúng ruộng vào chùa. Ở gian phải của tòa Tam bảo còn một cây hương, trên đó có khắc tên người cung tiến. Chùa còn giữ được hai sắc phong. Đạo sắc thứ nhất phần niên đại ghi 25 tháng 7 năm Khải Định 9 (1924). Nội dung ban tặng: (…)“Diệu Cảm Nhiên Phù, Chương Hiển Đôn Ngưng, Dực Bảo Trung Hưng Thành Hoàng Linh Ứng Tôn Thần”(耀感然孚章顯敦凝翊保中興城皇靈應尊神). Sắc thứ 2 cũng có cùng ngày tháng năm với Đạo sắc trên với đối tượng được ban là: (…)

Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2011

Những bí ẩn quanh ngôi chùa... không sư

- Có lẽ, đây là ngôi chùa duy nhất không có sư ở. Kể từ ngày chùa dựng, trải qua mấy trăm năm trường chinh, bao cuộc dâu bể chuyển dời, nó vẫn sừng sững, uy nghi và được bao phủ thêm bởi những lớp lang huyền thoại.

Khi màu thời gian dừng lại trên nóc đền thờ Phật, nơi có tượng đôi nghê tọa lạc và màu vôi đã chuyển sang màu đùng đục, cuối đuôi những viên ngói nam đã mục nát vì nắng mưa làm ải cả cái thứ đất sét đã qua lửa lò, than quạt… thì chùa đã trải qua ngót nghét 20 đời ông thủ từ làm công việc trông nom, chăm sóc.
Đó là chùa Hành Thiện (xã Xuân Hồng - huyện Xuân Trường - Nam Định). Chùa còn có tên gọi chùa Keo, tọa lạc trên địa thế nếu không hiển linh chắc cũng nhiều nỗi niềm khó nói…
Bí ẩn của lời nguyền
Địa thế làng Hành Thiện mang hình con cá chép. Chẳng biết có phải do “mắc cạn” mà không vượt qua được ải Vũ Môn để hóa rồng hay không mà đất Hành Thiện dành vị trí cao nhất để dựng chùa, thờ Phật.
Một khu đất cao nổi lên nơi đầu mõm rô (gò đất cao nơi cửa sông – PV), án ngữ bờ sông Hồng vào làng. Theo sách Trùng san Thần Quang Tự Phật tổ bản hành thiền uyển ngữ lục yếu tập, chùa Hành Thiện do Không Lộ Thiền sư (1016-1094) xây cất.
Sân chùa rộng mênh mông và hàng trăm năm nay chùa keo Hành Thiện không có sư ở...

Thiền sư Không Lộ vốn họ Dương, sinh ra trong một gia đình ngư phủ, xuất gia theo Thiền sư Lôi Hà Trạch. Tương truyền, khi ngài đắc đạo, Thiền sư Không lộ có khả năng bay trên không, đi trên mặt nước, có tài thuần phục được rắn, hổ.

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2011

BÍ ẨN HÌNH CỔ XƯA TRONG GÓC TỐI ANGKOR WAT (tiếp theo)

Ánh đuốc lập lòe trong đêm hoang vu
Chiếc xe tải lớn được xử dụng như một trung tâm điều khiển di động của nhóm săn ma ( nếu là ở Mỹ, họ sẽ có xe thùng, nhưng ở đây, họ buộc phải chấp nhận làm việc trong xe tải ). Nhóm 4 người rời khách sạn, tiến về phía “ cánh cổng ma “ vào khoảng 4h chiều, khi ánh sang chói lọi khiến tháp Angkor wat nổi rực rỡ dưới nền trời chiều. Họ hy vọng sẽ lắp đặt xong thiết bị và sẵn sang chào đón các oan hồn trước khi tắt nắng. Đêm đen sẽ là đồng minh than thiết của họ, dù trong đêm, họ chỉ là những con người yếu đuối trước sức mạnh bí ẩn của những người đã chết.
Xuyên qua con đường gập ghềnh, cánh cổng ma nằm cô độc trong nắng chiều im lặng ngó xuống nhóm của Kinsley. Những phiến đá ngàn năm tuổi chả buồn để ý tới vài kẻ điên rồ mang tới rất nhiều bong đèn, dây điện và máy móc, vây xung quanh khu vực Ghost Gate. Họ đang cài bẫy linh hồn. Giống như mấy lần đi săn trước, thiết bị được Kinsley ưu ái nhất vẫn là các máy quay, đặc biệt là các máy có khả năng ghi được hình ảnh trong bong đêm nhờ xử dụng tia hồng ngoại. Mười sáu chiếc máy quay rãi rác xung quanh cánh cổng ma sẽ truyền hình ảnh trực tiếp về phòng điều khiển được đặt trong xe tải. Hơn nữa rất nhiều bong đèn cao áp loại cực mạnh cũng được dàn chung quanh chân tháp khiến Ghost Gate càng thêm phần kỳ dị, vừa sang rực trên nền trời đêm, vừa bí hiểm với những hóc tối đen đầy đe dọa.

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2011

BÍ ẨN HÌNH CỔ XƯA TRONG GÓC TỐI ANGKOR WAT

Hành trình tìm kiếm bằng chứng về sự tồn tại của linh hồn-hiện tượng siêu nhiên nằm ngoài khả năng hiểu biết của con người- đưa nhóm thợ “ săn ma” của Discovery tới Angkor wat, kiến trúc vĩ đại có lịch sử hàng ngàn năm tại Campuchia,Chuyến viếng thăm tòa tháp khổng lồ với những bức tường đá xám u ám đã mang tới cho Barry Kinsley và cộng sự thành quả mà họ hằng tìm kiếm kể từ lúc bắt đầu công việc “rồ dại và vô nghĩa “ là săn tìm các bong ma.
Huyền tích về bong ma” dưới chân tháp cổ
Trời về chiều, những ánh mặt trời gay gắt dường như cố gắng dung chút sức tàn hòng xuyên thủng các góc tối mờ ảo hàng ngàn năm của tòa tháp bằng đá Angkor wat. Barry Kinsley không thích thời tiết thế này chút nào.Mặt trời đổ lửa và không khí khô hanh không hợp với người Châu âu, tức là không hợp với Kinsley.Đặc biệt, kiến trúc kỳ lạ của tòa tháp càng gây nên cảm giác ức chế.Đây là tòa tháp duy nhất của Campuchia có hướng vào chính ở hướng tây, quay về phía mặt trời lặn.Điều này khiến hình ảnh đồ sộ của ngôi đền nổi bật trong ánh sang chói lòa mỗi lúc chiều xuống” Chính điều kỳ lạ này kéo mình tới đây”-Kinsley tự lẩm bẩm. Người ta đồn rằng, do quay về hướng tây, Angkor wat trở thành nơi trú ngụ của cô hồn trong ngàn năm qua,Đến giờ, nơi đây vẫn là nổi ám ảnh ghê gớm của người dân Campuchia, những người từ đời này đến đời khác truyền tai nhau về huyền tích về những bong ma dưới chân Angkor wat.

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011

Bí ẩn pho tượng Đức ông ở chùa Bộc

Pho tượng Đức Ông chùa Bộc không được làm từ chất liệu gì quý báu hay đạt đến mức độ tinh xảo về nghệ thuật chạm khắc. Nhưng bản thân sự tồn tại của nó chứa đựng những điều bí ẩn thật thú vị.

Pho tượng vua Quang Trung cùng quần thần ngày nay đã được công khai đề tên nhưng xưa kia người dân gọi đây là tượng đức ông để che mắt triều đình.
Trong tòa tam bảo ngôi chùa ngoài thờ phật thì có một ban thờ Đức Ông ở phía bên phải. Nhưng khác với thông thường, tượng đức ông ở đây không chỉ có một mà có đến 3 pho. Trong đó tượng đức ông to hơn, ngồi cao hơn một bậc, ở bậc dưới có hai người ngồi. Trông toàn cảnh thấy như ba người đang ngồi bàn việc.

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2011

Lời nguyền... ở chùa không sư

Chuyện rằng, khi Thiền sư Không Lộ dựng nên chùa, dân chúng nơi đây không mấy mặn mà với đạo phật và khói nhang, tượng phật. Thuở đó, Đức Thánh tổ nổi giận trừng phạt dân gian. Trong một đêm mưa gió bão bùng, Đức Thánh đan không biết bao nhiêu rọ tre, cho tất cả tượng phật vào đó.

Rồi ngài ngả nón làm thuyền vượt sông Hồng sang đất Thái Bình. Và tất cả tượng phật, cái gì liên quan đến nhà phật cũng xuôi theo dòng nước, theo ngài về nơi đất mới. Đến giữa sông, ngài ngoảnh cổ lại và nói một lời nguyền rằng sẽ không có vị sư nào đến ở ngôi chùa trên... Cho đến tận bây giờ, chẳng sư nào trụ lại được ở ngôi chùa này, làm cho tích chuyện thêm phần kỳ bí... Ngôi chùa bề thế đó, có độ tuổi đến vài trăm năm, rêu phong và cổ kính nhất nhì miền Bắc, thế nhưng lại không có bóng dáng của áo thâm, nón tu-lờ - chùa không có sư ở, có vẻ lạ ở trên đời ấy là chùa Keo Hành Thiện, thuộc huyện Xuân Trường, Nam Định.

Người giữ... “lời nguyền”

Chúng tôi đến thăm chùa không sư vào tờ mờ sáng, khi chưa có khách hành hương về đất phật. Nhìn ngắm ngôi chùa trong sương sớm, lại ngược thời gian nghe huyền thoại, chợt xao lòng, thấy ngôi chùa thêm bao phần kỳ bí mà chưa ai rõ thực hư của vấn đề. Ông Thủ từ Nguyễn Trường Lý từ trong xóm nhỏ đi ra, từ tốn mở cánh cửa lim nặng nề. Một không gian chùa qua 400 năm đang được “cách ly” với bên ngoài bỗng vỡ òa trong chốc lát, tượng phật, màu ngói rệu rã rêu phong như làm sửng sốt cho những người lạ chúng tôi.

Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2010

THÁP CỬU PHẦM LIÊN HOA VÀ TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO VN

Lời dẫn của Nguyễn Xuân Diện,


Bài viết dưới đây trích trong cuốn sách Cửu phẩm liên hoa trong kiến trúc cổ Việt Nam của Trang Thanh Hiền (vợ tôi) là một công trình nghiên cứu hẹp về một phần trong nghệ thuật Phật giáo, thông qua ba cây tháp Cửu Phẩm Liên hoa ở chùa Bút Tháp, chùa Giám và chùa Động Ngọ.

Cuốn sách này được in 500 bản tại Nxb Thế giới, Hà Nội, năm 2007, bởi kinh phí tài trợ của Quỹ Thụy Điển - Việt Nam Phát triển văn hóa. Năm sau, cuốn sách này được trao Giải Đồng Sách Đẹp và Giải Đồng Sách Hay của ngành xuất bản toàn quốc.

Khi Hội chợ Sách quốc tế được tổ chức tại Thái Lan. Các nước đều dâng sách vào Hoàng cung của Đức Vua Thái Lan. Việt Nam chọn dâng vào Thư viện Hoàng cung Thái Lan 2 cuốn: Non nước Việt NamCửu Phẩm Liên hoa trong kiến trúc cổ VN. Hai cuốn sách được bọc lụa vàng và để trên khay vàng trao tận tay công chúa Thái Lan Maha Chakri Sirindhorn.

Một tin vui đã đến với chúng tôi, cuốn sách này được một công ty quyết định tái bản 1000 bản để chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội và Đại hội Phật giáo Thế giới (tại HN vào tháng 11). Ngoài ra, nhân Đại hội Phật giáo Thế giới, công ty này cũng cho dịch tóm tắt sang tiếng Anh và in 1000 bản.

THÁP CỬU PHẨM LIÊN HOA VÀ TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Trang Thanh Hiền

Chúng ta biết rằng hình tượng Cửu Phẩm Liên Hoa trong kiến trúc Phật giáo Việt Nam, chính là sự phát triển ở mức độ đỉnh cao của tín ngưỡng Tịnh Độ tông. Tuy nhiên tư tưởng này không chỉ đến thế kỷ XVII mới khởi phát khi loại hình kiến trúc này trở nên thịnh hành. Nó là một quá trình vận động phát triển lâu dài. Khi tháp Cửu Phẩm Liên Hoa hình thành, các giá trị Tịnh Độ này chỉ chiếm vai trò chủ đạo chứ không phải vị trí độc tôn. Bởi lẽ lịch sử tư tưởng Phật giáo Việt Nam không phải lúc nào cũng thuần nhất một tông phái. Đặc biệt ở thế kỷ XVll, các tư tưởng Thiền - Tịnh - Mật đã luôn song hành. Tháp Cửu Phẩm Liên Hoa là biểu hiện đầy đủ của các dòng tư tưởng này.

Thời Lý, tín ngưỡng Tịnh Độ tông đã rất phát triển với sự xuất hiện phổ biến thức tượng Adiđà. Ba pho tượng Phật Adiđà thời Lý bằng đá còn lại hiện nay, là tượng chùa Phật Tích, chùa Một Mái (Hà Tây) và tượng Chùa Ngô Xá (Chương Sơn, Nam Định). Trong ba pho này thì pho chùa Phật Tích là pho tượng đẹp nhất, tuy có nhiều người cho rằng, đây không phải là tượng Adiđà. Nhưng pho tượng chùa Một Mái thì chắc chắn theo sự xác nhận của dòng chữ khác trên bệ tượng. Những dòng chữ này ghi chép như sau: Luật sư ở núi Thạch Thất, pháp hiệu là Trì Bát, nhân tưởng niệm Phật Adiđà ở thế giới Tây phương Cực lạc nên đã phổ khuyến đạo tục dựng một đạo tràng lớn, muốn tạo tượng mà chưa thể được mãi đến năm Hội Phong thứ 8 (1099), ông mới làm được tượng Adiđà ở đây. Sư Trì Bát được khắc tên trên bệ tượng chùa Một Mái chính là nhà sư thuộc thế hệ thứ 12 của phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi - là học trò của thiền sư Sùng Phạm ở chùa Pháp Vân (Chùa Dâu, Hà Bắc). Điểu này cho thấy Tịnh Độ Tông có mặt trong cả phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi.

Thứ Năm, 12 tháng 8, 2010

Chùa Bát Tháp, kiến trúc đẹp của thành Thăng Long

Archi - Chùa Bát Tháp, kiến trúc đẹp của thành Thăng Long
Từ trung tâm bưu điện Bờ Hồ, theo đường Tràng Thi, tới cửa Nam đi thẳng đường Điện Biên Phủ đến phố Lê Hồng Phong, xuôi về phố Ông Ích Khiêm nối với phố Đội Cấn đi tiếp qua ngã ba Đội Cấn - Giang Văn Minh khoảng 400m ta thấy bên phải đường có một ngôi chùa rêu phong cổ kính, trước cổng tam quan cỏ mọc um tùm xanh biếc. Đó là chùa Bát Tháp nằm tại số 209 phố Đội Cấn, thuộc phường Đội Cấn, quận Ba Đình, Hà Nội. Ngôi chùa còn có tên là Vạn Bảo, cùng tên với trại Vạn Bảo (sau này là làng Vạn Phúc). 
Archi - Chùa Bát Tháp, kiến trúc đẹp của thành Thăng Long
Chùa Bát Tháp là một di tích thuộc loại hình kiến trúc Phật giáo, nằm trên một khu đất cao theo hướng Nam, có một khuôn viên rộng rãi, thoáng đạt. Tam quan của chùa khá đồ sộ, xây hai tầng tám mái với lối vào được tạo dựng theo hai dạng thức khác nhau. Cửa chính có bề mặt hình chữ nhật, phần dưới mở vòm cửa lớn trông thẳng vào Tiền đường. Tầng trên mở nhiều cửa nhỏ trông ra bốn phía. Hai bên cửa được xây giống nhau trên trổ những cửa tròn “sắc - không” theo giáo lý đạo Phật. Tiền đường có quy mô lớn gồm có 7 gian, 2 dĩ  và hàng hiên trước khá rộng do mái chảy dài. Ngoài hiên là hệ thống cột đá hình hộp chữ nhật được mài nhẵn, trên đá khắc những vế câu đối ca ngợi công đức nhà Phật và cảnh đẹp của chùa. Sau chùa là nhà thờ Tổ và một khu vườn rộng.

Chùa cổ Vạn Niên: Nơi hội tụ tâm linh và nghệ thuật

Trường tồn cùng với mảnh đất văn hiến Thăng Long, chùa Vạn Niên mang dáng dấp kiến trúc cổ kính, tâm linh, thanh tịnh…
Nằm trên đường Lạc Long Quân, quận Tây Hồ (Hà Nội), chùa Vạn Niên toạ lạc trong quang cảnh thanh bình, cây cối xanh mát tạo nên khung cảnh thanh tịnh khoáng đạt nơi cửa Phật. Ngày thường, chùa vắng lặng. Đến ngày Rằm và ngày lễ, người dân trong khu vực cùng khách thập phương đến thắp hương rất đông. Không giống như các ngôi chùa khác, mọi người đến xin cầu tài làm ăn, chùa Vạn Niên mang hơi hướng cầu bình an, tránh tà, cầu xin sức khỏe cho gia đình, con cháu.

Cổng sau Chùa Vạn Niên trông ra hồ Tây
Cổng sau Chùa Vạn Niên trông ra hồ Tây.
Cảnh chùa không rộng lớn nhưng đổi lại là không gian xanh mát, cùng sự thơ mộng của quang cảnh Hồ Tây khiến cho khách vãng lai muốn dừng chân nghỉ lại, ngồi dưới chân tượng phật mà ngẫm nghĩ, để cho lòng mình được tự tại thanh nhàn.
Chị Nguyễn Việt Nga, Phường Quán Thánh, cho biết: “Tôi đến chùa thường xuyên. Ngày Rằm hay mồng Một nào tôi cũng đến chùa, vì tôi rất thích ngôi chùa này. Chùa mang kiến trúc cổ rất đẹp. Ở đây vừa yên tĩnh, linh thiêng, vừa có không khí trong lành. Mỗi lần đến đây, tôi thấy lòng mình thanh thản”.
Còn anh Nguyễn Anh Linh, ở phố Thuỵ Khuê, thường xuyên đi lễ chùa Vạn Niên, nhận xét: “Chùa Vạn Niên mặc dù đã trùng tu nhưng vẫn giữ được nét cổ kính. Chùa toạ lạc trên một khuôn viên quay mặt ra hồ, nên về phong thuỷ rất tốt.”

Thứ Sáu, 5 tháng 3, 2010

Hình ảnh đón xá lợi Phật từ Ấn Độ về chùa Bái Đính

Hình ảnh do VnExpress ghi lại:


Đoàn cung nghinh xá lợi Phật lễ dưới chân gốc cây bồ đề tại Bồ Đề Đạo tràng ở Ấn Độ.
Theo sách sử, đây chính là nơi Thái tử Tất đạt đa hóa Đức Phật.
Các nhà sư rước ngọc xá lợi Phật.
Sau chuyến bay kéo dài chừng 3 giờ, chiều 3/2, đoàn đã về Việt Nam...

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2010

Viếng chùa Đại Tòng Lâm

Đầu xuân trong mình khó ở nên OmaniZen viếng chùa Đại Tòng Lâm, huyện Tân Thành, tỉnh Bà rịa Vũng tàu. Chùa đang trong giai đọan trùng tu và xây mới, khách thập phương nô nức viếng cảnh chùa. Khuôn viên chùa rộng và theo quy họach xây dựng trong tương lai không xa đây có lẽ là ngôi chùa bề thế nhất khu vực miền Đông nam bộ.
Dưới đây là một số hình ảnh trong khuôn viên chùa (chụp bằng điện thọai Di động W960)

 
  
Hình ảnh 48 vị Phật

 
Phật Di lặc

Thứ Ba, 29 tháng 12, 2009

Cổ tự nghìn tuổi và tượng Phật bà vi diệu


Một ngôi chùa cổ ở thành phố Vinh (Nghệ An) có tên dân gian “chùa sư nữ” đã “thi gan cùng tuế nguyệt” hơn một ngàn năm nay. Nơi đây có những câu chuyện huyền bí đã đi sâu vào lòng mỗi người dân địa phương. Lịch sử cũng đã ghi nhận sự ghé thăm của hai vị vua triều Nguyễn.
Huyền tích về cổ tự ngàn tuổi
Chùa Cần Linh nằm phía bên trái đầu đường quốc lộ 46 hướng đi từ TP Vinh - Nam Đàn. Trước đây chùa có tên Linh Vân Tự. Từ khi được Vua Tự Đức ghé thăm đổi tên thành Cần Linh. Trải qua chiến tranh, hầu hết các đền chùa ở khu vực thành phố Vinh đều bị huỷ hoại, hư hỏng. Chùa Cần Linh đã từng được trùng tu rất nhiều lần do bị xuống cấp theo thời gian và sự tàn phá của chiến tranh. Chùa còn sót lại bây giờ đón nhận mọi sinh hoạt về Phật giáo của nhân dân các vùng phụ cận đổ về đây.
Ni sư Thích Nữ Diệu Nhẫn - Trụ trì chùa Cần Linh cho biết về tính cổ xưa của ngôi chùa này như sau: Theo các tư liệu còn lại đã lược dịch có kể về ngôi chùa, Cao Biền, một danh tướng đời Đường của Trung Quốc được cử sang Việt Nam làm Tiết Độ sứ. Vốn là một nhà địa lí có tiếng, nên đi đến đâu cũng thường xuyên “ngắm nghía” thế đất, mạch nước để xây dựng đền đài, miếu mạo, đồng thời cũng để “yểm” các huyệt lộ linh thiêng trên đất Việt.


Quả chuông Linh Vân Tự tại chùa Cần Linh


Khi đến vùng đất thuộc Nghệ An bây giờ, Cao Biền nhìn thấy long mạch ẩn vào dãy núi Đại Huệ chạy dài về hướng đông, ông nhận thấy biểu hiện tụ khí địa linh nhân kiệt ở vùng đất này trong thế rồng cuộn quyện mây qua 99 ngọn núi.
Năm 866, Cao Biền đã cho xây dựng ngôi chùa ở đây. Với cách nhìn của ông, phần đầu rồng hạ xuống phun nước chính là trung tâm khuôn viên ngôi chùa. Vì thế, cái tên“chùa mây thiêng” tức Linh Vân Tự được tạm gọi như thế cho đến khi Vua Tự Đức đổi tên chùa.

Theo cách hiểu của người dân, tên Cần Linh được vua ban có nhiều ý nghĩa cao cả, trong đó điều cốt lõi mà vua đã từng nghĩ đó là, người dân khi đến chùa này muốn cầu cái gì sẽ được toại nguyện.
Bà Lê Mai, một người dân địa phương sinh sống gần chùa cho biết, chúng tôi sinh ra thì đã thấy có ngôi chùa, chùa ở đây không chỉ đẹp mà vốn cổ của chùa còn được lưu giữ cho đến tận bây giờ. Nếu đúng như sử sách để lại, chùa cổ đây với huyền tích hơn một ngàn năm là niềm tự hào của nhiều người dân địa phương này.
Trụ trì chùa cho biết: Chùa đã từng “nghênh tiếp” hai vị vua thời nhà Nguyễn đến thăm. Đó là vua Tự Đức và vua Bảo Đại. Với vua Tự Đức, khi đến cầu phúc dân an cúng tế tại chùa, nhà vua đã hiến cho chùa hai bức vọng bằng chữ Hán với dòng chữ Triện đề “Vương triều Đức tự hiến cúng”.
Trong thời gian lưu lại ở chùa, chính Vua Tự Đức cũng đã nhận thấy được sự đóng góp và tầm vóc ngôi chùa. Bên cạnh đó là nhiều huyền tích về sự linh thiêng của ngôi chùa cổ đã được người dân ghi nhận, nên ngay thời điểm đó, nhà vua đã tặng thêm cho chùa một bức đại tự “Cần Linh” với mong muốn của nhà vua là đưa ngôi chùa có ý nghĩa và gần gũi hơn với người dân địa phương trong nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh.
Hiện trong chùa còn lưu giữ một quả chuông cổ.




Theo tư liệu tại chùa và dòng chữ nho để lại trên chuông ghi lại địa danh ngôi chùa trên quả chuông có tên Linh Vân Tự để ghi dấu ngôi chùa này. Theo đó, quả chuông được đúc vào năm Giáp Thìn (Tức cách đây khoảng 300 năm). Ông Đặng Khắc Thắng – Phó Giám đốc Sở Thông tin & Truyền thông Nghệ An cho biết: “Chùa Cần Linh được xếp hạng di tích văn hóa Quốc gia năm 1992, đây là một công trình kiến trúc cổ thời Lê ít ỏi còn được lưu giữ cho đến tận bây giờ.”
Pho tượng Phật bà vi diệu
Ngay trước cổng tam quan của ngôi chùa có một bức tượng Phật bà Quan âm nghìn tay nghìn mắt rất vi diệu. Xung quanh pho tượng này có nhiều câu chuyện ly kỳ, càng làm cho ngôi chùa cổ này thêm hút khách thập phương.
Trước khi làm pho tượng này, khi chưa xuất gia, Ni Sư Thích Nữ Diệu Nhẫn nằm mơ thấy có người đến trao cho sư thầy một bức ảnh “thiên thủ thiên nhãn” - nghìn tay nghìn mắt. Thấy bức ảnh đẹp nên bất cứ đi đâu, làm gì sư thầy đều mang theo. Sau khi đi học ở Huế về, thầy tiếp quản Cần Linh Tự khi ni sư Niệm, nguyên trụ trì chùa đã từ trần. Từ đó, thầy đã xúc tiến thực hiện ý định đúc pho tượng Phật Bà Quan Âm lớn như mong ước.
Năm 2000, Ni sư đã đích thân tìm đến Nam Định để đặt làm một pho tượng gỗ Phật Bà Quan Âm nghìn tay nghìn mắt, với chi phí lúc này khoảng 20 triệu đồng. Đến lúc bắt tay thực hiện thì người thợ cả lăn ra ốm, việc làm tượng bị đình trệ từ đó.
Đến sau đó 2 năm, chính người thợ trên tha thiết đề nghị nhà chùa tiếp tục làm tượng. Người thợ này đã giới thiệu cho nhà chùa một thợ làm tượng khác ở Cát Đằng tiếp tục thực hiện công việc trên. Giá để hoàn thành pho tượng này mà nhà chùa phải trả là gần 50 triệu. Sau khi đồng ý ký hợp đồng thực hiện, sư thầy trụ trì chùa lại nhận được thông báo của bác thợ là không thể thực hiện được vì gia đình đang gặp những điều không may mắn.
Sau hai lần lỗi hẹn, sư thầy tưởng rằng không có cơ hội dựng pho tượng nữa. Run rủi thế nào, Ni sư Thích Nữ Diệu Nhẫn tình cờ gặp được một số thợ đúc đồng rất khéo tay. Đó là lần được Văn phòng Giáo hội Phật giáo Việt Nam mời tham gia ý kiến xây dựng công trình lớn của Phật giáo ở Sóc Sơn (Hà Nội) và Yên Tử (Quảng Ninh). Mong ước từ lâu không thể trì hoãn, lập tức, thầy đã mời họ vào Nghệ An để thăm chùa và tính chuyện đúc pho tượng Phật bà nghìn tay nghìn mắt.
Sau khi bàn tính và nghe chuyện đã 2 lần không thành trước đây, toán thợ có phần lo lắng. Đến khi sư thầy nói rõ niềm mong muốn, toán thợ đúc đồng trên đã gật đầu bắt tay thực hiện đúc pho tượng bằng đồng để nhà chùa thỏa niềm mong mỏi.
Dù là đã được toán thợ trên nhận lời nhưng sư thầy còn nhiều phân vân và lo lắng. Thầy âm thầm thực hiện mà không dám “hé môi”. Sợ việc không thành nên ngày đêm thầy trăn trở mong rằng sẽ không lỗi hẹn lần thứ 3. Mọi việc chuẩn bị đúc tượng đã được ký hợp đồng vào năm 2003, mãi đến gần hai năm sau việc đúc tượng mới chính thức bắt đầu.
Theo tính toán của nhà chùa, bức tượng Phật Bà Quan Âm nghìn tay nghìn mắt đặt trên toà sen ngay chính điện trung tâm ngôi chùa. Pho tượng cao 3 mét, chiều rộng là 2,5 mét được đúc bằng 8 tấn đồng đỏ nguyên chất nhập khẩu từ nước ngoài về. Ni sư Thích Nữ Diệu Nhẫn cho hay, trước lúc đổ khuôn, thầy đã yêu cầu các thợ đúc đồng trộn lẫn 2 kg bạch kim cộng thêm 3 cây vàng ta và 5 chỉ vàng tây vào chảo nấu đồng để lấy linh khí, với mong muốn khi mọi người đến chùa tham quan pho tượng thì tự nguyện từ bỏ điều ác để quay về với cái thiện, sống và làm việc theo pháp luật giúp ích cho đời.

Ni sư Thích Nữ Diệu Nhẫn bên Tượng Phật bà nghìn tay nghìn mắt
Pho tượng Phật bà quan âm nghìn tay nghìn mắt sau bao sóng gió tưởng không thành đã được thực hiện thành công. Như trút được nỗi lòng, sư thầy công bố với bà con Phật tử ngày rước về. Một chương trình chuẩn bị đón rước khá quy củ được nhà chùa chuẩn bị khá tươm tất.
Đến ngày 10/5/2006 pho tượng Phật được rước từ Nam Định về Nghệ An và hòa cùng đoàn diễu hành trong dịp TP Vinh mừng ngày Đại Lễ Phật Đản 2550 năm Phật lịch.
Tấm lòng của sư thầy
Cũng từ khi pho tượng tọa lạc tại chùa, sư thầy tích cực đẩy mạnh các hoạt động từ thiện xã hội, cứu đói, cứu khổ cho nhiều hoàn cảnh thương tâm, chẳng may gặp những chuyện không mong muốn trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Ni sư Thích Nữ Diệu Nhẫn
Thầy cho biết, tại chùa cứ hễ vào hai ngày mồng 1 và 15 hàng tháng, nhà chùa đều chuẩn bị sẵn gạo cứu đói cho nhiều số phận lang thang cơ nhỡ. Nhà chùa cũng bỏ ra một ít “lộc Phật” từ việc công đức của bà con Phật tử đóng góp chi đều hàng tháng cho các trường hợp khó khăn trong thành phố và một vài huyện lân cận.
Những ngày giáp tết năm 2008, trong chuyến đi hỗ trợ bà con nghèo và gia đình chính sách, nhà chùa đã trao trên 500 suất quà từ số tiền trên 100 triệu đồng quyên góp được cùng chia sẻ đón tết với trên 500 số phận, hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách, người có công trên địa bàn TP Vinh và các huyện lân cận như Hưng Nguyên, Nam Đàn, Quỳnh Lưu, Yên Thành…
Sư thầy cũng cho biết, tết Nguyên đán năm nay nhà chùa đã chuẩn bị khoảng 200 triệu đồng cùng hàng tấn gạo, chia làm 1000 suất quà trao cho những hoàn cảnh khó khăn, gia đình cách mạng, các thương bệnh binh trên địa bàn tỉnh nhằm góp một phần cho họ đón tết 2009 đầm ấm và hạnh phúc hơn.
Tôi muốn mọi người mỗi khi đến chùa hãy gạt bỏ tâm ác, làm thiện, phụng đạo yêu nước. Tôi luôn mong trong chính mỗi con người phải thành tâm, sống chan hòa và mong muốn làm điều tốt để hướng đến “Chân, Thiện, Mỹ”, thực hiện phương châm: Đạo pháp -Dân tộc, vì lợi ích chung của mọi người và của đất nước.
Tấm lòng này, chúng tôi xin được chuyển đến bạn đọc, những người đã, đang và sẽ đến với Cần Linh tự để viếng thăm ngôi chùa cổ, chiêm ngưỡng pho tượng độc đáo này và soi bóng chính mình trong sự thanh tao, thoát tục của đức Phật từ bi” - Ni sư Thích Nữ Diệu Nhẫn tâm sự.

Quốc Cường (Theo phattuvietnam.net)

Thứ Năm, 17 tháng 12, 2009

Chí Linh Bát Cổ

Nói đến vùng đất linh thiêng Chí Linh người ta hay nhắc đến hai từ “Bát Cổ”. Một bài hát nổi tiếng nói về Hải Dương cũng có câu hát “Đây Chí Linh quê hương Bát Cổ” làm rung động lòng người.
Nhiều người quan tâm cũng hỏi tôi: “Chí Linh Bát Cổ” là những nơi nào? Trong bài viết này, xin được trả lời ngắn gọn những thắc mắc đó!
1. Nhạn Loan cổ độ, tức Bến đò cổ Nhạn Loan, nay là bến Triều Dương thuộc xã Nhân Huệ, huyện Chí Linh, gần điểm cuối của Lục đầu Giang (sông 6 đầu). Đây là bến sông phong cảnh đẹp, có tích từ thời Hùng Vương. Theo Chí Linh phong vật chí thì Thục An Dương Vương bị quân Triệu Đà truy đuổi đã chạy qua bến sông này. Trên đoạn sông này của Lục đầu giang có bến Bình than nơi Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản bóp nát quả cam trong tay vì còn ít tuổi không được dư bàn đánh giặc.




2. Huyền Thiên cổ tự, tức Chùa cổ Huyền Thiên: Là một ngôi chùa lớn nổi tiếng thời Lý - Trần, thuộc địa phận làng Kiệt Đặc, xã Văn An. Trong chùa có Động Cổ Vân Tiên nổi tiếng. Tương truyền sư Huyền Thiên từng luyện thuốc trường sinh ở đây. Kiến trúc chùa và động đã hỏng nát, mất từ lâu, chỉ còn một ngôi tháp cổ, một bia nhỏ cùng các phế tích, bậc nền tảng hoa sen và các loại vật liệu xây dựng như gạch hoa, ngói mũi hài... minh chứng cho di tích ngôi chùa to đẹp một thời. Gần đây nhân dân địa phương mới xây một ngôi chùa nhỏ và chính quyền địa phương đang tiến hành quy hoạch để bảo tồn, phục hồi lại một khu di tích nổi tiếng thời xưa.


3. Dược lĩnh cổ viên, tức Vườn cổ trên núi thuốc: Là vườn cây thuốc trên Dược Sơn - núi Nam Tào. Về phong thuỷ, đây là khu đất đắc địa có một không hai. Lúc bấy giờ Hưng Đạo Vương giao cho tướng quân Phạm Ngũ Lão tổ chức trồng cây trên nui Nam Tào để làm thuốc chữa bệnh cho quân và dân trong vùng nên gọi là Dược Sơn (Núi thuốc). Trên Dược Sơn có vườn thuốc quý, phong cảnh đẹp, đời sau gọi là Dược Lĩnh Cổ Viên. Khu vườn thuốc cổ này còn di tích đến ngày nay, trong khuôn viên trước chùa Nam Tào, thuộc khu di tích Kiếp Bạc, huyện Chí Linh.


4. Trạng nguyên cổ đường, tức trường học cổ của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, người thôn Long Động. Dáng người ông xấu xí nhưng thông minh và có tài văn học kiệt xuất. Khi đi xứ sang Trung Quốc, ông thể hiện tài ứng đối và ngoại giao kiệt xuất, được vua quan nhà Nguyên kính nể, Vua Nguyên phong là Lưỡng quốc Trạng nguyên. Cuối đời, Mạc Đĩnh Chi về chí sỹ tại quê nhà mở trường dạy học gần gò Hạc, xã Linh Khê - nay là xã Thanh Quang. Tại đền thờ Mạc Đĩnh Chi ở thôn Long Động, xã Thanh Quang, các di tích trên hiện vẫn còn, đang được nhân dân và chính quyền địa phương tu tạo, quy hoạch và đầu tư xây dựng lại. Trạng nguyên cổ đường là trường dạy học cổ của Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi ở đất Linh Khê (Chí Linh).


5. Thượng Tể cổ trạch, tức nhà cổ của quan Thượng Tể Trần Quốc Chẩn. Ông là cha đẻ của Hoàng hậu, vợ vua Trần Minh Tông. Do trong triều tranh chấp ngôi Thái tử, ông bị vu oan là phản loạn, bị bắt giam không cho ăn uống và chết, hàng trăm người liên luỵ cũng bị chết oan trong vụ án này. Vài năm sau vụ án bị phanh phui, bọn gian thần bị trừng trị. Căn nhà cũ rất đẹp trong thái ấp của Ông ở giữa cánh đồng làng Kiệt Đặc (Chí Linh) được lập làm đền thờ.


6. Tiều Ẩn cổ bích, tức Bức tường cổ bao quanh nhà của Tiều  Ân. Tiều Ân nghĩa là người tiều phu ẩn dật, là tên hiệu mà nhà giáo Chu Văn An đặt cho mình sau khi cáo quan về ở ẩn tại Núi Phượng Hoàng.


Khi Ông mất, học trò và nhân dân trong vùng mai táng trên Núi Phượng Hoàng. Nơi ở ẩn của Ông được học trò dựng đền thờ gọi là Phượng Hoàng linh từ. Đền thờ xây có 05 gian tiền tế và 03 gian hậu cung bằng đá khối bao quanh, di tích này gọi là Tiều  Ân cổ bích, nay thuộc xã Văn An (Chí Linh). Hàng năm, sỹ tử khắp trong và ngoài nước, các nhà giáo và các thế hệ học sinh, sinh viên về dâng hương, trồng cây lưu niệm rất đông. Lăng mộ Ông trên núi Phượng Hoàng và giếng Thuỷ Thần trước điện Lưu Quang vẫn còn, luôn được giữ gìn, tôn tạo. 


7. Phao Sơn cổ thành, tức Thành cổ Phao Sơn. Thành được xây dựng từ thời Trần. Khi quân Minh xâm lược, chúng đóng quân và chiếm giữ thành này cho đến khi bị quân ta (Lê Lợi) đánh bại. Đến thế kỷ XVI (Thời Mạc), thành được tu sửa và trở thành một thành trì quan trọng, trấn giữ khu vực Đông Bắc Thăng Long và vùng núi Chí Linh - Đông Triều. Thời thuộc Pháp, nơi đây trở thành căn cứ quân sự, thực dân Pháp xây dựng ở đây trường đào tạo sỹ quan quân đội và tăng cường nhiều đồn bốt xung quanh.


Vào những năm 1980, khi xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, thành Phao Sơn bị phá bỏ để xây dựng khuôn viên nhà máy. Đến nay di tích Phao Sơn cổ thành không còn nữa.


8. Tinh Phi cổ tháp: Là Tháp cổ mộ của Tinh Phi Nguyễn Thị Duệ. Nguyễn Thị Duệ quê ở Kiệt Đặc (Chí Linh), là người con gái hiếu học, thông minh, có bản lĩnh và quyết đoán. Khi nhà Mạc thất thế, Bà cùng cha chạy theo nhà Mạc lên Cao Bằng. Vua Mạc mở khoa thi chọn nhân tài, Bà giả trai đi thi và đỗ đầu khoa thi, đỗ tiến sỹ. Khi uống ngự tửu vua ban trong yến tiệc mừng Tân khoa, Bà bị vua Mạc phát hiện là gái, nhưng vì cảm mến tài sắc, vua đã không bắt tội mà đã lấy Bà làm vợ. Trong lịch sử nước nhà, Bà là người phụ nữ đầu tiên của Việt Nam thi đỗ tiến sỹ. Khi  vua Mạc thua trận, Bà bị bắt về Thăng Long. Biết Bà là người phụ nữ có tài, chúa Trịnh  tôn Bà là Đức lão lễ sư. Tương truyền Bà là người có công lớn mở mang nền giáo dục, thường tham gia chấm các kỳ thi tiến sỹ, Bà khởi xướng phương pháp đào tạo giáo dục từ xa.


Cuối đời, Bà về quê dựng am tu hành gần chùa Huyền Thiên. Khi Bà mất, nhân dân xây trên mộ của Bà một ngôi tháp đât nung màu hồng, cao nhiều tầng, gọi là Tinh Phi cổ tháp. Sau này tháp bị đổ, chỉ còn phế tích, ngôi mộ của Bà được xây dựng lại thành một lăng nhỏ. Đến năm 2008, tỉnh Hải Dương tổ chức tôn tạo khu vực này thành ngôi đền thơ hoành tráng phía trước lăng mộ để thờ Bà. Sau khi đền xây xong, cò vạc kéo nhau về ở khu hồ trước đền, có đến hàng ngàn con, làm cho phong cảnh khu di tích “đất lành chim đậu” càng thêm linh thiêng, tráng lệ.


Như vậy, Chí Linh Bát Cổ hiện nay còn 07 địa danh, Nhà nước và nhân dân đang phục hồi, tu bổ dần để gìn giữ, làm đẹp cảnh quan, đẹp lòng các du khách gần xa và các nhà nghiên cứu, quan tâm tới Chí Linh, vùng Côn Sơn Kiếp Bạc nổi tiếng của cả nước.

Nguồn : ashui.com