Hiển thị các bài đăng có nhãn Huyệt mộ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Huyệt mộ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

ĐẤT RỒNG NƠI TƯỚNG GIÁP AN GIẤC THIÊN THU

Chúng tôi đã có mặt ở Vũng Chùa – Đảo Yến, một mạch đất có một không hai. Thầy phong thủy đi với chúng tôi nói, nơi đây nếu là chốn an giấc ngàn thu của vị anh hùng, không những rạng danh vùng đất Đèo Ngang mà con làm cho đất nước hiển danh, ông nhìn theo trục tâm linh.
Một nơi bí ẩn
Quảng Đông, một địa phương hẻo lánh cuối cùng của tỉnh Quảng Bình ở phía biển. Hệ núi Trường Sơn kéo ra biển thành dãy Đèo Ngang hùng vĩ, cấu tạo địa chất ở đây là đất đá khô cằn, nhưng là nơi phát tích rất nhiều huyền thoại về những danh nhân xa xưa.
Dưới chân Hoành Sơn Quan, thôn Minh Sơn đựng trong lòng một loạt di tích người xưa để lại, trong đó đặc biệt linh thiêng là đền thờ mẫu Liễu Hạnh Công Chúa, ngôi đền nhỏ dưới bóng dáng núi non trùng điệp đã có hơn 500 năm hiển linh, được người đời không chỉ trong vùng mà ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa…vào viếng hương hằng niên.

Những ngọn núi chạy dài phía thôn Minh Sơn cắt mảnh đất này thành nhiều thung lũng khác nhau, tạo ra các hòn đảo nhỏ như Hòn La, Mũi Ông, Hòn Cỏ, Đảo Yến, Đảo Chim, Hòn Nồm, Hòn Bớc…
Nhưng có một địa danh mà theo người dân địa phương là rất thiêng, chỉ dành cho bậc khai quốc, hoặc hiển đạt khoa bảng mới có thể an nghĩ vĩnh hằng để hộ vệ quốc gia cho con cháu ngàn đời thanh bình. Người trần mắt thịt, không thể an táng ở đây.

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

Đất Rồng - Nơi an táng Đại tướng Võ Nguyên Giáp



Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng gia đình đã chọn đất Mũi Rồng ở thôn Thọ Sơn, Quảng Đông (Quảng Trạch, Quảng Bình) cho giấc thiên thu.
Đấy là thế đất của trường tồn và hộ vệ bờ cõi. Khu vực an táng không phải là đảo Yến mà là trong trung tâm của một thung lũng hoang sơ tuyệt đẹp. Nơi đó có đỉnh núi Rồng lừng lững, thung lũng Rồng chính hướng đông nam, bãi biển cát vàng mịn, hai bên cánh gà thung lũng có vô số các thớ đá bị bào mòn bởi sóng biển và người dân gọi đó là vảy rồng.
Mũi Rồng địa linh
Thôn Thọ Sơn chạy dài từ quốc lộ 1A ra biển. Giữa đồng thôn có một khu cát, hết khu cát thì tự giữa đất trời trồi lên một mỏm núi không cao, không thấp, người dân gọi là núi Rồng.
Trong hồ sơ của Sở GTVT tỉnh Quảng Bình định danh khu vực này là Mũi Rồng với các cao trình nước biển, bình độ lý tưởng và hướng gió cũng như nhiều số liệu kỹ thuật khác. Riêng người dân Thọ Sơn, theo các vị cao niên, từ thuở lập làng, những nhà địa lý đã lưu ý với con cháu các đời, đây là khu vực linh thiêng, phải biết bảo vệ để đợi người có công trạng lớn về an giấc. Cụ Lê Hữu Khành, người Thọ Sơn, kể: “Ngày xưa khi chúng tôi vượt qua núi Rồng, xuống thung lũng Rồng kiếm củi, các vị bô lão trong làng thường dặn dò vào đó phải cẩn trọng đi đứng vì đó là nơi thiêng liêng của làng”. Cụ Khành cho biết thêm, người làng có việc tang gia, làng không cho phép đưa táng ở thung lũng Rồng, mặc dù đó là địa thế rất đẹp, chỉ được chôn ở đồng Mới cách hướng bắc của làng hơn hai cây số. “Có lẽ các cụ xưa muốn dành cho một ai đó công trạng hiển danh để trấn giữ che chở cho dân, cho nước. Ngày xưa, tui từng nghe những người thông thạo địa lý trong làng bàn thế và không ai dám trái lời các bô lão. Trong khu vực đó chỉ có một ngôi mộ xưa cổ. Khi bọn tui lớn lên đã thấy mộ và cũng được biết dưới mộ là người có công lao lớn” - cụ Khành kể

Thứ Tư, 30 tháng 3, 2011

Bí ẩn khu mộ thiêng bên đường

Hàng nghìn cột đá nhấp nhô bên những nấm mồ ẩn hiện trong khu rừng mịt mùng không nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Đó là lời kể về khu Thánh địa “Đống Thếch” của nhà lang Mường Động thuộc xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình thời kỳ trước... 
Bóng ma bên những cột đá
Nằm giữa núi rừng thâm u, những cột đá gần 400 năm tuổi vẫn đứng trơ gan cùng tuế nguyệt. Đó là điểm độc đáo của khu mộ cổ Đống Thếch (xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi, Hòa Bình) - một “kho báu” mang đậm bản sắc văn hóa xứ Mường Động.
Từ nhiều năm nay, hàng trăm mồ đá nằm im lìm u tịch và lạnh lẽo giữa vùng rừng núi Tây Bắc ấy là một bí ẩn lớn đối với bất cứ ai từng một lần đặt chân tới.
Hàng trăm mồ đá nằm im lìm u tịch và lạnh lẽo giữa vùng rừng núi Tây Bắc ấy là một bí ẩn lớn đối với bất cứ ai từng một lần đặt chân tới (Ảnh: Tiến Thành - Tuổi Trẻ)

Những người dân bản xứ không biết nhiều về gốc tích hay truyền thuyết rừng mộ đá này. Họ kể rằng, trước đây khu vực này rất rộng, gồm hàng trăm ngôi mộ và hàng ngàn phiến đá chôn xung quanh. Người ta gọi cả quần thể ấy là rừng mộ đá.
Tất cả các ngôi mộ đều chôn ba khối đá cao phía đầu mộ thành một hàng, khối đá to nhất chôn ở giữa. Chân mộ chôn ba khối nhỏ hơn. Những khối đá cẩm thạch được xác định là mang về từ xứ Thanh, ở vùng này không có loại đá ấy. Phiến đá to nhất có chiều rộng hơn 1m, cao khoảng 4m, có phiến nặng hàng tấn.

Thứ Ba, 27 tháng 4, 2010

Đi tìm lời giải về địa đạo huyền bí cách Hồ Tây 1 km

(VTC News) - Thời gian gần đây, người dân Hà Nội cũng như cả nước khá xôn xao về việc phát hiện một địa đạo mà cửa chui xuống bắt đầu từ làng Quán La (Xuân La, Tây Hồ). Người dân ở ngôi làng này xì xào bàn tán không ngớt. Từ những câu chuyện đầu làng góc phố, rất nhiều huyền thoại đã được thêu dệt, khiến địa đạo mỗi ngày lại phần huyền bí.

Ông Nguyễn Văn Chinh trong lòng "địa đạo". 

Sự thật và huyền thoại về ngôi đình và hệ thống hang động
Vòng vèo một hồi qua những con ngõ nhỏ, người ra người vào, chợ búa đông đúc như nêm, rồi tôi cũng tìm thấy đình Quán La, cách Hồ Tây chừng hơn km.
Đình Quán La mới được quét vôi trắng xóa, nằm cạnh cây đa khổng lồ và cây thị ngàn tuổi. Đình nằm trọn trên một gò đất cao ráo. Áng chừng gò đất này cao vượt tầng 2 của những tòa nhà bên cạnh.
Hỏi chuyện ngôi đình cổ và địa đạo dưới lòng gò, các cụ già sinh hoạt trong đình sôi nổi hẳn lên. Mỗi người vài câu góp chuyện, khiến ngôi đình và địa đạo trở nên bí hiểm vô cùng.
Đình Quán La nằm trọn trên gò Thất Diệu. 

Cụ Nguyễn Văn Chinh, nguyên trưởng ban quản lý di tích đình Quán La, từng là thủ từ đầu tiên và lâu nhất, rất hào hứng khi kể về ngôi đình và địa đạo huyền bí. Câu chuyện về địa đạo bắt đầu từ ngôi đình cổ.
Quán La là ngôi đình cổ đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1984. Xung quanh sự ra đời của ngôi đình này còn nhiều tranh cãi. Căn cứ vào 18 đạo sắc phong, mà sắc phong sớm nhất còn giữ được vào năm Thịnh Đức (1653), thì nhiều người phỏng đoán, ngôi đình được xây dựng vào khoảng thế kỷ 16-17.

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2010

Dòng họ Lê Hữu Trác: Chuyện ngôi mộ phát tích

Vùng đất xã Liêu Xá, huyện Đường Hào xưa, nay là thôn Liêu Xá, xã Liêu Xá, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên nổi tiếng "địa linh nhân kiệt". Nơi đây đã sinh ra và nuôi dưỡng dòng họ Lê Hữu nổi tiếng với 6 tiến sĩ khoa bảng và đại y tôn Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.

Ngôi mộ thiên táng


Theo gia phả dòng họ Lê  Hữu, Lê Hữu Dụng là đời thứ bảy, làm tư trưởng có quen với một người ở xã  Bình Lao, huyện Cẩm Giàng, hiệu là Đồ Cẩm, có hiểu biết về địa lý.

Nhân một lần Đồ Cẩm đến nhà bạn chơi, thấy cảnh nhà bần bạc liền hỏi nguyên cớ. Lê Hữu Dụng tỏ vẻ băn khoăn: "Dòng họ nhà tôi mấy đời nay học hành cũng khá nhưng đi thi lại không đỗ đạt. Không biết có phải do mồ mả?". Nghe thế, Đồ Cẩm nhận lời: "Sẽ tìm đất cải táng ngôi mộ tổ, sau này tất sẽ phú quý". 
a
 Ngôi mộ thiên táng phát tích của dòng họ Lê Hữu.

Y hẹn, Đồ Cẩm quay trở lại nhà bạn. Vì chưa mua được tiểu sành, Đồ Cẩm bảo chỉ cần lấy cái nồi đất miệng rộng ("thổ oa đại khẩu") thay cho tiểu sành cũng được, rồi cùng nhau ra đồng cải táng ngôi mộ cho cụ Vũ Thị Yêm, vợ cụ tổ đời thứ sáu Lê Tất Thắng. Khi mọi người chuẩn bị mang hài cốt đến nơi cải táng thì trời bắt đầu nổi gió, mây đen kéo đến, mưa như trút nước nên không thể đi chôn được. Mọi người bèn bàn với nhau sẽ để tạm hài cốt ở ria lũy tre làng để sớm mai đem chôn.

Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2010

Tuyển trạch cầu chân-Quyển 2

Quyển 2 :
SÁCH CHỌN NGÀY GIỜ DỰNG NHÀ – CHÔN NGƯỜI CHẾT, NAM NỮ HỢP HÔN
BÀN VỀ BỔ LONG
(Làm nhà, để mộ như nhau)
Khâu bình Phủ nói: “ Trước hết xem gió nước để quyết định dấu vết, sau xem năm, tháng nên đồng nhau, Cát, Hung hợp lý xen lẽ huyền diệu, nên quay tới Sơn đầu tìm vượng Long.”
Phàm vào làng nào mà thấy Sao, Ngọn núi lạ lùng khác hẳn, Long Thần tốt đẹp trội hẳn lên, làng ấy giàu sang không nghi ngờ gì. Làng nào mà thấy sườn núi quanh co rối loạn, Long Thần thấp yếu, làng ấy nghèo hèn không nghi ngờ gì. Gốc họa phúc đều thuộc về Long, chọn ngày mà không bổ Long, thì hà tất chọn. Biết thuyết bổ Long, thì đã nắm được cái then chốt huyền bí của đạo ấy.
(Sách có nói: “Phú Long nên tìm phú niên, nguyệt. Quý Long thì tìm Quý kỳ Quý cách. Tìm Sơn gia biết được chân phú quý, nên kén phú quý cả hai tình tin thực”, cho nên người xưa đều lấy bổ Long làm trọng).
Phàm Long ở xa không bàn, chỉ đơn độc lấy Mạch tới Huyệt là chủ, lấy Chính lý Ngũ Hành bàn sinh khắc, Tứ Trụ Bát tự sinh giúp vào thì Cát, khắc tiết thì Hung.
Tịch mậu nói: Long thì có Long vào đằng đầu, có Long ở chính thần. Long vào đằng đầu, là chí khí tới đằng đầu một tiết nhỏ. Long chính thân, hoặc quanh bên tả, quanh bên hữu, mà tiết ấy nhiều ; hoặc cao, thấp, dầy, mập, mà tiết ấy dài, nên bảo rằng Long đi thấp đại mới thành Long vậy. Bổ Long vào đằng đầu phát phúc chóng, Bổ Long chính thân phát phúc chậm mà được khá lâu . Nhưng Bổ Long chính thân chỉ bàn thế lớn, như Long Càn Hợi, Nhâm Tý, đều đến bản vị để phân ngũ hành, mà mưu toan chọn để bổ. Bổ Long vào đằng đầu thì lấy bình phân 60 mà xét khí thuộc Giáp Tý nào, cho nên người xưa có dùng Tứ trụ Nạp Âm, để bổ Long Nạp Âm.
Như Trường Trưởng lão làm cho Hoàng thị ở Uyển cương, Phong thành, khóa táng đó. Xét bổ Long thân ấy là vu khoát xa xôi. Bổ Long vào đằng đầu tất lấy bình phân 60 là câu nệ vậy. Người xưa dù có dùng, mà xét lấy Mạch vào đằng đầu xem 24 phương vị, nắm được ngũ hành là chánh tông.
Không cần hỏi Âm trạch Dương trạch, đến chỗ kết huyệt, tất có một dây Mạch nhỏ, tử tế mà xét định, tức lấy La Kinh xét cho đúng ngôi chữ gì, nếu thuộc Mộc thì dùng cục Hợi Mão Mùi, thuộc Kim thì dùng cục Tỵ Dậu Sửu, thuộc Hỏa thì dùng cục Dần Ngọ Tuất, thuộc Thủy thì dùng cục Thân Tí Thìn, đó là cục Vượng vậy. Hoặc dùng cục Ấn mà Sinh (như Hỏa long dùng cục Mộc, Mộc Long dùng cục Thủy, Thủy long dùng cục Kim ..v…v…) cũng được. Nhưng Long hùng mà đới Sát, nên dùng cục Tài (như Hỏa long thì dùng cục Kim …v…v…). Nếu trong hang núi đất âm u, trội lên mở ra cái lỗ trũng, gần huyệt chỉ có vòng tròn không mạch nhỏ, vòng tròn nếu rộng không phải là mạch, nên ở sau núi, chỗ thắt đáy lưng ong, xét mà bổ vào. Phàm chỗ Tỉnh, Thành, Quận, Huyện, phải hướng Ngọ thì hướng Bính Đinh. Hướng Ngọ tất Long Nhâm Tý; hướng Bính Đinh tất Long Hợi Cấn đều lấy cục Thân Tí Thìn, nhưng Mạch chính đã kết vào Nha Thự (nơi công sở các quan). Dân cư hoặc Đông, hoặc Tây, đều là trên Mạch chia ra từng chi mà tới ngang, chẳng biết thuộc Ngũ Hành nào, chỉ lấy bổ Toa Sơn là chủ. Từ đây trở ra ngoài đều bổ Mạch, mà chỗ đất âm u càng khẩn yếu, vì táng là nhân một sợi dây sinh khí. Khí Long suy hay vượng, hoàn toàn xem Nguyệt lệnh (lấy chính lệnh đã chép để làm trong 12 tháng). Cho nên bổ Long tất ở tháng Tam Hợp, hoặc tháng Lâm Quan, thì tháng Mộ cũng là tháng Vượng, không phải là lệ suy, bệnh vậy. Vì cung Sửu có Tân Kim, cung Thìn có Quý Thủy, cung Mùi có Ất Mộc, cung Tuất có Đinh Hỏa, cố nhiên biết 4 cung; Mộ là Vượng chứ không phải là Suy, cho nên phải dùng cục Tam Hợp.
Phàm Bổ Long hoàn toàn ở Tứ Trụ Địa Chi, vì Thiên Can khí nhẹ, Địa Chi sức nặng. Cũng có khi lấy Thiên nguyên nhất Khí mà bổ, như Giáp Long dùng 4 Giáp; cũng có khi lấy Địa nguyên nhất Khí mà bổ, như Mão Long dùng loại 4 Mão, thì rất thần diệu, nhưng khí được nhiều, hơn 10 năm mới gặp một lần, mà lại hoặc Nguyệt gia, Nhật gia, Sơn hướng đều không hợp, thì có thể làm gượng được ru! Không bằng cục Tam Hợp hoạt động dễ lấy.
Cục Tam hợp chỉ cốt ở trong tháng Tam Hợp, tháng Sinh, tháng Vượng, tháng Mộ đều được. Nếu trong 3 tháng ấy có Hung thần chiếm phương, thì tháng Lâm quan cũng khá gọi là cục Tam Hợp kiêm Lâm quan Địa Chi nhất khí. Hoặc là Tứ Sinh, Tứ Vượng thì không nên, dùng chữ Tứ Mộ Tam Hợp bất tất tất hoàn toàn 2 chữ cũng được (như cục Thủy dùng Thân Tý hai chữ, hoặc Thân Thìn 2 chữ đều là Hội Cục). 12 Long tính Âm nên dùng Âm khóa, 12 Long tính Dương nên dùng Dương khóa. Dương Công có câu: “ cốt yếu Âm Dương không lẫn lộn ” là thế đó. Nhưng Long Ngũ hành đều có Dương, có Âm, mà cục Hợi Mão Mùi, Tỵ Dậu Sửu, đều là Âm cả; cục Thân Tí Thìn, Dần Ngọ Tuất, đều lại là Dương cả. Cho nên khóa cũ cũng không câu nệ lắm về thuyết Âm Dương.
Người xưa Tạo Táng tám chữ, phần nhiều lấy Địa Chi Bổ Long, lấy Thiên can bổ Chủ Mệnh, hoặc cùng với Mệnh Tỷ Kiên nhất khí, hoặc hợp Tài, hoặc hợp Quan, hoặc hợp Lộc Mã Quý nhân; lại hoặc Thiên Can hợp Mệnh, mà Lộc Mã Quý Nhân tới Sơn. Địa Chi lại bổ Long Mạch, thì là Thượng Thượng cục của Bát Tự vậy. Một bọn nhà sư đời Đường, Thác trưởng Lão đời Tống, đều lấy Tứ Trụ Nạp Âm để bổ Long, bản mộ nạp âm, cũng rất ứng ứng nghiệm, nhưng không bằng sức của Địa Chi.
Lại có thể bàn về Nạp Âm, thì phép ấy là không bàn Nạp Âm của Bản Long, mà ở Mộ thượng của Long khởi Nạp Âm để bàn Sinh Khắc, như năm Canh Dần làm Tuất Sơn, Tuất Long. Chính Ngũ hành thuộc Thổ Thủy Thổ mộ. Năm Thìn cung dùng Ngũ Hỗ độn đến Thìn là Canh Thìn, Kim âm Bát Tự nên lấy Kim âm, Thổ Âm thì cát, Hỏa âm thì khắc Long Mộ, là Hung. Đây vốn là Hồng Phạm chuyển vận, mà người bàn cùng với ý của một bọn nhà sư và Thác Trưởng Lão có khác, cũng nên tham khảo để xem thêm.
Phàm lấy cục Tam Hợp bổ Thủy Long; cục Mộc Tam hợp bổ Mộc Long là cục Vượng. Thượng cát là lấy Tam hợp cục Kim sinh Thủy Long, Tam hợp cục Thủy sinh Mộc Long là cục Tướng, lại là cục Ấn thụ. Cát thứ là: Thủy Long dùng Tam Hợp cục Thủy là cục Tài, nhưng Long Hùng đới có Sát, bất tất lại Bổ nữa, thì dùng Tam Hợp cục Tài, không bổ cũng không tiết lậu.

Thứ Tư, 7 tháng 4, 2010

Tuyển Trạch Cầu Chân-Quyển 1

Tựa tập Tuyển Trạch Cầu Chân  
Tư Mã Ôn có nói: Bói nhà ở, bói lành, trước bàn việc người, sau hỏi bói rùa, không đất thường, ngày thường vậy. Kịp đến thời nhà Tần nhà Tấn, sự huyền bí Âm Dương đã tiết lậu, đạo khắc trạch nảy nở dần dần. Dương Quân Tùng đời đường mở sự sâu xa ra, dựng nhà ở chôn người chết nên chọn ngày, vốn là lẽ chính của Ngũ Hành, thuận thời tiết của 4 mùa, sau xét đến Vượng, Tướng, Hưu, Tù. Thi hành thì lấy Sinh, Khắc, Chế, Hóa, Phù Long, Tướng Chủ, theo lành, tránh dữ, khúc chiết hết cái diệu (hay), do đó làm nên thiên Tạo Mệnh để trao cho Tăng Văn Sơn, Trần Hi Di truyền bá. Các ông Ngô Thành, Ngô Cảnh Loan, Liêu Kim Tinh đều là người danh tiếng các triều đại cũng đều noi theo Tạo Mệnh của Dương Công. Nhưng những thuật giả dối khoe khoang sự lạ của các nhà có kéo nhau, phụ họa nhau, nhờ danh Dương Công để làm hổn độn ở trên đời.
Than ôi ! Lòng trời há có chán bậc tiên hiền tiết lậu hết mà khiến bọn giả dối này làm rối loạn sự thực ru!
Trước tôi bị sa vào cái thuật ấy, may được Mạch Chu thiên sứ cho biết bến mê, được giác ngộ ý Tạo Mệnh, chỉ một cuốn Tuyển trạch ấy chở đầy xe, xếp đầy nhà, thật giả đều truyền bá ở đời này, dù có kẻ biết là giả, nhưng xét ra chưa từng trỏ thẳng cái chỗ không phải, thời đời sau há chẳng bị nhầm mãi mãi ru! Do đó không thể giữ được buồn mà than rằng: “Những cây cỏ xấu mà không trừ bỏ thời lúa tốt lành làm sao mà mọc lên được?”.
Thực không phải nói vu vơ vậy! Chừng ấy mới rộng lấy các sách, chọn cái lý gì chính đáng thời chép ra, cái nhầm thời bỏ đi, tôn sung tạo mệnh của Dương Công, theo các vì sao nói trong Hiệp kỷ của Quốc Triệu, xếp đặt thành thiên phụ thêm ý kiến vào nửa, ở trong thiên có sự chồng chất lên, chả là những ý cùng nhau phát minh ra, nhân đặt tên thiên là Tuyển Trạch Cầu Chân .
Năm Gia Khánh thứ 14, năm Kỷ Tỵ, mùa thu tháng 8 Cách Thành Minh Viễn .
Hồ Huy Ứng quang thị viết ra ở nhà Huệ Cát .


Tựa của Tụ Chân
Thiên Tuyển Trạch Cầu Chân tự đâu mà thành ra? Thành ra tự tay Minh Viên Hồ Quân. Hồ Quân làm sao mà làm ra thiên này? Hồ Quân không nỡ để thuật giả dối làm ngu người ta, cho nên lấy ở bài bàn có danh tiếng để cầu được chính xác. Thiên này do Hồ Quân làm ra tại sao tôi lại làm bài tựa? Vì Minh Viễn Hồ Quân là bạn tốt của tôi, tôi vốn chứa sức học từ thuở bình sinh, phàm những sách Kinh, Sử, Tử, chẳng sách nào là chẳng học đầy đủ mà rất tinh về thuật lý.

Tuyển Trạch Cầu Chân

Tôi có một cái tật cố hữu gặp được một cuốn sách hay thì đọc quên ăn quên ngủ cho xong, mươi bữa có khi lại quên mất nội dung lại giở sách ra đọc lại nghiền ngẫm, cái lối đọc đó tôi chẳng biết gọi lài gì, nhưng  cái lối đọc nhanh, chậm, chậm dần, chậm nữa, chậm chậm nữa ..đối với tôi có nhiều điều thú vị.
Tuyển Trạch Cầu Chân-Cuốn sách này huynh Trường Minh post bên TGVH, tôi xin phép post lại trên Blog của mình để có thêm tư liệu nghiên cứu và hầu bằng hữu nếu ghé qua đây có cái để đọc. Theo sách thì "chọn cái lý gì chính đáng thời chép ra, cái nhầm thời bỏ đi, tôn sung tạo mệnh của Dương Công, theo các vì sao nói trong Hiệp kỷ của Quốc Triệu, xếp đặt thành thiên phụ thêm ý kiến vào nửa, ở trong thiên có sự chồng chất lên, chả là những ý cùng nhau phát minh ra, nhân đặt tên thiên là Tuyển Trạch Cầu Chân (Năm Gia Khánh thứ 14, năm Kỷ Tỵ, mùa thu tháng 8 Cách Thành Minh Viễn. Hồ Huy Ứng quang thị viết ra ở nhà Huệ Cát.)

Theo đó sách gồm 7 cuốn nội dung như sau :
Quyển 1:
_ Tựa tập Tuyển Trạch Cầu Chân
_ Tựa của Tụ Chân
_ Tuyển Trạch biện chính
_ Bàn về sự nhầm lẫn của các phép Đẩu Thủ
_ Bàn về Tuyển Trạch
_ Bài biểu của Ngô Cảnh Loan dâng cuốn "Âm Dương Thiên cơ"
_ Bài biểu của Ngô Cảnh Loan nói về "Tuyển Trạch Ngũ Hành":
_ Nêu sự cốt yếu về Tuyển Trạch
_ Bài ca về Tuyển Trạch diệu dụng
_ Bàn về sinh khắc chế hoá
_ Bài ca Tạo Mệnh thiên kim
_ Nói rõ Tinh, Thần
_ Kinh Nghi Long
_ Bàn bạc chính xác về Thần Sát

Quyển 2: Cách chọn ngày giờ dựng nhà_ chôn người chết_ nam nữ hợp hôn.
_ Bàn về Bổ Long.
_ Khoá xưa về Bổ Long
_ Bàn về Phù Sơn
_ Bàn về Lập Hướng
_ Bàn về Tướng Chủ
_ Cách cục về Tạo Mệnh
_ Bàn về lấy dùng Chính Ngũ Hành Sinh, Vượng
_ Tóm bàn về Tứ Trụ
_ Phép dùng Niên
_ Phép dùng Nguyệt
_ Phép dùng Nhật
_ Phép dùng Thời
_ Tứ Đại Cát thời
_ Lệ về Âm Dương Quý
_ Biểu tổng quát 720 khoá giờ Quý Nhân đăng Thiên Môn

Thứ Năm, 11 tháng 3, 2010

DÃ ĐÀM – TẢ AO

OZ-Tôi đã có dịp đọc hơn trăm câu Dã đàm Tả Ao song sức hiểu có hạn mò mẫm giữa đêm đen, may thay sau này có được một file PRC của tảc giả Cao Trung diễn giải-mà tôi post dưới đây, thật hết sức dễ hiểu, ngôn ngữ bình dị mà ai cũng dễ nhập tâm, thậm chí trong lúc cao hứng trà dư tửu hậu có thể đem ra luận bàn.
Vì vậy đã có ý đưa lên blog nhưng chưa có thời gian chuyển file PRC sang Word, bữa nay ta bà vào trang anh dienbatn thấy anh có đăng nên cọp về đây giới thiệu với những ai thích nghiên cứu tìm hiểu về Phong thủy.
Mong anh dienbatn đánh cho tiểu đệ hai chữ “đại xá” nhé.
TỰA
Của Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ
Giáo sư Đại học Văn khoa Sài Gòn
Giáo sư Đại học Nhân văn và
Nghệ thuật Viện Đại Học Minh Đức
Cách đây mấy năm ông Cao Trung đã nhờ tôi đề tựa quyển Địa Lý Tả Ao của ông, nay ông lại có nhã ý nhờ tôi đề tựa tập Dã Đàm Tả Ao này.
Tác giả cho biết đây là tài liệu viết tay của ông Nguyễn Tấn Minh thuộc giòng giỏi cụ Tả Ao, viết năm Canh Thìn (cụ Tả Ao tên là Nguyễn Đức Huyên).
Tôi may mắn có bộ sách “Tả Ao chân truyền địa lý” do Hà Kim, Duyên Tự Sơn Nhân hiệu đính, Bất Chuẩn Phiên khắc và hiệu Nghĩa Lợi hàng Đào phát hành năm Kỷ Mùi (1919) đời vua Khải Định.
Tôi đem hai bản so sánh thì thấy hầu hết giống nhau, ngoại trừ một vài chi tiết nhỏ. Như thế là chúng ta có thể vững bụng về phần tài liệu.
Nhưng dù là đọc bản in tại Hà Nội hay bản viết tay của ông Nguyễn Tấn Minh, tôi cũng thấy hết sức khó hiểu. Trái lại khi tài liệu trên vào đến tay ông Cao Trung thì nó lại trở nên khúc chiết, rạch ròi, vì nó đã được ông Cao Trung đem công phu phân thành tiết mục hẳn hoi, nhất là sự bình giải hết sức sáng suốt cặn kẽ.