Hiển thị các bài đăng có nhãn Xem ngày. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xem ngày. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

Tặng sách e-book : Ngọc Hạp Chánh Tông

Tác Phảm Kinh Điển Quý Giá Đầy Đủ Nhất, Đúng Theo Lý Số Cổ Truyền - Ngọc Hạp Chánh Tông - Cổ Thư Bí Truyền Lập Thành Dễ Hiểu

Ngọc Hạp Chánh Tông này là một bổn sách cổ từ lâu đời bằng chữ Nho, mà thuở xưa các cụ thường dùng để trạch tuổi, coi ngày, coi giờ, coi cưới gả, coi làm nhà, coi xuất hành, mở cửa hàng, coi phương hướng và so đôi tuổi trai và gái kết hôn cùng nhau cho được phù hạp về cung mạng thuộc Ngũ hành khắc và hạp.

Bổn sách Ngọc Hạp là một bổn sách rất quí báu, hậu thế cũng chưa ai làm nối theo mà bỏ không dùng bổn ấy làm gốc. Nhà làm sách Ngọc Hạp và Bát Trạch đã thông Thiên văn rành Địa lý, am hiểu vũ trụ biến đổi, lại rành rẽ về Lịch số học mới làm ra được; phải hiểu cả Âm Dương thuộc Ngũ hành khắc hạp v.v...

Trong khi trình bày quyển Ngọc hạp này, tôi có hai điều mong ước: Một, là bây giờ nền Nho học càng ngày càng thối bộ, tôi muốn lưu lại một đôi phần trong khoa này cho quí vị nào có cần đến cũng đỡ bớt sự phiền phức. Hai, là tôi đã kinh nghiệm thật đúng, cho nên tôi mới mạnh dạn trình bày để cho những vị tân học ngày nay có dịp khảo xét thêm cho biết coi người xưa truy nguyên có đúng hay không. Về điểm này tôi xin để thời gian chứng minh sự thật... chớ hiện nay phần đông vì khoa học tiến mạnh, làm cho thiên hạ say mê nền Tân học, còn cái gì thuộc về cũ - mà nhứt là những gì nghe ra như huyền bí - thì người ta có dạ nghi ngờ, mà nghi ngờ cũng có lý... Riêng tôi, tôi lấy lương tâm chức nghiệp mà hoàn thành quyển Ngọc hạp này.

Mời bạn đón đọc.

Link download: Ngọc Hạp Chánh Tông

Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2010

HÁI LỘC ĐẦU NĂM & XUẤT HÀNH & KHAI TRƯƠNG ĐẦU NĂM TÂN MÃO (2011)

HÁI LỘC ĐẦU NĂM & XUẤT HÀNH  & KHAI TRƯƠNG
ĐẦU NĂM  TÂN MÃO   (2011)



*Giao thừa thắp hương khấn vái : “Thái Tuế Tân Mão  niên  PHẠM NỊNH   Tinh Quân”    chứng minh.

*Đốt nhang nghinh đón tài lộc đầu năm : lúc 23 giờ 30 đêm giao thừa, đi về hướng  Đông bắc  hái lộc.

*Xuất hành đầu năm: từ 3 giờ 30 đến 05 giờ khuya, sáng mùng một từ  9g đến 11 giờ.

-Đi về hướng Đông bắc đón  Hỉ Thần


-Tài Thần, Quí Thần tuy ở chính Bắc nhưng phạm Ngạc Thần (không nên đi)

*Giờ kỵ xuất hành: từ 23g đến 01g đêm giao thừa—Ngày mùng một : từ 11g15 đến 13g  và 15 g đến 19 giờ.

*Hướng kỵ xuất hành :  Chính bắc  (Ngạc thần,Ngũ quỷ)

*Cúng đầu năm (mùng 3) , khấn vái : “Trịnh Vương  Hành Khiển Tôn Thần cùng Thạch Tinh    Hành Binh Tôn Thần và  Liêu Tào Phán Quan”, phù hộ độ trì tai qua nạn khỏi v.v…

*Ngày khai trương đầu năm:-

-Ngày 04 /1 (kỵ tuổi Tuất), 06 /1 (kỵ tuổi Tí), 10/1 (kỵ tuổi Thìn ),  12/1 (kỵ tuổi Ngọ), 15 /1 (kỵ tuổi Dậu), ngày 24 / 1 (kỵ tuổi Ngọ),  ngày 30/1 ( kỵ tuổi Tí)
(Nguồn: Thầy Nhược Thủy- HTT)

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2010

BÀN VỀ BA KIẾT TINH

Ba kiết tinh ấy là: Sát công, Trực tinh, Nhơn chuyên.
Đây là ba Đại kiết tinh trong 9 vị theo thứ tự như sau: Yểu tinh, Hoắc tinh, Hòa đao, SÁT CÔNG, TRỰC TINH, Bốc mộc, Giác kỷ, NHƠN CHUYÊN, và Lập tảo.
1. YỂU TINH: Phàm thượng quan, cưới gã, dời chỗ, mở tiệm, khởi tạo, nhập trạch, phạm nhằm ngày có sao này, trong vòng một năm, nhơn khẩu tai hung, quan tư, mất trộm, nhà cửa ruộng vườn bị thối bại.
2. HOẮC TINH: Phàm tạo tác, cưới gả, dời chỗ, thượng quan, mở tiệm, chôn cất, phạm nhằm sao này, trong vòng 1 năm, trăm sự suy bại, lục súc tử thương, sanh con chẳng ra gì, đàn bà dâm loạn, hỏa tai, đạo tặc, quan sự, bị người khinh dễ.
3. HÒA ĐAO: Phàm thượng quan, tạo tác, dời chỗ ở, mở cửa hàng, phạm nhằm sao này nội trong 1 năm có thể gặp các việc: bịnh tật, hiếu phục, hổ thương (bị cọp làm hại) chết người.
4. SÁT CỐNG: (Tức là HIỂN TINH): Phàm tạo tác, mở đầu, cưới gả, dời chỗ ở, mở cửa hàng, thượng quan, chôn cất vân vân … gặp được sao này trong vòng 3 năm, tài lộc, chức vị tăng nhiều, đất vườn nhà cửa thêm nhiều, chủ về có con quý, lại được cha hiền con hiếu, tôi tớ có nết na, gặp nhiều việc tốt.
5. TRỰC TINH: Phàm thượng quan, cưới gả, mở tiệm, dời chỗ, tu tạo, mai táng gặp được sao này thì có nhiều việc tốt lành: làm quan thì được gia quan tấn lộc, người thường thì trăm việc được xứng tâm, buôn bán làm ăn thì thêm giàu có. Nhưng nếu gặp KIM THẦN THẤT SÁT nhứt định không trừ được sự hung. Kim thần thất sát sau sẽ bàn tới ở mục này.

Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2010

Xem ngày tốt xấu

Việc chọn ngày tốt, tránh ngày xấu từ lâu đã trở thành truyền thống văn hoá của các dân tộc Đông phương. Nhưng phương pháp chọn ngày tốt, tránh ngày xấu cho đến tận bây giờ vẫn còn gây tranh cãi. Bởi vì nguyên lý và thực tại nào để có những ngày được coi là tốt hay xấu vẫn còn là những điều bí ẩn cần tiếp tục khám phá…
Một hiện tượng lịch sử được ghi nhận về sự lúng túng trong việc coi ngày tốt xấu xưa nhất là trong Sử Ký của Tư Mã Thiên, bài “Nhật giả liệt truyện”. Trong đó miêu tả Hán Vũ Đế đã triệu tập toàn bộ những thầy chuyên coi ngày của các phương pháp khác nhau trên khắp đế quốc Hán để coi ngày cho ông ta lấy vợ. Các thày đã cãi nhau suốt ngày mà không thể chọn ra ngày tốt cho Hán Vũ Đế. Cuối cùng Hán Vũ Đế phải tự quyết định chọn phương pháp Ngũ hành để tìm ngày tốt cho mình.
Việc chọn ngày tốt, tránh ngày xấu từ lâu đã trở thành truyền thống văn hoá của các dân tộc Đông phương. Nhưng phương pháp chọn ngày tốt, tránh ngày xấu cho đến tận bây giờ vẫn còn gây tranh cãi. Bởi vì nguyên lý và thực tại nào để có những ngày được coi là tốt hay xấu vẫn còn là những điều bí ẩn cần tiếp tục khám phá. Bài viết này là một cố gắng của các thành viên nghiên cứu thuộc Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương soạn, tập hợp những tư liệu còn lưu truyền trong dân gian về các quy ước ngày tốt xấu và phương pháp chọn ngày trên cơ sở những tư liệu sưu tầm được.
Phương pháp:
Tập hợp càng nhiều càng tốt những tư liệu qui ước chọn ngày tốt xấu còn lưu truyền. So sánh đối chiếu với Vạn Niên Lịch. Loại bỏ tất cả những ngày được coi là xấu trong tất cả các tư liệu sưu tầm được. Sau đó chọn ngày tốt nhất trong những ngày còn lại.
a.Ưu điểm của phương pháp này là:
Do chưa tìm hiểu được nguyên lý và thực tại nào làm nên tính qui ước về ngày xấu tốt với con người, cho nên việc loại trừ tất cả những ngày xấu mà sách xưa để lại.
b.Nhược điểm của phương pháp này là:
Có khả năng có những tư liệu đã thất truyền, hoặc sưu tầm chưa đầy đủ sẽ để lọt những ngày xấu mà các tư liệu sưu tầm được không nhắc đến. Đôi khi chính những ngày xấu trong những tư liệu chưa sưu tầm được, lại rất quan trọng.
Bởi vậy, chúng tôi chân thành mong các nhà nghiên cứu và những ai còn có những tư liệu liên quan đến ngày tốt xấu, hãy trao đổi với chúng tôi để việc nghiên cứu liên quan ngày càng hoàn tất, phục vụ cho cuộc sống con người.
Dưới đây là những tư liệu liên quan đến ngày tốt xấu mà chúng tôi đã sưu tầm được để quí vị tham khảo.
1.LOẠI BỎ NHỮNG NGÀY XẤU TRONG THÁNG

XÉT NGÀY HUNG KHÔNG KỴ

Người xưa đã từng kinh nghiệm là những ngày bị phạm Đại hung tinh và hung tinh thì phải chừa, các ngày thứ hung có nhiều kiết tinh thì dùng được. Những đại kiết tinh là: Thiên đức, Nguyệt đức, Thiên đức hiệp, Nguyệt đức hiệp, Tuế đức, Tuế đức hiệp, Thiên xá, Thiên nguyên, Lục hiệp, Tam hiệp có thế lực mạnh mẽ chế ngự được các hung tinh, nhưng không chế nổi Hồng sa sát vàTam sát là Kim thần thất sát, và kế đó cũng không chế nổi Nguyệt phá là Đại hao là Trực phá đều là Đại hung tinh. Ngoài các sát tinh trên, còn như Tứ ly, Tứ tuyệt, Nguyệt kỵ, Nguyệt hình, Nguyệt hại, Nguyệt yểm, Đại thời, Thiên lại, Tứ phế vân vân … đều là thứ hung. Có khi có những hung tinh mà vẫn coi như không có như trường hợp sau đây:
1. Ngày Nghiêu bại có Bất tương không kỵ.
2. Ngày Nhơn cách kỵ các ngày Sính lễ, có Bất tương cũng không kỵ.
3. Ngày Nguyệt kỵ có nhiều Kiết tinh dùng được.
4. Ngày Bạch hổ là mùa Xuân có sao Tỉnh, mùa Hè có sao Vĩ, mùa Thu sao Ngưu, mùa Đông sao Bích, có Kỳ lân thì không kỵ.
(Ngày Kỳ lân là tháng 1: ngày Tuất; tháng 2: ngày Tý; tháng 3: ngày Dần; tháng 4: ngày Thìn; tháng 5: ngày Ngọ; tháng 6: ngày Thân; tháng 7: ngày Tuất; tháng 8: ngày Tý; tháng 9: ngày Dần; tháng 10: ngày Thìn; tháng 11: ngày …; tháng 12 : ngày Thân).
5. Ngày Thâu tước là mùa Xuân sao Nguy, mùa Hè sao Mão, mùa Thu sao Vị, mùa Đông sao Tất, có Phụng hoàng khỏi kỵ.
(Ngày Phụng hoàng: tháng 1, 7: ngày Thìn; tháng 2, 8: ngày Ngọ; tháng 3,9: ngày Thân; tháng 4, 10: ngày Tuất; tháng 5, 11: ngày Tý; tháng 12: ngày Dần).
6. Ngày Thiên quả, Địa quả (Địa quả tức Ngưu lang) là tháng dương gặp ngày dương: Thân, Tý, Thìn, Dần, Ngọ, Tuất hoặc tháng âm dùng ngày âm: Tỵ, Dậu, Sửu, Hợi, Mẹo, Mùi mới là Thiên quả, Địa quả, còn tháng Dương hiệp ngày Âm hay tháng Âm hiệp ngày Dương là không phải.
7. Ngày Phục đoạn: Những ngày Can và Chi khắc nhau mới phải, không khắc nhau không phải là Phục đoạn không kỵ.
CAN khắc CHI, như ngày Ất Sửu, Ất là Can thuộc Mộc khắc Sửu là Chi thuộc Thổ.

Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2010

Tuyển trạch cầu chân-Quyển 2

Quyển 2 :
SÁCH CHỌN NGÀY GIỜ DỰNG NHÀ – CHÔN NGƯỜI CHẾT, NAM NỮ HỢP HÔN
BÀN VỀ BỔ LONG
(Làm nhà, để mộ như nhau)
Khâu bình Phủ nói: “ Trước hết xem gió nước để quyết định dấu vết, sau xem năm, tháng nên đồng nhau, Cát, Hung hợp lý xen lẽ huyền diệu, nên quay tới Sơn đầu tìm vượng Long.”
Phàm vào làng nào mà thấy Sao, Ngọn núi lạ lùng khác hẳn, Long Thần tốt đẹp trội hẳn lên, làng ấy giàu sang không nghi ngờ gì. Làng nào mà thấy sườn núi quanh co rối loạn, Long Thần thấp yếu, làng ấy nghèo hèn không nghi ngờ gì. Gốc họa phúc đều thuộc về Long, chọn ngày mà không bổ Long, thì hà tất chọn. Biết thuyết bổ Long, thì đã nắm được cái then chốt huyền bí của đạo ấy.
(Sách có nói: “Phú Long nên tìm phú niên, nguyệt. Quý Long thì tìm Quý kỳ Quý cách. Tìm Sơn gia biết được chân phú quý, nên kén phú quý cả hai tình tin thực”, cho nên người xưa đều lấy bổ Long làm trọng).
Phàm Long ở xa không bàn, chỉ đơn độc lấy Mạch tới Huyệt là chủ, lấy Chính lý Ngũ Hành bàn sinh khắc, Tứ Trụ Bát tự sinh giúp vào thì Cát, khắc tiết thì Hung.
Tịch mậu nói: Long thì có Long vào đằng đầu, có Long ở chính thần. Long vào đằng đầu, là chí khí tới đằng đầu một tiết nhỏ. Long chính thân, hoặc quanh bên tả, quanh bên hữu, mà tiết ấy nhiều ; hoặc cao, thấp, dầy, mập, mà tiết ấy dài, nên bảo rằng Long đi thấp đại mới thành Long vậy. Bổ Long vào đằng đầu phát phúc chóng, Bổ Long chính thân phát phúc chậm mà được khá lâu . Nhưng Bổ Long chính thân chỉ bàn thế lớn, như Long Càn Hợi, Nhâm Tý, đều đến bản vị để phân ngũ hành, mà mưu toan chọn để bổ. Bổ Long vào đằng đầu thì lấy bình phân 60 mà xét khí thuộc Giáp Tý nào, cho nên người xưa có dùng Tứ trụ Nạp Âm, để bổ Long Nạp Âm.
Như Trường Trưởng lão làm cho Hoàng thị ở Uyển cương, Phong thành, khóa táng đó. Xét bổ Long thân ấy là vu khoát xa xôi. Bổ Long vào đằng đầu tất lấy bình phân 60 là câu nệ vậy. Người xưa dù có dùng, mà xét lấy Mạch vào đằng đầu xem 24 phương vị, nắm được ngũ hành là chánh tông.
Không cần hỏi Âm trạch Dương trạch, đến chỗ kết huyệt, tất có một dây Mạch nhỏ, tử tế mà xét định, tức lấy La Kinh xét cho đúng ngôi chữ gì, nếu thuộc Mộc thì dùng cục Hợi Mão Mùi, thuộc Kim thì dùng cục Tỵ Dậu Sửu, thuộc Hỏa thì dùng cục Dần Ngọ Tuất, thuộc Thủy thì dùng cục Thân Tí Thìn, đó là cục Vượng vậy. Hoặc dùng cục Ấn mà Sinh (như Hỏa long dùng cục Mộc, Mộc Long dùng cục Thủy, Thủy long dùng cục Kim ..v…v…) cũng được. Nhưng Long hùng mà đới Sát, nên dùng cục Tài (như Hỏa long thì dùng cục Kim …v…v…). Nếu trong hang núi đất âm u, trội lên mở ra cái lỗ trũng, gần huyệt chỉ có vòng tròn không mạch nhỏ, vòng tròn nếu rộng không phải là mạch, nên ở sau núi, chỗ thắt đáy lưng ong, xét mà bổ vào. Phàm chỗ Tỉnh, Thành, Quận, Huyện, phải hướng Ngọ thì hướng Bính Đinh. Hướng Ngọ tất Long Nhâm Tý; hướng Bính Đinh tất Long Hợi Cấn đều lấy cục Thân Tí Thìn, nhưng Mạch chính đã kết vào Nha Thự (nơi công sở các quan). Dân cư hoặc Đông, hoặc Tây, đều là trên Mạch chia ra từng chi mà tới ngang, chẳng biết thuộc Ngũ Hành nào, chỉ lấy bổ Toa Sơn là chủ. Từ đây trở ra ngoài đều bổ Mạch, mà chỗ đất âm u càng khẩn yếu, vì táng là nhân một sợi dây sinh khí. Khí Long suy hay vượng, hoàn toàn xem Nguyệt lệnh (lấy chính lệnh đã chép để làm trong 12 tháng). Cho nên bổ Long tất ở tháng Tam Hợp, hoặc tháng Lâm Quan, thì tháng Mộ cũng là tháng Vượng, không phải là lệ suy, bệnh vậy. Vì cung Sửu có Tân Kim, cung Thìn có Quý Thủy, cung Mùi có Ất Mộc, cung Tuất có Đinh Hỏa, cố nhiên biết 4 cung; Mộ là Vượng chứ không phải là Suy, cho nên phải dùng cục Tam Hợp.
Phàm Bổ Long hoàn toàn ở Tứ Trụ Địa Chi, vì Thiên Can khí nhẹ, Địa Chi sức nặng. Cũng có khi lấy Thiên nguyên nhất Khí mà bổ, như Giáp Long dùng 4 Giáp; cũng có khi lấy Địa nguyên nhất Khí mà bổ, như Mão Long dùng loại 4 Mão, thì rất thần diệu, nhưng khí được nhiều, hơn 10 năm mới gặp một lần, mà lại hoặc Nguyệt gia, Nhật gia, Sơn hướng đều không hợp, thì có thể làm gượng được ru! Không bằng cục Tam Hợp hoạt động dễ lấy.
Cục Tam hợp chỉ cốt ở trong tháng Tam Hợp, tháng Sinh, tháng Vượng, tháng Mộ đều được. Nếu trong 3 tháng ấy có Hung thần chiếm phương, thì tháng Lâm quan cũng khá gọi là cục Tam Hợp kiêm Lâm quan Địa Chi nhất khí. Hoặc là Tứ Sinh, Tứ Vượng thì không nên, dùng chữ Tứ Mộ Tam Hợp bất tất tất hoàn toàn 2 chữ cũng được (như cục Thủy dùng Thân Tý hai chữ, hoặc Thân Thìn 2 chữ đều là Hội Cục). 12 Long tính Âm nên dùng Âm khóa, 12 Long tính Dương nên dùng Dương khóa. Dương Công có câu: “ cốt yếu Âm Dương không lẫn lộn ” là thế đó. Nhưng Long Ngũ hành đều có Dương, có Âm, mà cục Hợi Mão Mùi, Tỵ Dậu Sửu, đều là Âm cả; cục Thân Tí Thìn, Dần Ngọ Tuất, đều lại là Dương cả. Cho nên khóa cũ cũng không câu nệ lắm về thuyết Âm Dương.
Người xưa Tạo Táng tám chữ, phần nhiều lấy Địa Chi Bổ Long, lấy Thiên can bổ Chủ Mệnh, hoặc cùng với Mệnh Tỷ Kiên nhất khí, hoặc hợp Tài, hoặc hợp Quan, hoặc hợp Lộc Mã Quý nhân; lại hoặc Thiên Can hợp Mệnh, mà Lộc Mã Quý Nhân tới Sơn. Địa Chi lại bổ Long Mạch, thì là Thượng Thượng cục của Bát Tự vậy. Một bọn nhà sư đời Đường, Thác trưởng Lão đời Tống, đều lấy Tứ Trụ Nạp Âm để bổ Long, bản mộ nạp âm, cũng rất ứng ứng nghiệm, nhưng không bằng sức của Địa Chi.
Lại có thể bàn về Nạp Âm, thì phép ấy là không bàn Nạp Âm của Bản Long, mà ở Mộ thượng của Long khởi Nạp Âm để bàn Sinh Khắc, như năm Canh Dần làm Tuất Sơn, Tuất Long. Chính Ngũ hành thuộc Thổ Thủy Thổ mộ. Năm Thìn cung dùng Ngũ Hỗ độn đến Thìn là Canh Thìn, Kim âm Bát Tự nên lấy Kim âm, Thổ Âm thì cát, Hỏa âm thì khắc Long Mộ, là Hung. Đây vốn là Hồng Phạm chuyển vận, mà người bàn cùng với ý của một bọn nhà sư và Thác Trưởng Lão có khác, cũng nên tham khảo để xem thêm.
Phàm lấy cục Tam Hợp bổ Thủy Long; cục Mộc Tam hợp bổ Mộc Long là cục Vượng. Thượng cát là lấy Tam hợp cục Kim sinh Thủy Long, Tam hợp cục Thủy sinh Mộc Long là cục Tướng, lại là cục Ấn thụ. Cát thứ là: Thủy Long dùng Tam Hợp cục Thủy là cục Tài, nhưng Long Hùng đới có Sát, bất tất lại Bổ nữa, thì dùng Tam Hợp cục Tài, không bổ cũng không tiết lậu.

Thứ Tư, 7 tháng 4, 2010

Tuyển Trạch Cầu Chân-Quyển 1

Tựa tập Tuyển Trạch Cầu Chân  
Tư Mã Ôn có nói: Bói nhà ở, bói lành, trước bàn việc người, sau hỏi bói rùa, không đất thường, ngày thường vậy. Kịp đến thời nhà Tần nhà Tấn, sự huyền bí Âm Dương đã tiết lậu, đạo khắc trạch nảy nở dần dần. Dương Quân Tùng đời đường mở sự sâu xa ra, dựng nhà ở chôn người chết nên chọn ngày, vốn là lẽ chính của Ngũ Hành, thuận thời tiết của 4 mùa, sau xét đến Vượng, Tướng, Hưu, Tù. Thi hành thì lấy Sinh, Khắc, Chế, Hóa, Phù Long, Tướng Chủ, theo lành, tránh dữ, khúc chiết hết cái diệu (hay), do đó làm nên thiên Tạo Mệnh để trao cho Tăng Văn Sơn, Trần Hi Di truyền bá. Các ông Ngô Thành, Ngô Cảnh Loan, Liêu Kim Tinh đều là người danh tiếng các triều đại cũng đều noi theo Tạo Mệnh của Dương Công. Nhưng những thuật giả dối khoe khoang sự lạ của các nhà có kéo nhau, phụ họa nhau, nhờ danh Dương Công để làm hổn độn ở trên đời.
Than ôi ! Lòng trời há có chán bậc tiên hiền tiết lậu hết mà khiến bọn giả dối này làm rối loạn sự thực ru!
Trước tôi bị sa vào cái thuật ấy, may được Mạch Chu thiên sứ cho biết bến mê, được giác ngộ ý Tạo Mệnh, chỉ một cuốn Tuyển trạch ấy chở đầy xe, xếp đầy nhà, thật giả đều truyền bá ở đời này, dù có kẻ biết là giả, nhưng xét ra chưa từng trỏ thẳng cái chỗ không phải, thời đời sau há chẳng bị nhầm mãi mãi ru! Do đó không thể giữ được buồn mà than rằng: “Những cây cỏ xấu mà không trừ bỏ thời lúa tốt lành làm sao mà mọc lên được?”.
Thực không phải nói vu vơ vậy! Chừng ấy mới rộng lấy các sách, chọn cái lý gì chính đáng thời chép ra, cái nhầm thời bỏ đi, tôn sung tạo mệnh của Dương Công, theo các vì sao nói trong Hiệp kỷ của Quốc Triệu, xếp đặt thành thiên phụ thêm ý kiến vào nửa, ở trong thiên có sự chồng chất lên, chả là những ý cùng nhau phát minh ra, nhân đặt tên thiên là Tuyển Trạch Cầu Chân .
Năm Gia Khánh thứ 14, năm Kỷ Tỵ, mùa thu tháng 8 Cách Thành Minh Viễn .
Hồ Huy Ứng quang thị viết ra ở nhà Huệ Cát .


Tựa của Tụ Chân
Thiên Tuyển Trạch Cầu Chân tự đâu mà thành ra? Thành ra tự tay Minh Viên Hồ Quân. Hồ Quân làm sao mà làm ra thiên này? Hồ Quân không nỡ để thuật giả dối làm ngu người ta, cho nên lấy ở bài bàn có danh tiếng để cầu được chính xác. Thiên này do Hồ Quân làm ra tại sao tôi lại làm bài tựa? Vì Minh Viễn Hồ Quân là bạn tốt của tôi, tôi vốn chứa sức học từ thuở bình sinh, phàm những sách Kinh, Sử, Tử, chẳng sách nào là chẳng học đầy đủ mà rất tinh về thuật lý.

Tuyển Trạch Cầu Chân

Tôi có một cái tật cố hữu gặp được một cuốn sách hay thì đọc quên ăn quên ngủ cho xong, mươi bữa có khi lại quên mất nội dung lại giở sách ra đọc lại nghiền ngẫm, cái lối đọc đó tôi chẳng biết gọi lài gì, nhưng  cái lối đọc nhanh, chậm, chậm dần, chậm nữa, chậm chậm nữa ..đối với tôi có nhiều điều thú vị.
Tuyển Trạch Cầu Chân-Cuốn sách này huynh Trường Minh post bên TGVH, tôi xin phép post lại trên Blog của mình để có thêm tư liệu nghiên cứu và hầu bằng hữu nếu ghé qua đây có cái để đọc. Theo sách thì "chọn cái lý gì chính đáng thời chép ra, cái nhầm thời bỏ đi, tôn sung tạo mệnh của Dương Công, theo các vì sao nói trong Hiệp kỷ của Quốc Triệu, xếp đặt thành thiên phụ thêm ý kiến vào nửa, ở trong thiên có sự chồng chất lên, chả là những ý cùng nhau phát minh ra, nhân đặt tên thiên là Tuyển Trạch Cầu Chân (Năm Gia Khánh thứ 14, năm Kỷ Tỵ, mùa thu tháng 8 Cách Thành Minh Viễn. Hồ Huy Ứng quang thị viết ra ở nhà Huệ Cát.)

Theo đó sách gồm 7 cuốn nội dung như sau :
Quyển 1:
_ Tựa tập Tuyển Trạch Cầu Chân
_ Tựa của Tụ Chân
_ Tuyển Trạch biện chính
_ Bàn về sự nhầm lẫn của các phép Đẩu Thủ
_ Bàn về Tuyển Trạch
_ Bài biểu của Ngô Cảnh Loan dâng cuốn "Âm Dương Thiên cơ"
_ Bài biểu của Ngô Cảnh Loan nói về "Tuyển Trạch Ngũ Hành":
_ Nêu sự cốt yếu về Tuyển Trạch
_ Bài ca về Tuyển Trạch diệu dụng
_ Bàn về sinh khắc chế hoá
_ Bài ca Tạo Mệnh thiên kim
_ Nói rõ Tinh, Thần
_ Kinh Nghi Long
_ Bàn bạc chính xác về Thần Sát

Quyển 2: Cách chọn ngày giờ dựng nhà_ chôn người chết_ nam nữ hợp hôn.
_ Bàn về Bổ Long.
_ Khoá xưa về Bổ Long
_ Bàn về Phù Sơn
_ Bàn về Lập Hướng
_ Bàn về Tướng Chủ
_ Cách cục về Tạo Mệnh
_ Bàn về lấy dùng Chính Ngũ Hành Sinh, Vượng
_ Tóm bàn về Tứ Trụ
_ Phép dùng Niên
_ Phép dùng Nguyệt
_ Phép dùng Nhật
_ Phép dùng Thời
_ Tứ Đại Cát thời
_ Lệ về Âm Dương Quý
_ Biểu tổng quát 720 khoá giờ Quý Nhân đăng Thiên Môn

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2010

BÀN VỀ BA KIẾT TINH TRONG THUẬT XEM NGÀY

Ba kiết tinh ấy là: Sát công, Trực tinh, Nhơn chuyên.
Đây là ba Đại kiết tinh trong 9 vị theo thứ tự như sau: Yểu tinh, Hoắc tinh, Hòa đao, SÁT CÔNG, TRỰC TINH, Bốc mộc, Giác kỷ, NHƠN CHUYÊN, và Lập tảo.
1. YỂU TINH: Phàm thượng quan, cưới gã, dời chỗ, mở tiệm, khởi tạo, nhập trạch, phạm nhằm ngày có sao này, trong vòng một năm, nhơn khẩu tai hung, quan tư, mất trộm, nhà cửa ruộng vườn bị thối bại.
2. HOẮC TINH: Phàm tạo tác, cưới gả, dời chỗ, thượng quan, mở tiệm, chôn cất, phạm nhằm sao này, trong vòng 1 năm, trăm sự suy bại, lục súc tử thương, sanh con chẳng ra gì, đàn bà dâm loạn, hỏa tai, đạo tặc, quan sự, bị người khinh dễ.
3. HÒA ĐAO: Phàm thượng quan, tạo tác, dời chỗ ở, mở cửa hàng, phạm nhằm sao này nội trong 1 năm có thể gặp các việc: bịnh tật, hiếu phục, hổ thương (bị cọp làm hại) chết người.
4. SÁT CỐNG: (Tức là HIỂN TINH): Phàm tạo tác, mở đầu, cưới gả, dời chỗ ở, mở cửa hàng, thượng quan, chôn cất vân vân … gặp được sao này trong vòng 3 năm, tài lộc, chức vị tăng nhiều, đất vườn nhà cửa thêm nhiều, chủ về có con quý, lại được cha hiền con hiếu, tôi tớ có nết na, gặp nhiều việc tốt.
5. TRỰC TINH: Phàm thượng quan, cưới gả, mở tiệm, dời chỗ, tu tạo, mai táng gặp được sao này thì có nhiều việc tốt lành: làm quan thì được gia quan tấn lộc, người thường thì trăm việc được xứng tâm, buôn bán làm ăn thì thêm giàu có. Nhưng nếu gặp KIM THẦN THẤT SÁT nhứt định không trừ được sự hung. Kim thần thất sát sau sẽ bàn tới ở mục này.
6. BỐC MỘC: Phàm tu tạo, cưới gả, dời chỗ, mở tiệm, chôn cất gặp phải sao này không quá 3 năm trong nhà có người bị bịnh đầu phong hoặc bịnh thần kinh nặng. Nó lại chủ về hỏa tai, kinh sợ, suy bại, tang khốc, quan tư, khẩu thiệt, anh em bất hòa, tài vật hao tán, lục súc chẳng vượng, trăm sự suy bại.
7. GIÁC KỶ: Phàm tạo tác, cưới gả, dời chỗ ở, mở tiệm, chôn cất, thượng quan, phạm nhằm sao này trong vòng 3 năm có bịnh ở bụng, gông cùm, mất trộm, gia nghiệp thối bại.