Thứ Tư, 30 tháng 3, 2011

Bí ẩn khu mộ thiêng bên đường

Hàng nghìn cột đá nhấp nhô bên những nấm mồ ẩn hiện trong khu rừng mịt mùng không nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Đó là lời kể về khu Thánh địa “Đống Thếch” của nhà lang Mường Động thuộc xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình thời kỳ trước... 
Bóng ma bên những cột đá
Nằm giữa núi rừng thâm u, những cột đá gần 400 năm tuổi vẫn đứng trơ gan cùng tuế nguyệt. Đó là điểm độc đáo của khu mộ cổ Đống Thếch (xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi, Hòa Bình) - một “kho báu” mang đậm bản sắc văn hóa xứ Mường Động.
Từ nhiều năm nay, hàng trăm mồ đá nằm im lìm u tịch và lạnh lẽo giữa vùng rừng núi Tây Bắc ấy là một bí ẩn lớn đối với bất cứ ai từng một lần đặt chân tới.
Hàng trăm mồ đá nằm im lìm u tịch và lạnh lẽo giữa vùng rừng núi Tây Bắc ấy là một bí ẩn lớn đối với bất cứ ai từng một lần đặt chân tới (Ảnh: Tiến Thành - Tuổi Trẻ)

Những người dân bản xứ không biết nhiều về gốc tích hay truyền thuyết rừng mộ đá này. Họ kể rằng, trước đây khu vực này rất rộng, gồm hàng trăm ngôi mộ và hàng ngàn phiến đá chôn xung quanh. Người ta gọi cả quần thể ấy là rừng mộ đá.
Tất cả các ngôi mộ đều chôn ba khối đá cao phía đầu mộ thành một hàng, khối đá to nhất chôn ở giữa. Chân mộ chôn ba khối nhỏ hơn. Những khối đá cẩm thạch được xác định là mang về từ xứ Thanh, ở vùng này không có loại đá ấy. Phiến đá to nhất có chiều rộng hơn 1m, cao khoảng 4m, có phiến nặng hàng tấn.

Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2011

Trên đất thiêng triều Mạc

1. Nghe đứa cháu rủ rê, lại còn miêu tả tỉ mỉ những tòa ngang dãy dọc của khu tưởng niệm các vua nhà Mạc mới khánh thành nên tôi cũng tò mò háo hức lắm. Từ làng Trà Phương quê tôi đến làng Cổ Trai (H.Kiến Thụy, Hải Phòng) theo đường chim bay chỉ vài cây số, ngoằn ngoèo huyện lộ hơn 15 phút chạy xe là cùng.
Hồi nhỏ đám đánh dậm làng tôi cả mấy chục đứa kéo quân xuống tận Cổ Trai kiếm tôm cá, quần thảo nhẵn cả vùng hạ lưu sông Đa Độ. Rồi lại nhớ cái đận giữa năm 1967, Mig 17 của ta mật phục ở sân bay Kiến An đón lõng F107 Mỹ ngay trên bầu trời quê tôi, thịt gọn 2 chiếc, một rơi ngoài biển một cắm đầu xuống làng Cổ Trai. Khi ấy từng nghe loáng thoáng ai đó bảo cuộc đất này thiêng lắm có đức ngài phù hộ, bằng cớ là bọn tàu bay rớt ngay cung điện ngài đấy thôi, sau này mình mới hiểu, à ra họ nói về Thái tổ Mạc Đăng Dung, về vùng đất phát tích một vương triều.
Sử thời phong kiến luôn tỏ ra ghét bỏ triều Mạc nhưng bóc tách từ những dòng xô lệch hiếm hoi thì thấy ghi rằng Thái tổ Mạc Đăng Dung xuất thân dân chài, khỏe mạnh giỏi võ, ứng thí tại Thăng Long đỗ Đô lực sĩ, làm quan đến chức Đô chỉ huy sứ, được phong tước Hầu. Năm 1527 nhân cung đình thối nát, xã hội loạn lạc, ông phế truất vua Lê lập ra triều Mạc, chỉ tại vị có 3 năm rồi nhường cho con, lui về làm Thái thượng hoàng. Nhà Mạc tồn tại qua 5 đời với 65 năm, ví như nhát cắt lịch sử vậy, dù dày dù mỏng nhưng đời sau chẳng nên chối bỏ, huống hồ cha con ông cháu Mạc Đăng Dung đã để lại không ít dấu ấn tích cực trong một chặng đường đầy biến động của dân tộc.
Để tìm hiểu thêm, tôi ghé nhà từ đường họ Mạc ngay thôn Cổ Trai, không may các bô lão đi vắng cả nhưng qua chuyện trò với những hậu duệ chả biết đời thứ mấy chục của Mạc tổ thì biết thêm con cháu tộc Mạc hiện giờ đông lắm, đa dạng lắm. Theo các cụ truyền lại, để tránh quan quân chúa Trịnh truy sát gắt gao, ngoài nhóm hoàng thân quốc thích Mạc Kính Cung rút lên Cao Bằng theo sự mách bảo của cụ Trạng Trình, người họ Mạc tứ tán khắp nơi, thay tên đổi họ, mai danh ẩn tích. Nay trên cả nước có khoảng 50 dòng họ khác nhau vốn gốc họ Mạc sau đận chạy trốn ấy, liệt kê ra thấy đủ cả các họ Phan, Thái, Hoàng, Phạm, Bùi, Vũ, Ma, Nguyễn… rải khắp nước.

Đại hồng chung trên chính điện - Ảnh: N.T 
2. Nói đến nhà Mạc không thể không nhắc tới Dương Kinh mà trung tâm là Cổ Trai. Gần 500 năm trước, Dương Kinh xuất hiện với tầm vóc dù không đồ sộ bằng Thăng Long nhưng cũng đủ để thiên hạ ngóng về. Các sử gia của Đại Việt sử ký toàn thư hoặc Đại Việt thông sử dẫu chẳng ưa "ngụy Mạc" vẫn có những dòng nhắc đến kinh đô thứ hai triều đại này.

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2011

Bí ẩn "Cửu long cửu tỉnh"

Không bao giờ cạn

Năm 2003, cố GS Trần Quốc Vượng đã đến đây tìm hiểu và nghiên cứu 9 mắt rồng. Những ẩn số được tìm ra như, có  9 con rồng, nhưng tại sao lại chỉ có 9 cái mắt? Nhẽ ra phải là 18 mắt mới đúng. Hay sự  liên quan giữa 9 mắt rồng và quái nhân đầu người mình chim (có 2 tượng đầu người mình chim, hiện ở chùa Đọi vẫn còn giữ được 1 tượng)... Tuy nhiên, bí ẩn 9 mắt rồng chưa được lật giở thì GS Trần Quốc Vượng ra đi. Từ đó đến nay không thấy ai hao tổn công sức lần tìm lời giải cho những bí ẩn 9 mắt rồng ở Làng Đọi nữa và những câu chuyện huyền ẩn liên quan đến mắt rồng của cư dân an sinh quanh chân Đọi Sơn vẫn truyền miệng đi khắp nơi.
Từ xa xưa, nước
Từ xa xưa, nước "mắt rồng" là không gian sinh hoạt của cư dân Đọi Sơn và họ dẫn nước từ giếng về nhà.

Một điều kỳ lạ qua lời kể của người dân khiến chúng tôi không khỏi tò mò. Đó là cả 9 mắt rồng đều chưa bao giờ cạn nước, 9 giếng mắt rồng này cung cấp nước cho toàn bộ cư dân quanh chân núi Đọi. Ngay cả thời điểm hiện tại, có giếng như giếng Hàm Long người dân đặt tới 27 máy bơm nước cỡ nhỏ nối đến từng hộ dân, ngay cả khi cả 27 máy bơm cùng hoạt động, nhưng giếng vẫn không cạn.

Bức tượng cổ

Mấy năm dài ở Mỹ nằm nghe mốc cả người, tôi bỗng nhiên muốn sang chơi Trung Quốc một thời gian, một phần cũng để trau dồi vốn liếng chữ Hán còm cõi của mình. Trong những ngày trôi nổi đó, vào chuyến đi Thượng Hải lần đầu, tôi đã có dịp ghé thăm Tô Châu rồi Hàng Châu, quê hương của những hòn giả sơn và vườn cảnh lừng danh thế giới. Trước sau, tôi đã dừng chân ở Hoa Lục chỉ vỏn vẹn một năm nhưng từ đó ra đi, tôi thấy mình không còn là mình ngày nào nữa. Tôi đã chết ở Trung Quốc và tiếp tục sinh tồn bằng một hóa thân mới. Người đã khiến tôi thực hiện cuộc thoát thai hoá cốt đó là một nhà sư tình cờ hạnh hội trên đường phố Hàng Châu.

Hôm đó trong lúc đang đứng chọn lựa một miếng đá để đưa ông chủ tiệm khắc cho một con dấu làm kỷ niệm, một nhà sư tuổi trạc trung niên, ăn vận giống tôi, xem chừng cũng phái Phật Giáo Nam Truyền, đã đến cạnh tôi chào hỏi. Giữa xứ Tàu mênh mông, gặp được một bạn tu đồng môn, tôi mừng lắm. Đợi lấy xong con dấu, chúng tôi cùng đến một ngôi lương đình tương đối yên tịnh để chuyện vãn.

Lời nguyền... ở chùa không sư

Chuyện rằng, khi Thiền sư Không Lộ dựng nên chùa, dân chúng nơi đây không mấy mặn mà với đạo phật và khói nhang, tượng phật. Thuở đó, Đức Thánh tổ nổi giận trừng phạt dân gian. Trong một đêm mưa gió bão bùng, Đức Thánh đan không biết bao nhiêu rọ tre, cho tất cả tượng phật vào đó.

Rồi ngài ngả nón làm thuyền vượt sông Hồng sang đất Thái Bình. Và tất cả tượng phật, cái gì liên quan đến nhà phật cũng xuôi theo dòng nước, theo ngài về nơi đất mới. Đến giữa sông, ngài ngoảnh cổ lại và nói một lời nguyền rằng sẽ không có vị sư nào đến ở ngôi chùa trên... Cho đến tận bây giờ, chẳng sư nào trụ lại được ở ngôi chùa này, làm cho tích chuyện thêm phần kỳ bí... Ngôi chùa bề thế đó, có độ tuổi đến vài trăm năm, rêu phong và cổ kính nhất nhì miền Bắc, thế nhưng lại không có bóng dáng của áo thâm, nón tu-lờ - chùa không có sư ở, có vẻ lạ ở trên đời ấy là chùa Keo Hành Thiện, thuộc huyện Xuân Trường, Nam Định.

Người giữ... “lời nguyền”

Chúng tôi đến thăm chùa không sư vào tờ mờ sáng, khi chưa có khách hành hương về đất phật. Nhìn ngắm ngôi chùa trong sương sớm, lại ngược thời gian nghe huyền thoại, chợt xao lòng, thấy ngôi chùa thêm bao phần kỳ bí mà chưa ai rõ thực hư của vấn đề. Ông Thủ từ Nguyễn Trường Lý từ trong xóm nhỏ đi ra, từ tốn mở cánh cửa lim nặng nề. Một không gian chùa qua 400 năm đang được “cách ly” với bên ngoài bỗng vỡ òa trong chốc lát, tượng phật, màu ngói rệu rã rêu phong như làm sửng sốt cho những người lạ chúng tôi.

Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2011

Triết lý thiên can địa chi

...trong chiều hướng tìm về cội nguồn đó và nhân dịp Tết Tân Mão 2011, có nhiều học giả trong và ngoài nước đang bàn về nguồn gốc chữ Mão/Mẹo là con Mèo (theo VN) hay con Thỏ (theo Tàu và các nước Á Châu khác) trong 12 con giáp. Vả lại hầu hết người Việt mình không chịu tìm hiểu nguồn gốc văn hóa của mình nên dễ tin theo dư luận sai lầm từ xưa đến nay cho rằng văn hóa của Việt tộc là của Hoa tộc vì do ảnh hưởng của gần 1000 năm Bắc thuộc, nên tôi mạo muội góp phần về nguồn gốc của con Mèo dưới cái nhìn triết lý nhân sinh của tộc Việt. Vì nguồn gốc và ý nghĩa con Mèo không thể tách rời ra khỏi vấn đề “thập thiên Can” với “thập nhị địa Chi” chính là một triết lý nhân sinh độc nhất vô nhị. Nhưng vì lâu đời con cháu đã quên mất hay không còn hiểu biết ý nghĩa triết lý này, nên cho mãi tới nay người ta vẫn coi vấn đề “Can Chi” này như là một khoa bói toán hay còn gọi là khoa tử vi với 64 quẻ trong Kinh Dịch.
Vì vậy trước hết, thiết tưởng nên cần nhắc lại quan niệm nền tảng của triết lý nhân sinh của Việt tộc, lấy con người làm đối tượng và vừa làm cứu cánh. Do đó còn gọi là Minh Triết, là Đạo Trời hay Đạo Nhân tức là Đạo làm Người. Cho nên sách Lễ vận (VII, I) định nghĩa con người là : “Nhân giả kỳ thiên địa chi đức, âm dương chi giao, quỷ thần chi hội, ngũ hành chi tú khí”: có nghĩa con người là cái đức (cái hoạt lực) của thiên địa, là giao điểm của âm dương, nơi quỷ thần tụ hội, là cái khí tinh tế của Ngũ hành. Hay như câu : “Nhân giả kỳ thiên địa chi tâm dã” tức con người chính là cái tâm của thiên địa, hoặc còn nói “thiên địa giao hỗ vi nhân” nghĩa là sự tương giao hỗ trợ với phúc lộc dầy dặn của Trời Đất làm thành con người. Hay nói cách khác như Trang Tử : “Nhân chi sinh dã khí chi dụ dã, tụ đắc vi sinh, tán đắc vi tử… Cố viết: thông thiên hạ nhất khí nhĩ.”, có nghĩa người ta sinh ra là do Khí tụ. Khí tụ thì sống khí tán thì chết. Cho nên nói rằng : “khắp cả gầm trời đều là Khí mà thôi”.

Thứ Ba, 1 tháng 3, 2011

Dân gian Y thuật: THUỐC ĐẢ TRẬT - TRỊ THƯƠNG

OZ-Tôi cố gắng sưu tầm những bài thuốc nam hay và kỳ bí, tạm dùng tên như bên trang HTT dùng là Dân gian Y thuật Kỳ bí hầu ghi lại những kinh nghiệm quý báu trong dân gian mà cha ông ta để lại và hy vọng giúp mình và giúp đời. Phần lớn những bài thuốc ở đây đều là những đóng góp của các thành viên bên Hoàng Thần Tài.
1.THUỐC ĐẢ TRẬT - TRỊ THƯƠNG
Tôi viết bài này để cống hiến quí độc giả một phương pháp chữa trị té, sưng bầm trặc trẹo. Các nhà thể thao hay đồng bào nên lưu tâm đến, để trị cho mình, gia đình và giúp người khi hữu sự.
Về chứng sưng, trặc trẹo trong nghề võ của tôi lâu nay đã chữa trị đều có kết quả. Nhưng phải chia làm hai loại, loại bệnh sưng trặc trẹo nhẹ, ví dụ: bị té, sưng bầm đỏ ở đầu, ngực, chân tay… là bệnh nhẹ còn té trật mắt cá, bong gân cổ tay, vai, đầu gối cũng là bệnh nhẹ.
Loại bệnh nặng: Ví dụ: bệnh nhân bị đánh, đá gãy sườn, chém đứt thịt lòi gân. Hoặc té, xe cán gãy xương bể đầu là thuộc bệnh nặng.
Tôi chép hiến quí vị cách trị liệu về phương thuốc bệnh nhẹ để dùng khi hữu sự, gọi là cấp cứu phương mà thôi. Vì phương pháp này khỏi cần phải học lâu và chuyên môn. Thông thường ai lanh trí là làm được ngay. Còn loại bệnh nặng tôi nêu ở trên . Nếu gặp bệnh nặng thì quí vị nên đưa bệnh nhân đến bệnh viện nhờ Bác sĩ băng bột cho thuốc. Hay đến nhờ thầy thuốc trặc trẹo chuyên môn trị liệu tiện lợi hơn.

Theo phương pháp chữa trị bệnh nặng phải có thuốc tán hoàn sẵn. Nhiều thuốc uống đắng, sẵn các đồ nghề như kim chạc, kim may đăng ốp để cột xương lại. Cần mằn sắp gân xương cho liền mới chữa được. Thầy chữa chuyên môn phải học và thực tập kinh nghiệm khá lâu mới chữa bệnh nhân được.
Thầy chữa chuyên môn phải học và thực tập kinh nghiệm khá lâu mới chữa lành bệnh nhân được.

Bí ẩn đầm 99 ngách

Móng vuốt của rùa khổng lồ thì cực sắc và nó đào ổ cực khỏe. Có nhiều chỗ đất đá sỏi gan trâu, cứng như thép, cuốc bổ quằn lưỡi, thế nhưng rùa vẫn bò lên đào ổ tung tóe. Chiều rộng của ổ thường bằng thân rùa, chiều sâu chừng 40cm
 
Bày tỏ việc muốn tìm hiểu về loài giải khổng lồ ở đầm Minh Quân, ai cũng chỉ tôi gặp ông Trần Trọng Dần, sống ngay cạnh cái đầm khổng lồ này.

Loanh quanh dọc mấy bờ ruộng, rồi tôi cũng tìm được ông Dần, khi ông đang chèo chiếc thuyền nhỏ ở ven bờ đầm để thả lưới bắt cá. Khi hỏi về rùa khổng lồ, ông Dần bảo: “Các anh gặp đúng người rồi đấy. 80 tuổi đời, 65 năm sống nhờ cái đầm này, lại lấy vợ là người ở cù lao giữa đầm, nên chả có ngóc ngách, hang hốc, củ tỉ cù tì gì dưới cái đầm này tôi không biết cả”.

80 tuổi với 65 năm đánh cá trên đầm, ông Dần là người hiểu từng luồng lạch đầm Minh Quân. 

Nói rồi, ông Dần dẫn tôi vào căn nhà tồi tàn ngay dưới chân đập đầm Minh Quân và chỉ vào hình một con rùa to nhất trong tấm giấy khổ lớn vẽ hình các loài rùa ở Việt Nam, bảo: “Có phải anh hỏi con này không? Nó giống hệt con này, có nhiều ở đầm lắm”. Phía dưới hình con rùa mà ông Dần chỉ có dòng chữ Rafetus swinhoei.

“Anh Nguyễn Xuân Thuận tặng tôi tấm tranh vẽ rùa này và bảo đây là rùa Hồ Gươm. Anh ấy còn cho tôi xem rất nhiều ảnh chụp rùa Hồ Gươm, nên tôi chắc chắn con này có rất nhiều ở đầm, quê tôi gọi nó là con giải” – ông Dần khẳng định như đinh đóng cột. Nguyễn Xuân Thuận là điều phối viên của Chương trình rùa Việt Nam, thuộc Chương trình rùa châu Á.