Thứ Tư, 30 tháng 12, 2009

La Hán quyền trứ danh của Thiếu Lâm Tự


- La Hán quyền Thiếu Lâm Tự là một bí kíp võ thuật rất đặc trưng của Thiếu Lâm, mô phỏng tư thế của các vị La Hán trong luyện tập và tỉ thí kungfu với các thủ pháp như cách, bức, xung, điểm, nâng, đè, câu, chộp, quăng.
Nhắc tới La Hán quyền, người ta thường liên tưởng đến hai chiêu thức chủ yếu là Thập bát La Hán quyền và 108 đường quyền La Hán.

La Hán quyền kh tỷ thí.
La Hán quyền tỷ thí.

Tương truyền, La Hán quyền do Đạt Ma sư tổ sáng tạo ra. Ngài đến Trung Nguyên từ nước Thiên Trúc vào thời nhà Lương, khi đến Thiếu Lâm Tự thuộc núi Tung Sơn thuyết pháp, thấy tăng chúng ai nấy gầy guộc xanh xao, tinh thần ủ rũ bèn sáng tạo ra bài quyền này để giúp sư tăng luyện tập nâng cao sức khỏe. Muốn giác ngộ, trước hết phải khỏe mạnh, đó là tư tưởng của Sư tổ Thiền tông.

Ban đầu La Hán quyền của Đạt Ma sư tổ chỉ có 18 thế quyền, còn gọi là Thập bát La Hán quyền. Sau này vào thời kì nhà Kim, nhà Nguyên, Bạch Ngọc Phong lên Thiếu Lâm tu tập được truyền thụ bài quyền này đã tiếp thu tinh hoa các bí kíp kungfu trong thiên hạ phát triển và sáng tạo ra 108 thế La Hán quyền.



La Hán Quyền.
La Hán quyền.

 Theo các cao tăng Thiếu Lâm Tự kể lại, trước khi Đạt Ma sư tổ viên tịch, ông có dặn lại các đồ đệ của mình, riêng La Hán quyền không sao chép thành văn, không truyền cho người ngoại đạo, đi thẳng vào lòng người, giác ngộ thành Phật.

Mục tiêu đầu tiên và cũng là duy nhất khi chế ra La Hán quyền của Sư tổ chính là giúp con người rèn luyện sức khỏe, tăng cường thể chất mới có đời sống lành mạnh về tinh thần và nhanh giác ngộ.

Luyện La Hán quyền, các võ tăng Thiếu Lâm hết sức coi trọng hoạt động hô hấp, thổ nạp, làm cho khí vận hành khắp 6 mạch, giữ tâm không loạn, ý chí kiên định nên trước đây mới có tên gọi là Thiếu Lâm tâm pháp La Hán quyền.

La Hán quyền biểu diễn
La Hán quyền biểu diễn

La Hán quyền của Đạt Ma sư tổ có thể gói gọn vào một chữ: “Vô”, người luyện tập La Hán quyền phải đạt đến độ luyện tâm công, ý tĩnh và giác ngộ chứ không phải hời hợt bên ngoài.

Đó cũng chính là tư tưởng chủ đạo của Thiền tông, còn nếu chỉ biết gọt giũa kinh sách từ chương thì muốn giác ngộ Phật pháp, có múc cạn nước Động Đình hồ mài mực cũng chưa chắc đã thành.

La Hán quyền được xếp vào một trong những chưởng pháp cơ bản của Thiếu Lâm với đặc trưng dương lực, cương lực và kình lực rất rõ cộng với các chiêu thức được sáng chế, gọt giũa công phu làm cho đường quyền trở nên linh hoạt và đẹp mắt.

Chính vì tính chất trọng dương, trọng kình lực nên mỗi chiêu thức của La Hán quyền khi xuất ra đều rất dũng mãnh làm cho đối thủ không còn cơ hội để tấn công. Trong tỉ thí võ thuật, võ tăng Thiếu Lâm đi La Hán quyền với những đường quyền nhanh như chớp mắt, mạnh như trời giáng và thường làm cho đối thủ trở tay không kịp.

Thủ pháp tấn công phòng thủ của La Hán quyền lợi hại ở chỗ người đánh La Hán quyền dùng phần thân bên sườn tấn công chính diện đối thủ, tay trước như cung, tay sau tiếp ứng vừa công vừa thủ, hoặc lên hoặc xuống giữ chắc trung tâm.




Giới võ lâm Trung Nguyên vẫn đồn rằng Nam quyền Bắc thoái, tức là quyền pháp là thế mạnh của võ thuật phương Nam, cước pháp là sở trường kungfu phương Bắc, tuy nhiên các chiêu cước pháp của La Hán quyền Thiếu Lâm tự không một đối thủ nào dám coi thường.

Ngoài ra, cước pháp La Hán quyền có đặc trưng tàng ẩn chứ không lộ rõ như các môn phái phía Bắc Trung nguyên.

Xem võ tăng Thiếu Lâm Tự đi La Hán quyền:


Bình Nguyên(Bee.net.vn)

 >>Xem thêm:

Thứ Ba, 29 tháng 12, 2009

Tranh luận gây sốc về Nguỵ vương Tào Tháo

Trong lúc chưa rõ trắng đen thật giả ra sao, nhưng việc công bố kết quả nghiên cứu quá sớm về ngôi mộ cổ ở Cao Lăng đã dấy lên nhiều phản biện và cả tin đồn cho rằng Tào Tháo là “ông tổ nghề” đào trộm mộ.
 Dư luận báo chí Trung Quốc đang “lùm xùm” quanh vụ Sở nghiên cứu văn vật khảo cổ Hà Nam công bố thông tin khai quật lăng mộ Tào Tháo.


Nhà nghiên cứu Nghê Phương Lục (bên phải) trả lời phỏng vấn trong một chương trình truyền hình.
Nhà nghiên cứu Nghê Phương Lục (bên phải) trả lời phỏng vấn trong một chương trình truyền hình.

Nghê Phương Lục, một người chuyên nghiên cứu về các vụ đào trộm lăng mộ cổ ở Trung Quốc kết luận, Tào Tháo là “kẻ đào trộm mộ chuyên nghiệp” sau khi nghiên cứu các thư tịch cả chính sử và dã sử thời Tam Quốc. Rốt cuộc dựa vào đâu để khẳng định về Tào Tháo như vậy?

Nếu đọc trong “Tam Quốc chí”, một bộ chính sử do Trần Thọ thời Nam Bắc triều biên soạn hay tác phẩm văn học “Tam Quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung, chắc chắn không thể tìm được những thông tin như vậy. Tuy nhiên, vua Tống Văn Đế Lưu Nghĩa Long – Nam triều cho rằng Trần Thọ viết quá giản đơn nên lệnh cho học giả Bùi Tùng bổ sung.

Chuyện Tào Tháo đào trộm mộ được chép trong cuốn “Ngụy thị xuân thu” của học giả Tôn Thịnh thời Đông Tấn. Theo đó, Tào Tháo đã dẫn đám tay chân phá cửa vào lăng Lương Hiếu Vương đập quan tài vơ vét vàng bạc châu báu khiến con cháu họ Lương oán thán, sĩ dân chê cười.


Cuốn “Lịch sử những kẻ đào trộm mộ” của Nghê Phương Lục
Cuốn “Lịch sử những kẻ đào trộm mộ” của Nghê Phương Lục

Trong dân gian, khi nhắc đến Tào Tháo có rất nhiều quan điểm khác nhau. Bên cạnh hình tượng một nhà chính trị, quân sự tài ba nhưng gian hùng trong “Tam Quốc diễn nghĩa” thì miệng lưỡi thế gian vẫn không ít người gọi ông là “Trộm mộ Trung lang tướng”, “Vơ tiền Hiệu úy”.


Trần Lâm, một văn nhân tài tử nổi tiếng thời Tam Quốc đã tiết lộ những chuyện chẳng lấy gì làm hay ho của Tào Tháo trong tác phẩm “Kiến An thất tử” (có thể hiểu như 7 “gương mặt tiêu biểu” thời những năm niên hiệu Kiến  An).

Bài viết này miêu tả khá kỹ hoạt động đào trộm mộ của “Tào Tháo và các cộng sự” khiến sau này giới đào trộm mộ cổ ở Trung Quốc tôn Tào Tháo là “ông tổ nghề”, bốn mùa khói hương, cúng tế.


Một số cô vật bằng chất liệu ngọc được tìm thấy khi khai quật Cao Lăng.
Một số cổ vật bằng chất liệu ngọc được tìm thấy khi khai quật Cao Lăng.

Theo ghi chép, mỗi khi đào trộm mộ Tào Tháo thường trực tiếp đến hiện trường chỉ huy binh lính và tay chân của mình, điều này khá hiếm gặp trong giới trộm mộ cổ. Lúc mới dấy binh trong tay, Tào Tháo lập hẳn một “đội phản ứng nhanh” chuyên đào trộm mộ cổ và đặt chức Phát khâu Trung lang tướng (“Phát khâu” ở đây nghĩa là trộm mộ).

Văn hóa truyền thống Trung Hoa rất coi trọng mộ phần bởi trong suy nghĩ của họ, âm phần có tốt thì con cháu mới “phát”, quan trọng hơn cả dương cơ – tức hướng nhà. Chính vì vậy việc đào trộm mồ mả luôn khiến người dân “dị ứng”.

Hạng Vũ – Tây Sở bá vương nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa cũng vì đào trộm lăng mộ vua Tần mà hủy hoại thanh danh, sự nghiệp của mình để Lưu Bang dồn tới chỗ chết.

Nghê Phương Lục cho rằng, việc Trần Lâm vạch trần hành động cướp mộ người khác của Tào Tháo là nhằm gióng hồi chuông cảnh tỉnh về sự băng hoại của đạo đức xã hội trong một nhóm người đương thời.

Sinh thời, Tào Tháo mắc chứng đau đầu kinh niên. Nhưng khi đọc xong bài văn “Kiến An thất tử” chửi bới mình, toàn thân toát mồ hôi lạnh và cơn đau đầu cũng tự nhiên biến mất. Sau này khi Viên Thiệu thất thế, Trần Lâm quy hàng Tào Tháo, Ngụy vương chỉ trách: “Ông chửi ta đã đành, sao lại chửi cả tổ phụ ta?”


Hình ảnh Nguỵvương Tào Tháo trong một bức hoạ.
Hình ảnh Nguỵ vương Tào Tháo trong một bức hoạ.

Tào Tháo không truy cứu việc cũ vì ông là người coi trọng hiền tài, nhưng Ngụy vương không khẳng định cũng chẳng phủ nhận câu chuyện mà Trần Lâm vạch ra trong “Kiến An thất tử”.

Câu chuyện này cứ thế tồn tại và được truyền từ đời này qua đời khác, khá phổ biến trong dân gian cũng như văn học. Nhà thơ Tô Đông Pha cũng đã từng dùng điển cố này ví von trong tác phẩm “Du Thánh Nữ sơn thi”.

Càng về sau, những câu chuyện về đề tài này càng trở nên phổ biến. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến nhiều người luôn coi thường Tào Tháo.

Bình Nguyên (Bee.net.vn)



6 lý do chứng tỏ lăng mộ là của Tào Tháo

Các nhà khoa học Trung Quốc có những bằng chứng rõ ràng về việc họ đã tìm được mộ chính xác của nhà quân phiệt danh tiếng thời Tam quốc, Tào Tháo.
> Trung Quốc tìm thấy mộ của Tào Tháo
> Khám phá lăng mộ Tào Tháo
Các nhà khảo cổ tìm thấy 59 bản đá
Các nhà khảo cổ tìm thấy những dòng chữ ghi tên và số lượng của các đồ vật trong mộ trên 57 bản đá, trong đó có 7 bản ghi "những vũ khí mà Ngụy vương thường sử dụng". Ảnh: People's Daily.
Ngày 27/12/2009, Cục quản lý di sản văn hóa Trung Quốc thông báo họ tìm thấy mộ của Tào Tháo tại thành phố cổ An Dương, tỉnh Hà Nam. Theo Nhân dân nhật báo, danh tính của Tào Tháo được xác định dựa trên những cơ sở dưới đây.

1. Ngôi mộ khá lớn với chiều dài gần 60 m. Ngăn đựng quan tài và cấu trúc của mộ rất giống những ngôi mộ dành cho các đế vương thời Hán và Ngụy. Điều này phù hợp với thân thế của Tào Tháo. Ngôi mộ không bị bịt kín bởi đất – phù hợp với mô tả “mộ của Tào Tháo không bị đất bịt kín và không có cây ở phía trên” trong nhiều tài liệu lịch sử.

2. Những chân dung tạc trên đá, văn bia và nhiều di vật khác trong mộ có những ký tự từ thời Hán và Ngụy.

3. Vị trí của ngôi mộ trùng khớp với vị trí mà nhiều tài liệu lịch sử ghi lại.
4. Tào Tháo căn dặn trong di chúc rằng ông không muốn được chôn cùng những trang sức quý giá và chỉ cần mặc quần áo bình thường. Những thứ mà các nhà khảo cổ tìm thấy trong mộ xác nhận điều này. Mặc dù diện tích mộ khá lớn, song nó được trang trí tương đối đơn giản: không có tranh tường, không có vũ khí, chỉ có một cột đá và những vật dụng bình thường để sử dụng hàng ngày.

5. Cột đá và văn bia được tạc dòng chữ “Vũ Hoàng Đế” – bằng chứng rõ ràng nhất về thân thế của người nằm trong mộ. Chúng ta đều biết Tào Tháo qua đời với tước “Ngụy Vương”. Sau khi ép vua Hán Hiến Đế nhường ngôi, Tào Phi – thế tử của Tào Tháo – truy tôn cha là Vũ Hoàng Đế.
6. Các nhà khảo cổ tìm thấy xương của một người đàn ông trong độ tuổi lục tuần. Theo nhiều tài liệu lịch sử, Tào Tháo mất ở tuổi 66.

Cổ tự nghìn tuổi và tượng Phật bà vi diệu


Một ngôi chùa cổ ở thành phố Vinh (Nghệ An) có tên dân gian “chùa sư nữ” đã “thi gan cùng tuế nguyệt” hơn một ngàn năm nay. Nơi đây có những câu chuyện huyền bí đã đi sâu vào lòng mỗi người dân địa phương. Lịch sử cũng đã ghi nhận sự ghé thăm của hai vị vua triều Nguyễn.
Huyền tích về cổ tự ngàn tuổi
Chùa Cần Linh nằm phía bên trái đầu đường quốc lộ 46 hướng đi từ TP Vinh - Nam Đàn. Trước đây chùa có tên Linh Vân Tự. Từ khi được Vua Tự Đức ghé thăm đổi tên thành Cần Linh. Trải qua chiến tranh, hầu hết các đền chùa ở khu vực thành phố Vinh đều bị huỷ hoại, hư hỏng. Chùa Cần Linh đã từng được trùng tu rất nhiều lần do bị xuống cấp theo thời gian và sự tàn phá của chiến tranh. Chùa còn sót lại bây giờ đón nhận mọi sinh hoạt về Phật giáo của nhân dân các vùng phụ cận đổ về đây.
Ni sư Thích Nữ Diệu Nhẫn - Trụ trì chùa Cần Linh cho biết về tính cổ xưa của ngôi chùa này như sau: Theo các tư liệu còn lại đã lược dịch có kể về ngôi chùa, Cao Biền, một danh tướng đời Đường của Trung Quốc được cử sang Việt Nam làm Tiết Độ sứ. Vốn là một nhà địa lí có tiếng, nên đi đến đâu cũng thường xuyên “ngắm nghía” thế đất, mạch nước để xây dựng đền đài, miếu mạo, đồng thời cũng để “yểm” các huyệt lộ linh thiêng trên đất Việt.


Quả chuông Linh Vân Tự tại chùa Cần Linh


Khi đến vùng đất thuộc Nghệ An bây giờ, Cao Biền nhìn thấy long mạch ẩn vào dãy núi Đại Huệ chạy dài về hướng đông, ông nhận thấy biểu hiện tụ khí địa linh nhân kiệt ở vùng đất này trong thế rồng cuộn quyện mây qua 99 ngọn núi.
Năm 866, Cao Biền đã cho xây dựng ngôi chùa ở đây. Với cách nhìn của ông, phần đầu rồng hạ xuống phun nước chính là trung tâm khuôn viên ngôi chùa. Vì thế, cái tên“chùa mây thiêng” tức Linh Vân Tự được tạm gọi như thế cho đến khi Vua Tự Đức đổi tên chùa.

Theo cách hiểu của người dân, tên Cần Linh được vua ban có nhiều ý nghĩa cao cả, trong đó điều cốt lõi mà vua đã từng nghĩ đó là, người dân khi đến chùa này muốn cầu cái gì sẽ được toại nguyện.
Bà Lê Mai, một người dân địa phương sinh sống gần chùa cho biết, chúng tôi sinh ra thì đã thấy có ngôi chùa, chùa ở đây không chỉ đẹp mà vốn cổ của chùa còn được lưu giữ cho đến tận bây giờ. Nếu đúng như sử sách để lại, chùa cổ đây với huyền tích hơn một ngàn năm là niềm tự hào của nhiều người dân địa phương này.
Trụ trì chùa cho biết: Chùa đã từng “nghênh tiếp” hai vị vua thời nhà Nguyễn đến thăm. Đó là vua Tự Đức và vua Bảo Đại. Với vua Tự Đức, khi đến cầu phúc dân an cúng tế tại chùa, nhà vua đã hiến cho chùa hai bức vọng bằng chữ Hán với dòng chữ Triện đề “Vương triều Đức tự hiến cúng”.
Trong thời gian lưu lại ở chùa, chính Vua Tự Đức cũng đã nhận thấy được sự đóng góp và tầm vóc ngôi chùa. Bên cạnh đó là nhiều huyền tích về sự linh thiêng của ngôi chùa cổ đã được người dân ghi nhận, nên ngay thời điểm đó, nhà vua đã tặng thêm cho chùa một bức đại tự “Cần Linh” với mong muốn của nhà vua là đưa ngôi chùa có ý nghĩa và gần gũi hơn với người dân địa phương trong nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh.
Hiện trong chùa còn lưu giữ một quả chuông cổ.




Theo tư liệu tại chùa và dòng chữ nho để lại trên chuông ghi lại địa danh ngôi chùa trên quả chuông có tên Linh Vân Tự để ghi dấu ngôi chùa này. Theo đó, quả chuông được đúc vào năm Giáp Thìn (Tức cách đây khoảng 300 năm). Ông Đặng Khắc Thắng – Phó Giám đốc Sở Thông tin & Truyền thông Nghệ An cho biết: “Chùa Cần Linh được xếp hạng di tích văn hóa Quốc gia năm 1992, đây là một công trình kiến trúc cổ thời Lê ít ỏi còn được lưu giữ cho đến tận bây giờ.”
Pho tượng Phật bà vi diệu
Ngay trước cổng tam quan của ngôi chùa có một bức tượng Phật bà Quan âm nghìn tay nghìn mắt rất vi diệu. Xung quanh pho tượng này có nhiều câu chuyện ly kỳ, càng làm cho ngôi chùa cổ này thêm hút khách thập phương.
Trước khi làm pho tượng này, khi chưa xuất gia, Ni Sư Thích Nữ Diệu Nhẫn nằm mơ thấy có người đến trao cho sư thầy một bức ảnh “thiên thủ thiên nhãn” - nghìn tay nghìn mắt. Thấy bức ảnh đẹp nên bất cứ đi đâu, làm gì sư thầy đều mang theo. Sau khi đi học ở Huế về, thầy tiếp quản Cần Linh Tự khi ni sư Niệm, nguyên trụ trì chùa đã từ trần. Từ đó, thầy đã xúc tiến thực hiện ý định đúc pho tượng Phật Bà Quan Âm lớn như mong ước.
Năm 2000, Ni sư đã đích thân tìm đến Nam Định để đặt làm một pho tượng gỗ Phật Bà Quan Âm nghìn tay nghìn mắt, với chi phí lúc này khoảng 20 triệu đồng. Đến lúc bắt tay thực hiện thì người thợ cả lăn ra ốm, việc làm tượng bị đình trệ từ đó.
Đến sau đó 2 năm, chính người thợ trên tha thiết đề nghị nhà chùa tiếp tục làm tượng. Người thợ này đã giới thiệu cho nhà chùa một thợ làm tượng khác ở Cát Đằng tiếp tục thực hiện công việc trên. Giá để hoàn thành pho tượng này mà nhà chùa phải trả là gần 50 triệu. Sau khi đồng ý ký hợp đồng thực hiện, sư thầy trụ trì chùa lại nhận được thông báo của bác thợ là không thể thực hiện được vì gia đình đang gặp những điều không may mắn.
Sau hai lần lỗi hẹn, sư thầy tưởng rằng không có cơ hội dựng pho tượng nữa. Run rủi thế nào, Ni sư Thích Nữ Diệu Nhẫn tình cờ gặp được một số thợ đúc đồng rất khéo tay. Đó là lần được Văn phòng Giáo hội Phật giáo Việt Nam mời tham gia ý kiến xây dựng công trình lớn của Phật giáo ở Sóc Sơn (Hà Nội) và Yên Tử (Quảng Ninh). Mong ước từ lâu không thể trì hoãn, lập tức, thầy đã mời họ vào Nghệ An để thăm chùa và tính chuyện đúc pho tượng Phật bà nghìn tay nghìn mắt.
Sau khi bàn tính và nghe chuyện đã 2 lần không thành trước đây, toán thợ có phần lo lắng. Đến khi sư thầy nói rõ niềm mong muốn, toán thợ đúc đồng trên đã gật đầu bắt tay thực hiện đúc pho tượng bằng đồng để nhà chùa thỏa niềm mong mỏi.
Dù là đã được toán thợ trên nhận lời nhưng sư thầy còn nhiều phân vân và lo lắng. Thầy âm thầm thực hiện mà không dám “hé môi”. Sợ việc không thành nên ngày đêm thầy trăn trở mong rằng sẽ không lỗi hẹn lần thứ 3. Mọi việc chuẩn bị đúc tượng đã được ký hợp đồng vào năm 2003, mãi đến gần hai năm sau việc đúc tượng mới chính thức bắt đầu.
Theo tính toán của nhà chùa, bức tượng Phật Bà Quan Âm nghìn tay nghìn mắt đặt trên toà sen ngay chính điện trung tâm ngôi chùa. Pho tượng cao 3 mét, chiều rộng là 2,5 mét được đúc bằng 8 tấn đồng đỏ nguyên chất nhập khẩu từ nước ngoài về. Ni sư Thích Nữ Diệu Nhẫn cho hay, trước lúc đổ khuôn, thầy đã yêu cầu các thợ đúc đồng trộn lẫn 2 kg bạch kim cộng thêm 3 cây vàng ta và 5 chỉ vàng tây vào chảo nấu đồng để lấy linh khí, với mong muốn khi mọi người đến chùa tham quan pho tượng thì tự nguyện từ bỏ điều ác để quay về với cái thiện, sống và làm việc theo pháp luật giúp ích cho đời.

Ni sư Thích Nữ Diệu Nhẫn bên Tượng Phật bà nghìn tay nghìn mắt
Pho tượng Phật bà quan âm nghìn tay nghìn mắt sau bao sóng gió tưởng không thành đã được thực hiện thành công. Như trút được nỗi lòng, sư thầy công bố với bà con Phật tử ngày rước về. Một chương trình chuẩn bị đón rước khá quy củ được nhà chùa chuẩn bị khá tươm tất.
Đến ngày 10/5/2006 pho tượng Phật được rước từ Nam Định về Nghệ An và hòa cùng đoàn diễu hành trong dịp TP Vinh mừng ngày Đại Lễ Phật Đản 2550 năm Phật lịch.
Tấm lòng của sư thầy
Cũng từ khi pho tượng tọa lạc tại chùa, sư thầy tích cực đẩy mạnh các hoạt động từ thiện xã hội, cứu đói, cứu khổ cho nhiều hoàn cảnh thương tâm, chẳng may gặp những chuyện không mong muốn trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Ni sư Thích Nữ Diệu Nhẫn
Thầy cho biết, tại chùa cứ hễ vào hai ngày mồng 1 và 15 hàng tháng, nhà chùa đều chuẩn bị sẵn gạo cứu đói cho nhiều số phận lang thang cơ nhỡ. Nhà chùa cũng bỏ ra một ít “lộc Phật” từ việc công đức của bà con Phật tử đóng góp chi đều hàng tháng cho các trường hợp khó khăn trong thành phố và một vài huyện lân cận.
Những ngày giáp tết năm 2008, trong chuyến đi hỗ trợ bà con nghèo và gia đình chính sách, nhà chùa đã trao trên 500 suất quà từ số tiền trên 100 triệu đồng quyên góp được cùng chia sẻ đón tết với trên 500 số phận, hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách, người có công trên địa bàn TP Vinh và các huyện lân cận như Hưng Nguyên, Nam Đàn, Quỳnh Lưu, Yên Thành…
Sư thầy cũng cho biết, tết Nguyên đán năm nay nhà chùa đã chuẩn bị khoảng 200 triệu đồng cùng hàng tấn gạo, chia làm 1000 suất quà trao cho những hoàn cảnh khó khăn, gia đình cách mạng, các thương bệnh binh trên địa bàn tỉnh nhằm góp một phần cho họ đón tết 2009 đầm ấm và hạnh phúc hơn.
Tôi muốn mọi người mỗi khi đến chùa hãy gạt bỏ tâm ác, làm thiện, phụng đạo yêu nước. Tôi luôn mong trong chính mỗi con người phải thành tâm, sống chan hòa và mong muốn làm điều tốt để hướng đến “Chân, Thiện, Mỹ”, thực hiện phương châm: Đạo pháp -Dân tộc, vì lợi ích chung của mọi người và của đất nước.
Tấm lòng này, chúng tôi xin được chuyển đến bạn đọc, những người đã, đang và sẽ đến với Cần Linh tự để viếng thăm ngôi chùa cổ, chiêm ngưỡng pho tượng độc đáo này và soi bóng chính mình trong sự thanh tao, thoát tục của đức Phật từ bi” - Ni sư Thích Nữ Diệu Nhẫn tâm sự.

Quốc Cường (Theo phattuvietnam.net)

Bí mật 400 năm về sự tu hành của thiền sư Chuyết Chuyết


Đã ngót 400 năm trôi qua kể từ ngày vị thiền sư người Trung Quốc viên tịch trong một ngôi chùa cổ ở Việt Nam, cuộc đời cũng như những bí mật tu hành của ngài vẫn còn vô vàn ẩn số…
Đứng trên núi Tiêu Sơn (nơi có ngôi chùa Tiêu và nhục thân thiền sư Như Trí) phóng tầm mắt qua những làng mạc, thấy núi Tiên (còn gọi là núi Lạn Kha, núi Phật Tích) như một tảng đá của thiên đàng đánh rơi.

Xung quanh ngọi núi thuộc huyện Tiên Du (Bắc Ninh) này, có rất nhiều huyền thoại liên quan đến tiên giới, trong đó có chuyện Từ Thức gặp tiên, rồi chuyện chàng tiều phu Vương Chất vào rừng đốn củi gặp hai ông tiên chơi cờ trên núi.




Linh thú uy nghiêm ở chùa Phật Tích. 

Tượng Phật A-di-đà ngàn năm tuổi. 

Chùa Phật Tích trên núi Tiên xây dựng vào thời Lý, năm Thái Bình thứ 4 (1057) với rất nhiều tòa ngang, dãy dọc.


Tôi chợt rùng mình bởi vẻ đẹp huyền ảo đầy chất thiền của bức tượng Phật A-di-đà khổng lồ được tạc bằng đá màu xanh ngọc nguyên khối. Theo sử liệu, năm 1066, vua Lý Thánh Tông đã cho xây dựng một ngôi tháp cao đến nỗi đứng ở kinh thành Thăng Long vẫn nhìn thấy. Đến đời Trần, tháp đổ, lộ ra pho tượng tuyệt đẹp này. Khi ấy, toàn bộ pho tượng được dát vàng óng ánh.

Du khách đứng lại dưới những tán cây rợp bóng, ngắm 10 pho tượng thú gồm sư tử, voi, tê giác, trâu, ngựa mỗi loại hai con. Những pho tượng đều được tạc bằng đá xanh nguyên khối.



Tượng thiền sư Chuyết Chuyết trong tháp Báo Nghiêm. 

Đứng trên đỉnh non Tiên, nhìn ra tứ phía, chỉ biết mượn mấy câu thơ của tác gia Nguyễn Trãi khi ông về thăm và vịnh cảnh chùa: “Bóng xế thuyền con buộc/ Vội lên lễ Phật đài/ Mây về giường sãi lạnh/ Hoa rụng suối hương trôi/ Chiều tối vượn kêu rộn/ Núi quang, trúc bóng dài/ Ở trong dường có ý/ Muốn nói bỗng quên rồi”.

Lạc giữa rừng tháp đá và gạch nung gồm 32 ngôi, phần lớn được dựng từ thế kỷ 17, nơi cất giữ xá lị của các nhà sư từng trụ trì chùa, tôi chợt như nghe đâu đây tiếng mõ kêu lốc cốc đều đặn vang ra từ các am tháp.

Chỉ có những am tháp, những linh vật bằng đá khổng lồ, pho tượng Phật nặng nhiều tấn cùng một số cổ vật khác đào được từ lòng đất trong những lần khai quật là những gì ít ỏi còn lại của một thời vàng son. Toàn bộ ngôi chùa đã bị ngọn lửa thiêu rụi vào năm 1947.

Đại đức Thích Đức Thiện là người trụ trì ngôi chùa này sau nửa thế kỷ vắng tiếng kinh kệ. Đại đức về trụ trì từ năm 2002 sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Phật học tại Ấn Độ.



Tiến sĩ Phật học Thích Đức Thiện - trụ trì chùa Phật Tích. 

Sinh ra tại Bắc Ninh, cái nôi của văn hóa Phật giáo, lại dành cả đời nghiên cứu Phật giáo, nên mọi thông tin về ngôi chùa cổ này Đại đức đều nắm rất rõ.

Lạc giữa “rừng mộ tháp” nghe chuyện thiền sư Chuyết Chuyết, mà thấy vẻ đẹp giản dị, song vô cùng bí ẩn và huyền diệu của Phật pháp.

Thiền sư Chuyết Chuyết sinh năm 1590, tại Tiệm Sơn (huyện Hải Trừng, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc), nay thuộc thành phố Dương Châu. Sư mang họ Lý, tên Thiên Tộ.

Truyền rằng, Thiên Tộ nằm trong bụng mẹ quá 9 tháng 10 ngày rất lâu mới ra đời.

Tuổi thơ của Lý Thiên Tộ cực kỳ đau khổ. Bố mẹ mất sớm, Thiên Tộ phải ở với chú. Dù còn nhỏ đã mất cả cha và mẹ cuộc sống nghèo khổ, song Thiên Tộ thông minh xuất chúng, học thông cả ngũ kinh tứ thư.



"Rừng mộ tháp" - nơi đặt xá lị của các hòa thượng trụ trì chùa Phật Tích. 

Tuy nhiên, người chú không nuôi nổi, nên năm Thiên Tộ 15 tuổi, ông gửi vào chùa Tiệm Sơn. Khi được chú dắt đến chùa, trưởng lão Tiệm Sơn hỏi: “Ngươi định tạo sự nghiệp gì mà tìm về cửa Phật?”, Thiên Tộ thưa: “Giúp vua cứu dân”.

Sau khi luận về công danh, trưởng lão Tiệm Sơn thấy cậu bé còn ham danh lợi, song rất thông minh, nên đồng ý cho Thiên Tộ xuất gia, rồi giữ lại chùa để truyền dạy cho tỉnh ngộ. Thiên Tộ có pháp danh Viên Văn.

Biết kiến thức Phật giáo của mình không đủ để dạy Viên Văn, hòa thượng chùa Tiệm Sơn đã gửi sư cho hòa thượng Tăng Đà Đà ở Nam Sơn.

Sau khi luận về Phật pháp, hòa thượng Đà Đà nói với tăng ni trong chùa: “Ngày khác ta sẽ nhường chỗ cho kẻ này, y sẽ bước khỏi đầu sào trăm trượng”. Biết rằng sư Viên Văn là một người xuất chúng, nên truyền hết yếu chỉ tâm tông cho sư.



Tượng táng nhục thân thiền sư Chuyết Chuyết. 

Chỉ một thời gian ngắn theo hòa thượng Đà Đà, sư Viên Văn đã đắc pháp, đi giáo hóa mười phương. Danh tiếng của ngài vang danh khắp thiên hạ, khiến học giả đương thời đều kính trọng.

Năm 18 tuổi, sư Viên Văn sang Campuchia hoằng pháp ròng rã 16 năm, được quốc vương xứ này quan tâm đặc biệt.

Năm 1623, ngài sang vùng Quảng Nam thuyết pháp, nhận thiền thư Minh Hành làm đệ tử.

Đến năm 1633, ngài cùng đệ tử đến kinh thành Thăng Long. Sau khi yết kiến vua Lê và chúa Trịnh, ngài được mời về trụ trì chùa Khán Sơn ở Thăng Long để giảng dạy Phật pháp. Từ đó, ngài được gọi là Chuyết Công hoặc Chuyết Chuyết.

Sau đó khoảng một năm, hòa thượng Chuyết Chuyết đi về chùa Phật Tích, trụ trì tại ngôi chùa cổ này. Tuy nhiên, sau đó, chúa Trịnh Tráng cho trùng tu chùa Bút Tháp, nên lại mời sư về trụ trì, giảng đạo ở ngôi chùa này cho đến khi viên tịch.

Đã gần 400 năm trôi qua kể từ ngày vị thiền sư người Trung Quốc này viên tịch trong một ngôi chùa cổ ở Việt Nam, cuộc đời cũng như những bí mật tu hành của ngài vẫn còn vô vàn ẩn số… 


Pham Ngoc Duong(Theo vtc.vn)


Thứ Hai, 28 tháng 12, 2009

“Chứng minh thư” của Tào Tháo đã bị đánh cắp


- Thông tin các nhà khảo cổ Trung Quốc phát hiện được Cao lăng – nơi an táng Ngụy Vũ vương Tào Tháo đã trở thành đề tài nóng nhất trên các phương tiện thông tin đại chúng suốt mấy hôm nay.
Tuy nhiên nhiều học giả, dư luận Trung Quốc cho rằng việc đưa tin như vậy là quá sớm bởi xung quanh vấn đề này còn nhiều điều cần được làm rõ.

Hài cốt người đàn ông trong mộ có phải Tào Tháo?


Hình ảnh đồ hoạ khắc dựng chân dung Tào Tháo trong các truyện kiếm hiệp Trung Quốc.
Hình ảnh đồ hoạ khắc dựng chân dung Tào Tháo trong các truyện kiếm hiệp Trung Quốc.

Theo chuyên gia phân tích cổ vật Mã Vị, chưa thể khẳng định vội vàng hài cốt người đàn ông trong mộ là của Tào Tháo. Muốn kiểm chứng chính xác cần tìm lại hậu duệ của Ngụy Vũ vương để thử nghiệm AND mới có thể khẳng định được.

Việc cần kíp bây giờ là tìm lại hậu duệ của Tào thừa tướng. Sinh thời, Tào Tháo có tất cả 25 người con trai, nhưng hầu hết người ta chỉ nhớ tới một vài người như Tào Phi, Tào Thực mà thôi.




Hình ảnh Tào Tháo qua các bức hoạ cổ.
Hình ảnh Tào Tháo qua các bức hoạ.
Dư luận quan tâm nhiều hơn đến hài cốt của hai người phụ nữ được an táng cùng trong lăng mộ. Nếu đây đúng là Cao lăng an táng Tào Tháo, vậy hai phụ nữ kia là ai, cuộc sống của họ trước đây thế nào? Một trong hai người có phải Biện hoàng hậu, thân sinh của Tào Phi, Tào Thực hay không?

Cổ vật quan trọng nhất của Tào Tháo đã bị đánh cắp?


Theo giáo sư Viên Tế Hỉ, Đại học Nhân dân Trung Quốc, khi khai quật ngôi mộ cổ này đã bị bọn trộm cắp đồ cổ tàn phá nhiều lần, những cổ vật chứng minh thân phận chủ nhân ngôi mộ còn lại rất ít. Chỉ dựa vào một số tấm bia và binh khí có khắc tên Ngụy Vũ vương mà vội khẳng định là mộ Tào Tháo là chưa ổn.


Sơ đồ khai quật Cao lăng nơi được xem là mộ chôn Tào Tháo.
Sơ đồ khai quật Cao lăng nơi được xem là mộ chôn Tào Tháo.
Mặt khác, chuyên gia Mã Vị tiết lộ thêm, bia đá và gối đá khắc tên Ngụy Vũ vương thực ra không phải các nhà khảo cổ trực tiếp lấy từ lăng mộ ra mà lấy lại từ tay những tên trộm đào mộ tìm vàng bạc, cổ vật.

Theo nhà nghiên cứu Nghê Phương Lục, tác giả của hai cuốn sách nổi tiếng “Các vụ đào trộm mộ”, “Lịch sử các vụ đào trộm mộ cổ Trung Quốc”, lăng mộ các đế vương Trung Quốc thường có tấm bia gọi là Chí minh ghi rõ thân phận của chủ nhân lăng mộ, nó giống như tấm chứng minh thư. Tuy nhiên lần khảo cổ này không phát hiện được chứng cứ quan trọng đó, có thể tấm bia quan trọng nhất này đã bị đánh cắp.

Phục dựng khuôn mặt Tào Tháo?

Nếu kết quả xét nghiệm AND khẳng định đây đúng là hài cốt của Tào Ngụy vương thì sẽ giúp ích rất nhiều cho việc khôi phục bộ mặt nhân vật gian hùng nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc và cũng đã đi vào đời sống văn hóa của người Á Đông.


Đường vào Cao  lăng.
Đường vào Cao lăng.
Sử sách Trung Quốc tuy ghi chép khá nhiều về Tào Tháo, tuy nhiên mỗi sách lại tả một kiểu, mỗi thời kì lại vẽ hình Tào thừa tướng một khác. Mặt mũi nhà quân sự, chính trị này thế nào vẫn là đề tài nóng hổi mà người dân Trung Quốc đang hết sức quan tâm.

Sau Tào Tháo sẽ đến mộ Lưu Bị?


Thông tin phát hiện được Cao lăng nơi an táng Tào Tháo lại một lần nữa dấy lên trong dư luận câu hỏi về nơi an nghỉ ngàn thu của kình địch số một của Tào Tháo – Lưu Bị, bởi “Anh hùng trong thiên hạ ngày nay chỉ có sứ quân và Tháo này thôi!”, sinh thời Tháo nói với Lưu Bị (Theo Tam Quốc Diễn Nghĩa).



 Một góc hầm mộ
Lăng mộ của Lưu Bị nằm ở đâu vẫn là đề tài thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới khảo cổ và nghiên cứu Trung Quốc. Theo như ghi chép trong “Tam Quốc chí”, Lưu Bị được táng ở Huệ Lăng thuộc Thành Đô, thủ phủ Tứ Xuyên ngày nay.

Nhiều quan điểm cho rằng Lưu Bị được an táng trong Huệ lăng thuộc khu vực đền Vũ Hầu – Thành Đô ngày nay, nhưng cũng có học giả không tán thành quan điểm này. Họ cho rằng chưa chắc Lưu Bị đã được an táng ở Thành Đô như trong sử sách, bởi lăng mộ đế vương thường hay bị đào trộm nên sẽ có nhiều mộ giả.




Sau vụ khai quật lăng mộ ở Hà Nam vừa rồi và cho rằng đó là nơi an táng Tào Tháo, rất nhiều nhà khảo cổ đề nghị sớm khai quật lăng mộ Lưu Bị tại đền Vũ Hầu. Tuy nhiên việc này phải được Cục di sản quốc gia Trung Quốc cho phép. Có thể trong một ngày gần đây, Lưu Bị lại “hội ngộ” Tào Tháo trong một cuộc triển lãm cổ vật nào đó chăng?

Hiện tượng Trăng Xanh vào đêm giao thừa 2010


Trăng Xanh - một hiện tượng kỳ thú, sẽ lại xuất hiện đúng vào đêm giao thừa bước sang năm mới 2010 sau lần gần đây nhất 10 năm trước.

Theo định nghĩa của người phương Tây, Trăng Xanh là đêm trăng tròn thứ hai trong một tháng dương lịch, một hiện tượng có tần suất trung bình khoảng 2 năm rưỡi.

Trong tháng 12/2009 sẽ có hai lần trăng tròn vào ngày 2 và ngày 31. Việc Trăng Xanh xuất hiện đúng vào đêm giao thừa dương lịch là một sự kiện hiếm thấy.

Lần xuất hiện gần đây nhất của Trăng Xanh vào dịp giao thừa là năm 1990 và phi hành gia David Reneke làm việc cho Tạp chí Khoa học Châu Đại dương dự đoán sự trùng lặp này sẽ chỉ lặp lại vào năm 2028.

Hiện tượng trăng tròn lần thứ hai trong tháng dương lịch không có gì khác biệt so với bất cứ kỳ trăng tròn nào khác, tuy nhiên, mặt trăng có thể thay đổi màu sắc trong những điều kiện nào đó.

Chẳng hạn như cháy rừng hay các vụ phun trào núi lửa thường làm cho bầu khí quyển đậm đặc tro bụi, khiến cho Mặt Trăng trông có vẻ hơi xanh, thậm chí đỏ tía. Vụ phun trào của núi lửa Krakatoa ở Indonesia năm 1883 đã khiến cho bầu khí quyển của Trái Đất tràn ngập tro bụi đến nỗi Mặt Trăng có màu hơi xanh đến tận hai năm sau đó.

Theo Phi hành gia David Reneke, năm nay, Mặt Trăng sẽ không chuyển sang màu xanh và có thể sẽ chuyển sang màu đỏ khi quan sát từ các thành phố do tác động của khói pháo hoa. Do đó, cách thưởng thức Trăng Xanh tốt nhất là người xem cần tránh xa ánh đèn nơi thành phố.

Không ai biết chính xác khái niệm “Trăng Xanh” có nguồn gốc từ đâu và xuất hiện từ bao giờ. Tuy nhiên, ở phương Tây, cụm từ Trăng Xanh đã trở thành một cách nói ẩn dụ cho một sự kiện hiếm gặp.

Thuật ngữ này xuất hiện trong một cuốn sách tiếng Anh năm 1518 chỉ trích giới tăng lữ thời đó với nghĩa là ''nếu thấy Mặt Trăng có màu xanh thì phải tin rằng đó là sự thật''.

Một cách diễn giải khác của cụm từ cho thấy nó có nguồn gốc từ một từ cổ trong tiếng Anh có nghĩa là ''màu sắc'' hoặc ''kẻ phản bội'' vì giới tăng lữ gọi hiện tượng Mặt Trăng đến sớm khi tính tuần chay cho lễ Phục sinh là ''Trăng phản bội'' hoặc ''Mặt Trăng màu sắc''./.

Ngọc Quang/Sydney (Vietnam+)

Ngũ Hồ trong lòng Bạch Mã


(TTVN Online) - Vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên-Huế), vốn đã nổi tiếng từ lâu vì vẻ đẹp và những huyền thoại, một trong những kỳ quan ấy là Ngũ Hồ.


Ngược theo con đường nhựa lên phía đỉnh Bạch Mã, từ đây rẽ vào rừng theo những bậc đá hạ thấp dần độ cao sẽ tới một con suối nước trong vắt và lạnh, từ đó dẫn đến Ngũ Hồ.




Hồ thứ nhất hình thành do một vùng suối được mở rộng và uốn cong như hình quả mướp. Hồ dài tới vài chục mét, đá xếp theo dạng bậc, xen kẽ các khối tảng cuội đủ màu sắc trong khá đẹp. Nước ở đây chảy chậm và trong suốt nên có thể nhìn xuyên tận đáy. Hai bồn thu nước màu xanh thẫm dưới tán rừng xanh làm tăng thêm cảm giác lạnh của một vùng nước có nhiệt độ thấp nhất núi rừng Bạch Mã.





Men triền suối, xuống từng bậc theo chiếc thang tạm được làm từ những cây gỗ rừng tết lại thành các bậc, cao khoảng 12m chúng ta xuống tới hồ thứ hai. Hồ chỉ rộng khoảng vài mét nhưng dài và xoắn theo hướng dòng chảy. Những khối đá granit bị mài mòn từ hàng triệu năm tạo nên các khe, rãnh khá lớn. Bề mặt đá nhẵn, có chỗ đen bóng, có chỗ loang lổ như bức tranh khảm không hài hòa.




Hồ thứ ba có hình khá tròn trịa như trăng đêm rằm. Nước sâu dần vào chân thác. Ngọn nước đổ từ độ cao 6m, mở rộng ở khoảng giữa rồi thu hẹp lại, tạo thành hình chiếc đó khổng lồ, trắng bạc và sáng lòa dưới ánh sáng Mặt Trời buổi trưa chiếu xuyên qua kẽ lá cây rừng. Những hòn tảng, cuội to nằm kềnh càng và sõng soài viền quanh mép hồ phía dưới. Mạn nước gợn sóng vỗ nhẹ vào bờ đá làm rung rinh bóng mấy cây dương xỉ thân gỗ mọc trên vách dựng đứng phía mặt trời. Những tảng đá to, đường kính có dễ đến 40-70 cm, nhẵn bóng với màu sắc và hình thù kỳ dị càng tô điểm cho sự huyền ảo của vùng hồ.



Ngay phía dưới chân hồ nước là những phản đá nằm ngang, gợn lên những nếp nhăn theo cấu trúc phân tầng của nó, trông tựa mặt biển với những con sóng đang bắt đầu dâng trào. Một khoảng hẹp chỉ độ 2m nhưng dòng nước chảy sâu và khá xiết tạo nên những âm thanh ồn ào mà không quá đỗi xa lạ.

Từ đây đi xuống hồ thứ tư không quá nguy hiểm nhưng vẫn phải bám men vào các bậc đá ven lòng suối. Không cẩn thận, có thể bị trượt chân hoặc bị một cành cây nằm ngang nào đó đập vào đầu. Trên các tảng đá thường xuất hiện một lớp rêu mỏng màu xanh, xen kẽ là các vũng nước, đường kính khoảng 0,5 đến 2m và sâu tới hàng mét. Đi tiếp khoảng 20m là tới bờ phía trên của hồ thứ tư. Tuy vậy để thực sự xuống được hồ, chúng ta phải bám ngược vách đá, sau đó theo sợi dây thép tụt xuống chân hồ. Hồ thứ tư hình ô van nhưng đường viền không mềm mại. Dòng nước bị những tảng đá lớn xẻ rách thành hai đổ xuống hồ hình thành hai thác nước. Thác 1 không quá dốc do dòng nước ăn sâu vào đá, tạo nên hình máng đổ nghiêng xuống hồ. Vì vậy, dòng nước cũng không bắn tung mà chỉ vờn cao cách mặt hồ khoảng chừng gang tay. Thác 2 nằm bên hữu ngạn và lớn hơn thác 1, đổ xuống bề mặt khối đá lớn sừng sững làm nước bắn tung và xòe ra như chiếc váy trắng của vũ nữ ba lê. Mặt nước hồ luôn ở trạng thái dập dềnh, những tảng đá gần chân thác luôn ướt đẫm màu xanh đen của một lớp rêu mỏng. Có khá nhiều ngọn nứa uốn cong, rủ xuống quanh bờ làm chúng ta dễ liên tưởng hồ có dáng dấp của một sân vận động mi ni có mái xe mát rượi.



Qua hồ thứ tư, dòng nước tiếp tục uốn mình chảy thêm vài chục mét thì đột ngột đổ mình xuống và tạo nên hồ thứ năm. Đây là thực sự là một kiệt tác của thiên nhiên, là sự chạm trổ, khắc họa đan xen giữa nước, đá, cây và không gian trời đất. Bờ hồ là những tảng đá granit màu xám với kích cỡ khá đều, cao tới 2m. Hồ không rộng, hình như chiếc kèn sắcxôphôn lùn nằm cong giữa thành đá. Dòng thác đổ mạnh nhưng theo từng bậc đá, chảy tràn từ bậc trên xuống bậc dưới rồi đổ ào xuống phần trên của "chiếc kèn". Phần này rộng khoảng 2m, dài 3m, sâu tới trên 2m và xoáy sâu vào mép đá nên trông rất cổ kính và kỳ dị. Dòng nước mặt đập vào đá rồi bật ngược trở lại tạo nên những gợn sóng lấp lánh dưới ánh mặt trời. Phần dưới cạn hơn nhưng khá rộng và dài tới 5m. Nước trong suốt, dòng chảy chậm nên có thể quan sát rõ từng viên cuội dưới đáy hồ. Bên hồ lại xuất hiện thêm một thân cây gỗ nằm chúc đầu xuống nước, thân ẩm ướt và mọc đầy rêu xanh.




Dòng nước chảy thêm một đoạn ngắn rồi đổ tiếp vào hồ hình thoi. Thác đổ xuống hồ chỉ cao khoảng chiều cao một người lớn nên dòng chảy chảy không dữ dội. Phần trong hồ nước sâu, màu xanh đen do thiếu ánh sáng mặt trời. Phía bên này, hình thành một đụn cát sỏi khá lớn và mở rộng dần xuống đáy sâu phía trong, tạo nên bề mặt đáy đơn nghiêng vào chân thác. Đây cũng là phần kết thúc của Ngũ Hồ.

Tuy nơi đây vẫn còn đậm nét hoang sơ, chưa có sự đầu tư nhưng với những người ưa thích cảnh quan thiên tạo thì Ngũ Hồ là một địa chỉ không thể không đến.
Theo :  TTVN Online

Phát hiện mộ táng có niên đại 2.500-2.000 năm

(PL)- Ngày 28-12, tại Thư viện tỉnh, Viện Khảo cổ học và Bảo tàng Khánh Hòa phối hợp tổ chức báo cáo kết quả khai quật di chỉ Vĩnh Yên (xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh).

Từ tháng 7 đến 11-2009, Viện Khảo cổ học đã phối hợp với Bảo tàng Khánh Hòa khai quật di chỉ Vĩnh Yên với diện tích 2.200 m2. Đợt khai quật đã làm phát lộ nhiều di tích mộ táng và các cụm phế tích sinh hoạt. Đoàn khai quật đã thu được hơn 2.000 hiện vật đá thuộc các nhóm công cụ lao động, đồ trang sức bằng đồng, sắt, gốm, xương và vỏ nhuyễn thể.

Một số hiện vật thu được từ việc khai quật di chỉ khảo cổ Vĩnh Yên. Ảnh: T.NGUYỄN
Đoàn khảo cổ kết luận Vĩnh Yên là một di chỉ cư trú-mộ táng có niên đại cách đây 2.500-2.000 năm. TS Trần Quý Thịnh, Trưởng đoàn khai quật di chỉ Vĩnh Yên, cho biết di chỉ Vĩnh Yên đã góp phần làm sáng tỏ sự phát triển tiền sơ sử ở Khánh Hòa và khu vực Nam Trung Bộ. Người cổ Vĩnh Yên không chỉ sống đóng kín ở vùng bán đảo cực đông của Tổ quốc mà đã có mối giao lưu văn hóa, kỹ thuật với hạ lưu sông Mekong, sông Đồng Nai, Phú Yên, Quảng Ngãi, Bình Định.

T.NGUYỄN(PhapLuat)

Nghi án phong thủy: Trụ đồng Mã Viện


Đồng Trụ chí kim đài dĩ lục?
(Cột đồng nay đã mọc rêu xanh chưa?)
Đằng giang tự cổ huyết do hồng!
(Sông Bạch Đằng từ xưa máu đã nhuộm đỏ)

Từ hồi còn nhỏ, sống ở làng tôi đã nghe người già kể nhiều về cột đồng Mã Viện. Các cụ nói, dưới chân cột là cả một kho vàng bạc châu báu do quan quân nhà Hán khi sang trấn nhậm xứ Giao Châu cất giấu để con cháu họ sau này thừa hưởng. Trên nhiều tài liệu, diễn đàn, nghi vấnthực hư về cột đồng ở đất Giao Chỉ xưa vẫn còn là câu hỏi lớn cho người đời.
Theo Đào Duy Anh khởi đầu đề mục 'Les Colonnes de Bronze de Ma Vien' trong tập san Bulletin des Amis du Vieux Hue số tháng 10 và 11 năm 1943 với nhận xét như sau: "Cột đồng Mã Viện luôn là một bí ẩn lịch sử mà mãi đến nay vẫn chưa hề được sáng tỏ". Ông nêu ra nghi vấn phải chăng cột đồng Mã Viện thực sự hiện hữu? Và nếu ta không tìm thấy dấu vết nào liên quan về chúng vậy biết tìm chúng nơi đâu?
Theo An-Nam Chí Lược của Lê Tắc (đầu thế kỷ thứ 14), bộ sử lược lâu đời nhất của nước ta có đề cập đến di tích này, thì thuở trước ở vùng hang động Cổ Sâm thuộc Khâm Châu có những cột đồng do Mã Viện dựng nên. Sang đến thế kỷ thứ 19, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục cũng nhắc lại lời hăm dọa trên của Mã Viện. Tuy nhiên sách sử Tàu thì khác, cả Hậu Hán Thư (chương nói về tiểu sử của Mã Viện) lẫn Hậu Hán Ký đều không hề nhắc đến việc Mã Viện cho dựng những cây trụ đồng ở nước Nam. Dựa theo đó, nhà Hán học lừng danh Henri Maspéro trong tập XVIII, số 3 năm 1918 của tập san Bulletin de l'EFEO (Trường Viễn Đông Bác Cổ), trong phần biên khảo về cuộc viễn chinh của Mã Viện đã không hề nhắc đến những cây cột đồng Mã Viện mà cũng chẳng có lời phủ nhận về sự hiện hữu của chúng. Về sau, Nguyễn Văn Tố, làm phụ tá cho Viễn Đông Bác Cổ, trong Tri Tân số 14 phát hành ngày 12 tháng 9 năm 1941 đã thu thập được một số tài liệu từ cả Việt lẫn Hán về cột đồng Mã Viện và đưa ra nhiều thắc mắc nhưng bấy giờ ông cũng không giúp làm sáng tỏ gì hơn về nghi vấn nêu trên.


Sách Nhất Thống Chí nhà Ðại Thanh có chép:
Tương truyền cột đồng ở về động Cổ Sâm châu Khâm, Mã viện có thề rằng: “Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”, nghĩa là “Cột đồng ấy gãy thì Giao Chỉ bị diệt”, nên người Việt đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp lên mãi thành gò đống cao.
Lại ghi rõ: “Vì thấy huyện Tây Vu có đến ba vạn ba nghìn hộ, Mã Viện xin chia ra làm hai huyện Phong Khê và Vọng Hải. Vua Hán y cho Mã Viện lại lập thành quách, đặt tỉnh ấp (xóm làng), đắp thành Kiển Giang ở Phong Khê. Thành này hình tròn như cái Tổ kén. Nên gọi là thành Kiển giang.„…. Như vậy, trụ đồng Mã Viện là một câu chuyện có thật, đã được ghi vào sử liệu của cả hai nước Trung Hoa và Việt Nam. Ðây không phải là một huyền thoại hay hư cấu.

Vào đời vua Trần Thánh Tôn, Ngài đã cho người đi tìm lại dấu tích cột đồng nhưng không thấy. “Tháng 4 mùa hạ (1272,) sai viên ngoại lang là Lê Kính Phu sang hội với người nhà Nguyên biện luận việc cương giới. Nhà Nguyên sai Ngột Lương sang hỏi giới mốc đồng trụ ngày trước, nhà vua phái Lê Kính Phu đi hội đồng khám xét. Kính Phu nói với Nhà Nguyên rằng: “Chỗ cột đồng do Mã Viện dựng lên lâu ngày bị chìm lấp, nay không thể biết ở chỗ nào”.(KDVSTGCM, Quyển VII tr. 219)
Theo sử gia Phạm Văn Sơn chuyện cột đồng Mã Viện thiết tưởng không đáng tin lắm chỉ nên coi là một giai thoại không hơn không kém... Nếu coi cột đồng Mã Viện là một mỹ đàm thì chép vào sử để làm một câu chuyện kể chơi cho thú vị thiết tưởng không hại gì. (Việt sử Tân Biên, tr.199).
Còn tác giả Trương Thái Du trong bài “Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam (Talawas - lịch sử). Thì cho rằng: “Cột đồng Mã Viện dựng năm 43 ở quận Giao Chỉ và Tây Ðồ Di cũng chính là đài quan trắc thiên văn... Trong công tác thiên văn thời Mã Viện, để xác định những vùng đất mới, cần phải tiến hành quan trắc các chỉ số năm này qua năm khác.„
Theo nhiều nhà nghiên cứu khác, cột đồng chỉ là cột mốc biên giới mà thôi. Lối giải thích này cũng kém thuyết phục. Nếu là cột mốc biên giới tại sao không ghi những thông tin cần có của vùng biên giới mà lại ghi câu: “Trụ đồng chiết , Giao Chỉ diệt” trên cột đồng? Thứ nữa là cột mốc biên giới tại sao không đặt tại những con đường đi giữa ranh giới của hai nước, mà lại đặt tại một hang động trong vùng hẻo lánh?
Không phải ngẫu nhiên mà Hai bà Trưng, sau khi phát động cuộc nổi dậy, chỉ trong vòng một tháng mà đã chiếm được 65 thành trì trên toàn cõi Lĩnh Nam, làm rung rinh triều đình nhà Đông Hán. Một nữ lưu xứ Giao Châu nhỏ bé, thuộc phiên trấn Nam Man (như quan niệm của nhà Hán), nổi lên xưng hùng xưng bá, chống lại Thiên Triều như một thách thức sống còn với Đại Hán. Nên giới cầm quyền đầu sỏ Trung Hoa không thể làm ngơ mà không sinh tử cho được.
Một câu hỏi đặt ra là: tại sao trong suốt gần 2.000 năm kế tiếp dân tộc ta vẫn không xuất hiện được một vị nữ anh hùng thứ hai có tầm cỡ Bà Trưng cho dù lịch sử Việt Nam là lịch sử của chiến tranh chống ngoại xâm từ đó cho đến nay? Phải chăng người phụ nữ Việt Nam yếu hèn? Hay là có sự cản trở bởi một huyền lực nào đó xuất phát từ thời gian sau khi Hai Bà Trưng thất trận, đất nước rơi vào sự đô hộ của người Hán, mà lịch sử chưa làm sáng tỏ?
Dựng cột đồng. Đây có phải là một trận đồ phong thủy mà Mã Viện bày ra nhằm hãm hại đất Giao Chỉ. Hai Bà Trưng đối với Việt Nam là những anh hùng dân tộc cái thế. Nhưng theo quan niệm của triều đình Hán hai bà Trưng chỉ là yêu tặc.

Theo An Nam Chí Lược (trang 40) do tác giả Lê Tắc là người Việt Nam, chạy qua sống ở Trung Hoa và viết sử theo quan niệm của Trung Hoa như sau: “Năm Kiến Võ thứ 16 của Hán Quang Vũ Ðế (sau công nguyên 40), người đàn bà Giao Chỉ là Trưng Trắc làm phản, quận Cửu Chân và quận Nhật Nam đều hưởng ứng theo. đánh các quận ấp, cướp được 60 thành, rồi tự lập làm vua... Ðến năm Kiến Võ thứ 19 Mã Viện chém yêu tặc là Trưng Nhị (Nhị là em gái của Trưng Trắc) và đánh luôn dư đảng, bọn Ðô Lương, đến huyện Cư Phong, bọn này chịu đầu hàng”...

Vào thời đại nhà Hán, thuật phong thủy, địa lý rất thịnh hành, tất cả những công trình xây dựng mồ mả, lâu đài đều tuân thủ nghiêm về địa lý phong thủy.
Ảnh hưởng bởi quan niệm này, Mã Viện sau khi trừ diệt được hai Bà Trưng, đã bày một trận đồ phong thủy để diệt tận gốc yêu quái, trừ hậu hoạn, nhằm ngăn chặn mầm nữ tặc tái xuất trên vùng đất mới bình định.

Vậy Mã Viện cho dựng một trụ đồng ở đâu? Tại Cổ Sâm hay Cổ Lâu? Phải chăng động Cổ Sâm chính là huyệt hàm rồng kết phát làm vua của đất Giao Chỉ nên Mã Viện muốn phá hủy để đất nước không còn phát nữ vương nữa?
Nếu tự nhiên Mã Viện cho đào sâu xuống để chôn hoàn toàn một trụ đồng mà không có lý do chính đáng thì mọi người sẽ nghi ngờ, và gặp nhiều khó khăn trong thực hiện, vả lại cũng kém hiệu quả về mặt phong thủy. Vì thế mà Mã Viện đã thâm độc, cho dựng đứng trụ đồng không cần phải chôn sâu và ghi khắc câu chữ “Trụ Ðồng chiết, Giao Chỉ diệt” bề ngoài như là hăm dọa, nhưng thực chất là khích động lòng tự ái dân tộc của dân Giao Chỉ, rồi ngầm xui người dân, muốn tránh hoạ, mỗi ngày ném gạch đá vào trụ đồng để chôn lấp. Sự việc này có hai tác dụng thứ nhất là giữ cho trụ đồng không bị nghiêng ngả, không bị đào bới. Thứ hai trụ đồng to nặng được định vị trên một tiết diện nhỏ thì dễ dàng lún sâu dần vào lòng đất theo thời gian. Mỗi khi có mưa, đất nở và mềm ra, cột càng tiến sâu vào huyệt đạo thì tác dụng phong thủy lại càng tăng cao. Nghĩ ra được qủi kế thâm sâu như vậy phi người mưu lược như Mã Viện, khó ai có thể sánh kịp.
Về ý nghĩa của câu: “Ðồng trụ chiết... Giao Chỉ diệt” ở đây có phải là một câu thần phù? Hay còn ẩn dấu điều gì để đánh lạc sự chú ý tò mò? Nghiã thực của chữ “Chiết„ ở đây chưa chắc đã là “gãy” mà lại là “tách” làm hai, như dùng vật cứng tách đôi một tảng đá lớn chẳng hạn. Do đó câu trên nên giải thích là “trụ đồng tách huyệt (đế vương) ra làm hai, vua Giao Chỉ bị giết”. Chứ không thể dịch là trụ đồng bị gãy, dân Giao Chỉ bị giết là chưa hợp lý. Như vậy câu trên có hai chữ bị ẩn dấu là chữ huyệt và chữ vương.
Đặc biệt, Kiển Thành hình cái kén, nếu chúng ta cô lập hai sự kiện này, thì sẽ khó mà thấy âm mưu tàn độc của Mã Viện. Vả lại nếu kết hợp cả hai sự kiện này bằng một hình vẽ tượng hình thì có thể sẽ gợi ta liên tưởng tới một điều gì chăng?


Bùa lưỡng nghi - loại tượng hình
(Nguồn: Thiên Ðức )


Hình dáng Kiển Thành, tổ con tằm, Âm, Thủy, tượng hình của người đàn bà, kết hợp với hình dáng trụ đồng Mã Viện, Dương, Hỏa, tượng hình của người đàn ông! Theo Kinh Dịch lý thuyết Vũ trụ: Thái Cực - Lưỡng Nghi - Tứ Tượng - Bát Quái! Theo thuật phong thủy, nói về nhà cửa thường sử dụng bùa bát quái để trấn yểm tà khí. Trong phạm vi rộng lớn của một đất nước, bùa bát quái không có hiệu lực, vì thế Mã Viện đã sử dụng loại bùa có tầm ảnh hưởng mạnh hơn đó là loại bùa Lưỡng Nghi tức là bùa Âm Dương có hiệu lực cao hơn bùa bát quái hai bậc theo Kinh Dịch. Loại bùa này được thực hiện bởi hai công trình: Kiển Thành, Âm thủy và trụ Ðồng Mã Viện, Dương Hỏa.
Nếu nói theo kiểu dung tục thì Mã Viện đã dùng hình thức “Ðóng cọc người đàn bà Giao Chỉ” bằng một ám toán thô lậu như thế nhằm triệt phá con đường kết phát vương quyền đối với nữ giới trong tương lai.
Nguyên tắc của đạo bùa ngải, phong thủy là càng bí mật, càng bền lâu thì tác dụng càng to lớn. Nếu người đặt bùa mà bị phát giác thì sinh tác động ngược, quật trở lại ngay chính kẻ chủ mưu. Vì thế các tài liệu ghi chép của người Hán về lĩnh vực này là rất khó giải mã. Nó là các bí tích, bí truyền. Vì quyền lợi dân tộc sống còn của họ. Khơi khơi người ngoài khó mà tiếp cận mà hiểu rõ ngọn ngành.
Ngay nhân vật Mã Viện, với người Việt là kẻ thù truyền kiếp. Nhưng dưới nhãn quan của người Trung Hoa thì đó là một anh hùng xuất chúng. Chiến tích lớn nhất của Mã Viện là việc chinh phục Giao Chỉ. Nhờ dập tắt cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, nên Viện đã được Hán Quang Vũ phong tước Hầu, hiệu "Phục Ba tướng quân". Họ Mã được giới viết sử Trung Hoa suy tôn như một chiến binh vĩ đại vào bậc nhất trong lịch sử. Với câu nói nói rất nổi tiếng được lưu truyền rộng rãi là: "da ngựa bọc thây" (馬革裹屍 - mã cách khỏa thi), ý nói mong muốn được chết trên chiến trường mặc dù phải dùng da ngựa để bọc thây chứ không mong muốn chết già nơi xó nhà. Cả câu: "vẽ hổ không thành, lại thành chó" (畫虎不成, 反類犬 - họa hổ bất thành, phản loại khuyển). Nhiều nhà nghiên cứu đều cho Mã Viện là nhà quân sự, nhà chính trị văn võ toàn tài. Vì thế các đền thờ và tôn tượng Mã Phục Ba được hiện diện trên nhiều vùng lãnh thổ Trung Quốc cho tới ngày nay.


Tượng Mã Viện ở Hải Nam

Nhiều ghi chép đều nói đến việc Mã Viện càn quét nhiều trống đồng nước ta để đúc thành ngựa mẫu mang về Trung nguyên dâng vua Hán Quang Vũ. Người thứ hai phá nhiều pháp khí (chuông chùa) Đại Việt là Vương Thông nhà Minh, đem về đúc súng.
Những người tự ti, vẫn tin rằng thời xưa dân ta “ăn lông ở lỗ”, nhờ Trung Quốc mới được khai hóa. Xin đọc kỹ đoạn văn sau đây để biết rằng thuở đầu Công nguyên nước ta đã có luật, Mã Viện phân tích rồi tâu lên vua Quang Vũ để bác hơn 10 điều khoản luật nước ta không thích hợp với luật nhà Hán: 條 奏 越 律 與 漢 律 駁 者 十 餘 事 , 與 越 人 申 明 舊 制 以 約 束 之 (Ðiều tấu Việt luật dữ Hán luật bác giả thập dư sự, dữ Việt nhân thân minh cựu chế dĩ ước thúc chi: Phân tích và tâu lên luật Hán và luật Việt, bác hơn 10 điều; trình bày rõ chế độ cũ [của nhà Hán] để ước thúc.) [Theo Hồ Bạch Thảo - © 2008 talawas]
Thật vậy, thời Lĩnh Nam, nước ta có ba lĩnh vực là rất vượt trội. Đó là kỹ nghệ luyện kim (đúc trống đồng). Lịch số (Qui Lịch) và chữ Khoa Đẩu (chữ dạng ký âm rất rễ phổ cập). Nhưng sau khi tiêu diệt được triều đại Bà Trưng thì Mã Viện đã cho đốt, đập phá và tịch thu tất cả những sách, bia đá, trống đồng… và cấm hoàn toàn việc dùng chữ Khoa Đẩu để nhằm Hán hoá tận gốc người Việt.
Tới thế kỷ 15 thì một cuộc đốt sách và cạo bia đá (chữ Hán) đã được thực hiện với một qui mô rất lớn bởi tên Trương Phụ nhà Minh trên khắp cả nước ta. Một sự thật đau lòng khác là rất nhiều cuốn phổ qúi ở các đền, miếu, đình và chùa chiền thờ các vị anh hùng có công với nước đều bị cướp hay đánh tráo bằng các cuốn Phổ giả nhằm làm cho hậu thế hiểu sai lệch về công nghiệp của tổ tiên.

Vào thời nhà Trần khi cụ Trạng Nguyên Mạc đĩnh Chi đi sứ vừa sang tới đất Tàu thì viên quan trú phòng sở tại ra một câu xướng rất ngạo mạn:


Đồng Trụ chí kim đài dĩ lục?

(Cột đồng nay đã mọc rêu xanh chưa?)
Đằng giang tự cổ huyết do hồng!

(Sông Bạch Đằng từ xưa máu đã nhuộm đỏ), cụ Mạc đĩnh Chi đối lại ngay.


Viên tướng biên trấn Tàu ra câu xướng với ý nghĩa ca ngợi chiến tích xưa của Mã Viện và đã bị cụ Trạng Mạc đối lại bằng cách cố ý nhắc lại những chiến thắng lẫy lừng của quân Việt trên sông Bạch Đằng thời vua Ngô Quyền và thời Nhà Trần.
Trở lại với chuyện cột đồng Mã Viện! Trong thời đại không gian điện tử hiện nay, chắc chắn có người sẽ đánh giá câu chuyện kể trên thuộc vào loại hoang đường nhảm nhí.
Nhưng nghi vấn về phong thuỷ liên quan đến hiện tượng trấn yểm của Mã Viện, của Cao Biền trên nhiều vùng long mạch địa linh của Việt Nam từ thời bán khai vẫn luôn là những nghi án lịch sử còn đang để mở, đang chờ đợi câu trả lời thoả đáng của hậu thế.

--------------------------------------
>>Xem thêm :


Hằng nằm cứ vào ngày 6/2 âm lịch lể kỷ niệm hai bà Trưng được cử hành tại nhiều nơi có người Việt sinh sống. Ðây là một sinh hoạt có tính lịch sử truyền thống.

Vào năm 40 sau công nguyên (scn), Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị quê ở Mê Linh đã dựng cờ khởi nghĩa, trước là trả thù cho chồng sau là đánh đuổi quân xâm lược, Hai Bà đã lấy được 65 thành trì và sau đó là xưng vương họ Trưng.

Năm 42 scn Mã Viện theo đường biển xua quân đánh trở lại. Trước thế giặc mạnh, quân hai bà chống cự không nổi, rút lui về Cẩm Khê và tan hàng từ đó.

Sau khi xâm chiếm đất Giao Chỉ Mã Viện cho thực hiện hai công trình là: Dựng trụ đồng Mã Viện tại động Cổ Sâm, châu Khâm và xây thành Kiên Giang hình tổ kén ở Phong Khê.

Trang lịch sử này đã gây nhiều tranh cãi về nhiều vấn đề như là:

- Nguyên do khởi nghĩa của Hai Bà vì thù chồng hay vì nợ nước?

- Hai Bà lập nên chế độ mẫu hệ đầu tiên ở Việt Nam chăng?


- Ngày lễ kỷ niệm của Hai Bà cũng có sự khác biệt? Ngày 6/2 hay 6/3 Âm lịch?

- Nguyên do cái chết của Hai Bà là nhảy sông tự tử hay bị chém đem đầu về Trung Quốc?

Cho dù có đặt nghi vấn như thế nào chăng nữa chúng ta cũng phải thừa nhận một điều là Bà Trưng là vị nữ vua đầu tiên tại Việt Nam, một vị vua thành tựu do công sức và tài trí trực tiếp đánh quân xâm lược. Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa do lòng yêu nước chân chính của mình, xuất thân từ giai cấp quí tộc, chứ không phải từ quan niệm đấu tranh giai cấp như nhà sử học xã hội chủ nghĩa lý giải.

Hai bà Trưng đã tạo dựng nên truyền thống vẻ vang nữ anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam.

Nguồn: Thiên Ðức 8/2005

Một câu hỏi đặt ra là: tại sao trong suốt gần 2.000 năm kế tiếp dân tộc ta vẫn không xuất hiện được một vị nữ anh hùng thứ hai có tầm cỡ Bà Trưng cho dù lịch sử Việt Nam là lịch sử của chiến tranh chống ngoại xâm từ đó cho đến nay? Phải chăng người phụ nữ Việt Nam yếu hèn? Hay là có sự cản trở bởi một huyền lực nào đó xuất phát từ thời gian sau khi Hai Bà Trưng thua trận, đất nước rơi vào sự đô hộ của người Hán, mà lịch sử chưa làm sáng tỏ chăng?

Thật vậy nghi vấn đó phát xuất từ hai hành vi cụ thể đầy bí ẩn của Mã Viện sau khi xâm chiếm đất nước ta chưa được lý giải rõ ràng.

Theo Khâm Ðịnh Việt Sử Thương Giám Cương Mục (KDVSTGCM), trang 24-25 ghi:
“Trưng vương cùng em gái là Nhị cự chiến với quân Hán, quân vỡ, thế cô, đều bị thất trận chết. Mã Viện đuổi đánh tàn quân của hai bà là bọn Ðô Dương đến huyện Cư Phong thì hàng phục được họ. Mã Viện lập cột đồng để ghi địa giới tận cùng của Nhà Hán…”.
Sách Thủy Kinh Chú của Lịch Ðạo Nguyên chép rằng: Mã Văn Uyên (tức Mã Viện) dựng cái mốc đồng để làm giới hạn cuối cùng của đất phía nam Trung Quốc...

Sách Nhất Thống Chí nhà Ðại Thanh có chép:
Tương truyền cột đồng ở về động Cổ Sâm châu Khâm, Mã viện có thề rằng: “Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”, nghĩa là “Cột đồng ấy gãy thì Giao Chỉ bị diệt”, nên người Việt đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp lên mãi thành gò đống cao. Ðó vì sợ cột đồng ấy bị đổ gãy.

Mã Viện nhà Hán đắp thành Kiển Giang.
Vì thấy huyện Tây Vu có đến ba vạn ba nghìn hộ, Mã Viện xin chia ra làm hai huyện Phong Khê và Vọng Hải. Vua Hán y cho Mã Viện lại lập hành quách, đặt tỉnh ấp (xóm làng), đắp thành Kiển Giang ở Phong Khê. Thành này hình tròn như cái Tổ kén. Nên gọi là thành Kiển giang. Ba năm sau Mã Viện về nước. (viethoc.org)
A- Trụ Ðồng Mã Viện

Trải qua một thời gian dài bị đô hộ dưới thời Hán thuộc, trụ đồng Mã Viện đã hoàn toàn mất hết dấu tích nhưng vẫn còn để lại nhiều nghi vấn lịch sử như sau:

I - Sự thật của trụ đồng

Trụ đồng Mã Viện là một câu chuyện có thật, đã được ghi vào sử liệu của cả hai nước Trung Hoa và Việt Nam. Ðây không phải là một huyền thoại hay là hư cấu.

Vào đời vua Trần Thánh Tôn, Ngài đã cho người đi tìm lại dấu tích cột đồng nhưng không thấy.
“Tháng 4 mùa hạ (1272,) sai viên ngoại lang là Lê Kính Phu sang hội với người nhà Nguyên biện luận việc cương giới. Nhà Nguyên sai Ngột Lương sang hỏi giới mốc đồng trụ ngày trước, nhà vua phái Lê Kính Phu đi hội đồng khám xét. Kính Phu nói với Nhà Nguyên rằng: “Chỗ cột đồng do Mã Viện dựng lên lâu ngày bị chìm lấp, nay không thể biết ở chỗ nào được”. Việc đó sau cũng thôi... ( KDVSTGCM, Quyển VII tr. 219)

“Tháng 8 mùa thu (1345) Sai sứ sang nhà Nguyên. Nhà Nguyên sai Vương Sĩ Hành sang hỏi địa giới cột đồng ngày trước. Nhà vua sai Phạm Sư Mạnh sang Nguyên biện bạch sự việc này” (KDVSTGCM, Quyển IX Tr.279).
II - Vị trí của trụ đồng

Ða số sử liệu đã thống nhất vị trí của trụ đồng như sau:

- Sách Nhất Thống Chí nhà Ðại Thanh chép: Cột đồng ở về động Cổ Sâm, châu Khâm.

- Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư Ngoại Ký của Lê Văn Hưu Quyển III Tr. 22 ghi: Mã Viện bèn dựng cột đồng làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán. Cột đồng tương truyền ở trên động cổ Lâu, châu Khâm.

Tóm lại theo sử liệu trên có thể kết luận là trụ đồng nằm ở vùng Châu Khâm tại động Cổ Sâm hay Cổ Lâu thuộc vùng biên giới cực bắc Giao Chỉ cũng là cực nam nhà Hán.

Một vấn đề cần được sáng tỏ nữa là: châu Khâm là huyện biên giới giữa Giao Chỉ và Nam Hán hiện nay nằm ở đâu?

Theo tài liệu nghiên cứu mới nhất của bác sỹ Trần Ðại Sỹ, Giám đốc Trung Quốc sự vụ, viện Pháp Á “Thử tìm lại biên giới cổ của Việt Nam bằng cổ sử, bằng triết học, bằng di tích và hệ thống DNA”(1) (vietnamsante.com), thì:
Sau khi dẫn chứng lịch sử thời hai bà Trưng, di tích, cổ vật, cùng kết quả thử nghiệm DNA đã kết luận rằng: Biên giới cổ của nước Việt Nam với các triều đại Hồng Bàng, Âu Lạc, Lĩnh Nam phía Bắc quả tới hồ Ðộng đình, phía Tây giáp Tứ Xuyên.
Sự phát hiện này có thể xác quyết một điều là vị trí trụ đồng nằm ở biên giới phía Bắc Việt Nam qua thời gian đô hộ đã bị Trung Quốc lấn chiếm và vùng đất động Cổ Sâm (Cổ Lâu) hiện nằm sâu trong lãnh địa Trung Quốc hiện nay.

III - Ý nghĩa câu “Trụ đồng chiết, Giao Chỉ diệt”

Trong hầu hết cổ sử Trung Quốc và sử Việt ghi chép lại, giải thích câu này chỉ là một lời thề. Ðiểm này có nhiều nghịch lý.

1. Ðây không thể là một lời thề. Thật vậy, Mã Viện là người đi chinh phục và vui mừng thắng trận, nên không có động cơ nào để tạo ra một lời thề ghi trên trụ đồng. Vì vậy sách sử gọi đây là lời thề là không đúng sự thật.

2. Ý nghĩa câu chữ “Trụ đồng chiết, Giao Chỉ diệt” ngầm ý hăm dọa cũng như gây hận thù với dân tộc Giao Chỉ rất là phi chính trị. Theo sử sách cho biết Mã Viện là một danh tướng văn võ song toàn giỏi quân sự lẫn chính trị, có thể nào ngây ngô đưa ra một lời thề phi chính trị như trên hay không? Tất nhiên là không, vì thế Mã Viện cố tình ghi khắc câu này tất phải có mưu đồ sâu độc nào đó đối với đất nước Giao Chỉ vậy.

3. Ða số sách sử Trung Hoa cũng như Việt Nam đều giải thích câu: “Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” là trụ đồng gãy thì dân Giao chỉ bị giết. Chữ Chiết mà dịch là gãy đúng với ngôn ngữ, thế nhưng trong trường hợp này có điều không ổn. Vì rằng một cột trụ đồng kim loại, đặc ruột dựng giữa thiên nhiên thì làm sao có thể gãy được? nếu so với một cây cau, một cây dừa thân mộc, cao, tán cây rộng lung lay trước gió bão còn có thể đứng vững. Thì đây là một nghịch lý.

Do vậy sự dịch thuật câu chữ này hoàn toàn sai lầm một cách cố tình nhằm che dấu một bí mật lịch sử mà người viết sẽ phân tích ở phần sau.

IV- Công dụng của trụ đồng

Hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi và cũng chưa có lời đáp thích hợp.

1) Theo sử gia Phạm Văn Sơn chuyện cột đồng Mã Viện thiết tưởng không đáng tin lắm chỉ nên coi là một giai thoại không hơn không kém... Nếu coi cột đồng Mã Viện là một mỹ đàm thì chép vào sử để làm một câu chuyện kể chơi cho có thú vị thiết tưởng không hại gì. (Việt sử Tân Biên, tr.199). Ðây chỉ là lối nói huề vốn khi không lý giải được những nghịch lý của câu chuyện trụ đồng, do vậy không đáng tin cậy. Viết lịch sử của một dân tộc cần sự nghiêm túc chứ không phải là chuyện mỹ đàm, kể chơi cho vui.

2) Theo tác giả Trương Thái Du trong bài “Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam (Talawas - lịch sử).
Cột đồng Mã Viện dựng năm 43 ở quận Giao Chỉ và Tây Ðồ Di cũng chính là đài quan trắc thiên văn... Trong công tác thiên văn thời Mã Viện, để xác định những vùng đất mới, cần phải tiến hành quan trắc các chỉ số năm này qua năm khác. Cột thiên văn chuẩn phải vừa tránh được thời tiết xâm hại, vừa bền vững nên chất liệu đồng đã được chọn. Muốn đo đầy đủ thì phải cử người ở lại làm việc, ít nhất là hằng năm tập hợp số liệu đem về kinh đô. Chuyện dân gian Việt Nam kể rằng Mã Viện từng dựng cột đồng ở Bắc Việt lại càng khẳng định đây là cột thiên văn chứ không phải mốc giới. Chẳng ai đem mốc giới để giữa nơi đô hội, để mỗi người đi qua ném một hòn đá vào đấy mong cột đừng đổ. Câu “Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” của Mã Viện ngầm bảo phải coi sóc “đài thiên văn” bỏ túi kia cẩn thận. Cơ sự là thế! Con toán thiên văn nhỏ của tôi ở tiểu mục 1 là minh họa suốt bài viết này.
Giả thiết này khó thuyết phục bởi những nghịch lý sau: Một cột đồng đặc ruột thuần túy trồng giữa trời mưa nắng không thể gọi là một đài (?) thiên văn được. Theo người viết hiểu ý của tác giả là trụ đồng Mã Viện được sử dụng như là một cái cột chuẩn để đo lường sự di chuyển của bóng mặt trời, mặt trăng... Nếu chỉ với công dụng như vậy thì chẳng cần phải dùng cột đồng làm gì cho năng nhọc, thực hiện khó khăn (từ việc gom đồng, đúc cột, điêu khắc, di chuyển, dựng cột...), rất tốn kém tiền bạc, công sức và thời gian. Ngoài ra còn viện lý do khỏi bị thời tiết xâm hại lại không chuẩn.

Vì rằng cột đồng to và cao đủ để đo bóng mặt trời thì rất nặng hàng tấn tạo sức ép trên một tiết diện nhỏ thì với thời tiết mưa lụt khí hậu ẩm thấp, đất ướt, mềm nở ra rất dễ bị lún, hay đổ ngã nguy hiểm. Với độ lún hằng năm của trụ đồng, thì độ đo đạc lại càng thiếu chính xác, sẽ làm giảm mất giá trị công dụng nói ở trên. Với trụ gỗ tốt vừa nhẹ, bền, dễ kiếm, dễ bảo quản, dễ thay thế, lại đạt yêu cầu trên có lẽ hợp lý hơn cột đồng.

Với uy danh của một tướng lãnh thống trị đương thời chắc chắn có rất nhiều cách để bảo quản trụ đồng cần gì phải ngầm bảo dân bị trị phải coi sóc “đài thiên văn” bỏ túi kia cẩn thận bằng câu “Ðồng trụ chiết, Giao chỉ diệt” vừa vô chính trị đối với một vị tướng văn võ toàn tài, vừa mất tư cách đạo đức của một kẻ đi thống trị. Với toán công tác thường trực ghi số liệu báo cáo hằng năm không đủ sức bảo quản trụ khí tượng hay sao, mà cần phải ngầm bảo dân bị trị coi sóc?

3) Theo cổ sử, cột đồng chỉ là cột mốc biên giới mà thôi. Lối giải thích này cũng không thỏa đáng. Nếu là cột mốc biên giới tại sao không ghi những thông tin cần có của vùng biên giới mà lại ghi câu: “Trụ đồng chiết , Giao Chỉ diệt” trên cột đồng?

Thứ nữa là cột mốc biên giới tại sao không đặt tại những con đường đi giữa ranh giới của hai nước, mà lại đặt tại một hang động trong vùng hẻo lánh?

B - KIỂN THÀNH

Là công trình cụ thể thứ hai của Mã Viện đã hoàn thành trước khi về nước. Theo sách sử giải thích thành Kiển Giang có hình tổ kén của con tằm, như vậy nó có hình tròn và dài túm hai đầu, chứ không đơn giản là hình tròn ghi trong sử liệu, đã đem lại nhiều ngộ nhận cho người đọc sử.

Hình dáng của Kiển Thành cũng đem là nhiều nghi vấn. Thật vậy đây là loại thành quách quân sự rất hiếm thấy trong sử sách, là loại hình dài và gầy hẹp có rất nhiều nhược điểm như sau:

- Dễ bị tàn phá bởi thời tiết gió bão, thật vậy một trường thành dài và ốm sẽ hứng chịu nhiều sức tàn phá của gió bão hơn là một bức thành ngắn, tròn hay vuông và rộng.

- Mục đích xây thành cho dân ở vì dân số đông mà lại xây thành hình ốm và đài là không kinh tế và khó có thể thỏa mãn đầy đủ nhu cầu phát triển cư dân về lâu dài.

- Về mặt quân sự một trường thành dài rất khó trấn thủ vì tốn kém nhiều nhân lực canh gác, và khó tiếp ứng từ đầu này đến đầu khác.

Vì thế câu hỏi đặt ra là tại sao không xây thành hình vuông, đa giác lồi hay hình tròn bình thường như những thành quách khác mà lại xây thành hình cái kén? Ẩn ý của kiến trúc này là gì vẫn chưa được giải đáp trong sử sách.

Tóm lại, những nghịch lý trên của lịch sử đã trải qua gần 2.000 năm vẫn chưa được lý giải minh bạch dưới nhãn quang của các nhà sử học hay nhà khảo cổ. Thế nhưng, nếu nhìn sự việc trên đây bằng nhãn quang của một nhà phong thủy thì tất cả mọi nghi vấn trên đều được giải đáp thỏa đáng.

Thật vậy đây là một trận đồ phong thủy mà Mã Viện bày ra nhằm hãm hại đất nước Giao Chỉ. Hai Bà Trưng đối với Việt Nam là những anh hùng dân tộc, thế nhưng theo quan niệm của triều đình Hán hai bà Trưng chỉ là yêu tặc.

Theo An Nam Chí Lược (trang 40) do tác giả Lê Tắc là người Việt Nam, chạy qua sống ở Trung Hoa và viết sử theo quan niệm của Trung Hoa như sau:
Năm Kiến Võ thứ 16 của Hán Quang Vũ Ðế (sau công nguyên 40), người đàn bà Giao Chỉ là Trưng Trắc làm phản, quận Cửu Chân và quận Nhật Nam đều hưởng ứng theo. đành các quận ấp, cướp được 60 thành, rồi tự lập làm vua...

Ðến năm Kiến Võ thứ 19 Mã Viện chém yêu tặc là Trưng Nhị (Nhị là em gái của Trưng Trắc) và đánh luôn dư đảng, bọn Ðô Lương, đến huyện Cư Phong, bọn này chịu đầu hàng... (viethoc.org)
Vào thời đại nhà Hán, thuật phong thủy, địa lý rất thịnh hành, tất cả những công trình xây dựng mồ mả, lâu đài đều tuân hành nghiêm túc quy luật địa lý phong thủy.
Ảnh hưởng bởi quan niệm này, Mã Viện sau khi trừ diệt được hai Bà Trưng (?) đã bày một trận đồ phong thủy để diệt tận gốc yêu quái, trừ hậu hoạn, nhằm hãm hại đất nước ta không còn vua nữ giới nữa bằng những hành động như sau:

1- Mã Viện cho dựng một trụ đồng tại động Cổ Sâm hay Cổ Lâu, nghi vấn đặt ra là tại sao không đặt nơi đồng bằng trống trải dễ thấy hay tại những con đường đi lại giữa hai nước như là cột mốc bình thường mà lại đặt tại một hang động? Chỉ có thể trả lời là động Cổ Sâm chính là huyệt hàm rồng kết phát làm vua của đất Giao Chỉ nên Mã Viện muốn phá hủy để đất nước không còn vua nữa, dễ bề cai trị.

Nếu tự nhiên Mã Viện cho đào sâu xuống để chôn hoàn toàn một trụ đồng mà không có lý do chính đáng thì mọi người sẽ nghi ngờ, và gặp nhiều khó khăn trong thực hiện, vả lại cũng kém hiệu quả về mặt phong thủy. Vì thế mà Mã Viện đã thâm độc, cho dựng đứng trụ đồng không cần phải chôn sâu và ghi khắc câu chữ “Trụ Ðồng chiết, Giao Chỉ diệt” bề ngoài như là hăm dọa, nhưng thực chất là khiêu khích lòng tự ái dân tộc của dân Giao Chỉ, sau đó ngầm hỗ trợ cho người dân mỗi ngày ném gạch đá vào trụ đồng để chôn lấp. Sự việc này có hai tác dụng thứ nhất là giữ cho trụ đồng không bị nghiêng ngả với thời gian, thứ hai trụ đồng nặng hàng tấn tạo một sức ép mạnh trên một tiết diện nhỏ thì dễ dàng từ từ lún sâu vào lòng đất mỗi khi thời tiết mưa ẩm, đất nở và mềm ra. Có như vậy mới che dấu được quỷ kế thâm độc của mình và tác dụng phong thủy lại càng tăng cao.

2- Ý nghĩa thật sự của câu: “Ðồng trụ chiết... Giao Chỉ Diệt”, Ðây là một câu thần phù còn ẩn dấu một hai chữ để che đậy âm mưu phá huyệt phong thủy. Thật vậy chữ Chiết ở đây không có nghĩa là gãy mà có nghĩa là tách làm hai, ví dụ như chiết cành chẳng hạn. Do đó câu trên nên giải thích là “trụ đồng tách huyệt (đế vương) ra làm hai, vua Giao Chỉ bị giết”. Chứ không thể dịch là trụ đồng bị gãy, dân Giao Chỉ bị giết hoàn toàn phi lý. Như vậy câu trên có hai chữ bi ẩn dấu là chữ huyệt và chữ vương.

3- Kiển Thành hình cái kén, nếu chúng ta tách rời hai sự kiện này ra thì sẽ không thấy âm mưu sâu độc của Mã Viện, vì thế người viết, kết hợp cả hai sự kiện này bằng một hình vẽ tượng hình, bạn đọc sẽ thấy rõ ràng hơn:

Hình dáng Kiển Thành, tổ con tằm, Âm, Thủy, tượng hình của người đàn bà, kết hợp với hình dáng trụ đồng Mã Viện, Dương, Hỏa, tượng hình của người đàn ông.

Theo Kinh Dịch lý thuyết Vũ trụ: Thái Cực - Lưỡng Nghi - Tứ Tượng - Bát Quái.

Nguồn : Thiên Đức (khongtu.com)

Chủ Nhật, 27 tháng 12, 2009

Đại địa mạch quốc gia

Chuyện 700 năm trước
Trong trận đánh Nguyên Mông lần thứ 3 năm 1288, có hai người “phạm lỗi” với Triều đình nhà Trần, nhưng đều đã lập nên chiến công lớn, góp phần không nhỏ vào việc đuổi giặc Nguyên Mông. Đó là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, con nuôi của vua Trần Thánh Tông và Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, con trai thứ 3 của Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.
Sách cũ kể rằng Trần Khánh Dư là người rất có tài, nhưng ăn nói thì quá mạnh bạo mà sinh hoạt thì hơi phóng túng, nên bị nhà Vua tước hết quan chức, bổng lộc và ông buộc phải về quê ở Chí Linh làm nghề bán than kiếm sống.
Nhưng cũng tại nơi đây, Trần Khánh Dư được phục chức và đã trở thành Phó tướng Vân Đồn. Ông đã chỉ huy quân ta phá tan đội thuyền tiếp tế lương thực của quân Nguyên Mông và góp công lớn vào trận chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng.
Võ đã giỏi, văn cũng hay, sau này Trần Khánh Dư là người viết lời tựa cho cuốn “Vạn Kiếp tông bí truyền thư” của Trần Hưng Đạo, ông viết như sau:
Người giỏi võ cầm quân thì không cần bày trận
Người giỏi bày trận thì không cần đánh
Người giỏi đánh thì không thua

Người khéo thua thì không chết
Sách cũ cũng kể rằng Trần Quốc Tảng là một người có tài đặc biệt về quân sự, nhưng vì lúc nhỏ luôn ở bên cạnh ông nội là Trần Liễu, nên Quốc Tảng từng có biểu hiện muốn cướp ngôi vua từ trong tay dòng thứ, để giành ngôi cho cha mình là dòng trưởng, khiến Trần Hưng Đạo giận, nên đã “đẩy” con trai đi trấn thủ tận Cửa Suốt, là một nơi ở rất xa Triều đình để tránh hậu hoạ.
Nhưng cũng tại nơi biên cương Tổ quốc này, Hưng Nhượng Vương đã lập nên kỳ tích trong trận thắng Bạch Đằng Giang năm 1288, khiến cho sau khi ngài qua đời năm 1313, nhân dân đồn rằng Đức Ông Trần Quốc Tảng hiện về nhắc nhở, nên đã xây Đền thờ Ngài cùng nhiều tướng lĩnh ở ngay trên đỉnh núi nhìn ra Bái Tử Long.
Ngày nay ngôi Đền Cửa Ông toạ lạc trên núi cao, không khác gì một trạm gác tiền tiêu nhìn ra Vịnh Bái Tử Long, khiến cho hậu thế có nhiều người thắc mắc rằng có thật là hai vị tướng danh tiếng đó do vì có tội nên bị điều ra tận nơi biên cương ấy, hay phải chăng đây cũng là một trong những “bí truyền thư” mà Đức Thánh Trần đã lưu lại để dạy bảo cho chúng ta?
Đền Cửa Ông không khác gì một trạm gác tiền tiêu nhìn ra Vịnh Bái Tử Long
Khi bí mật không còn là bí mật
Cách đây gần 10 năm, trên mạng thông tin quốc tế có một tấm bản đồ thật thú vị: Hình một con rồng rất đẹp mà đầu thì ở dãy núi Hy Mã Lạp Sơn (đỉnh Everest cao 8.888m nóc nhà của thế giới), lưng uốn theo hướng Tây Bắc Đông Nam của dãy núi cao thấp dần và đuôi xoè ra ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, sau đó đi xuống vùng Vịnh Bắc Bộ và đã kết thúc ở vùng đại dương sâu nhất thế giới (Vịnh Mindanao ở Philippines sâu 10.800m).
Đó là tấm sơ đồ sơn thuỷ ở phạm vi vĩ mô tầm thế giới. Thật kỳ diệu, các triền núi đó không thẳng băng mà uốn lượn như hình con rồng, tạo ra mạch núi và mạch nước tụ lại, rồi lan tỏa ở trên đồng bằng Bắc Bộ nước ta.
Sơ đồ đại địa mạch

Thế mới biết tại sao vùng đất này luôn luôn bị người ngoài thèm khát và dòm ngó. Và thế mới biết sự uyên bác kỳ tài của Thiền sư Vạn Hạnh và Vua Lý Thái Tổ đã quyết rời bỏ Hoa Lư, để trở về vùng đất Thăng Long và triệt phá được thiên la địa võng mà Cao Biền đã trấn yểm trên thành Đại La cũ 200 năm trước.
Cho đến hôm nay, tất cả những người có chút hiểu biết về phong thủy và lý thuyết về địa mạch thì đã hiểu rằng tất cả mọi bí mật xa xưa về đường kinh mạch, về huyệt đạo linh thiêng mà chỉ có các thầy pháp cao tay mới nắm giữ được, thì nay đã bị phơi bày ra tất cả.
Cái chính là “thiên hạ” thì biết cả, nhưng những người trong cuộc có ý thức được vấn đề và có những giải pháp mạnh để làm chủ các lợi thế đó hay không?
Nhìn vào sơ đồ “vi địa mạch”
Trở lại với địa hình núi sông trên miền Bắc nước ta, thì có 8 dãy núi vòng cung tạo thành hình rẻ quạt là dãy Đông Triều, dãy Ngân Sơn, dãy Bắc Sơn, dãy Tam Đảo, dãy Sông Gâm, dãy Hoàng Liên Sơn , dãy Sông Đà và dãy Hoà Bình, trong đó Hoàng Liên Sơn nối từ Hy Mã Lạp Sơn về có đỉnh Phan xi păng cao nhất Đông Dương (3143m).
Hướng đi của các dãy núi đều hình thành các con sông như sông Hồng, sông Chảy, sông Lô, sông Đà, sông Đuống, sông Cầu…
Thế nhưng các dãy núi chỉ “chầu” nên đều đã dừng lại từ xa, còn các con sông thì đã “tụ” lại ở Việt Trì và nối thông với nhau và tỏa ra ở chính vùng Thăng Long. Kỳ diệu hơn nữa là ở ngay trên đất Thăng Long đã “mọc” lên ba ngọn núi khác: đó là cụm núi Ba Vì linh thiêng đầy huyền thoại. Đỉnh núi này nhìn theo đường chim bay thì chỉ cách Hồ Tây chừng 25km.

Nhờ khoảng cách không quá xa, nên khi thuyền của vua Lý Thái Tổ đi từ sông Hồng qua sông Tô Lịch vừa rẽ vào Hồ Dâm Đàm từ làng Hồ Khẩu mùa xuân năm 1010, nhà vua có thể nhìn thấy rồng cuộn sóng bay lên, vừa nhìn thấy đỉnh Ba Vì, nên cái tên Thăng Long và tứ văn “Đắc Long bàn Hổ cứ chi thế, tiện núi sông hướng bối chi nghi” mới xuất hiện trong bản Thiên đô chiếu bất hủ.
Ngày nay, từ trên bản đồ vệ tinh, ta có thể dễ dàng tìm thấy đỉnh cao 1226m, nơi toạ lạc Đền Thượng, thờ Tản Viên Sơn Thánh, từ đó có một đường kinh mạch đi theo hướng chính Đông, qua khu vực Đền Kim Ngưu bên bờ Đầm Trị tiếp giáp với Hồ Tây, ra đến tận Cảng Vân Đồn và Vịnh biển Bái Tử Long, ở đó đã có đền Cửa Ông đầy linh thiêng mà nhân dân và hải quân ta hằng tôn thờ suốt 7 thế kỷ qua. Cảng Cửa Suốt của Đức Ông Trần Quốc Tảng xưa, đã và sẽ mãi mãi là một quân cảng quan trọng nơi Bờ Đông của Tổ quốc.
Cũng trên bản đồ vệ tinh, nếu nối một đường theo hướng Đông Bắc-Tây Nam mà mọi người quen gọi là Trục Thần Lộ đi từ đền Kim Ngưu bên bờ Đầm Trị, lên đến thành Cổ Loa- Kinh đô 2300 năm trước của vua An Dương Vương và cũng là Kinh đô hơn 1000 năm trước của vua Ngô Quyền, trên trục đó ta sẽ gặp phòng tuyến sông Như Nguyệt năm 1077 của Đại tướng Lý Thường Kiệt và Ngã ba sông Thiên Đức, nơi Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương lập đại bản doanh chỉ huy đánh quân Nguyên Mông năm 1284 và năm 1288.
Kỳ lạ thay, đường chéo này đi tiếp, rồi đi tiếp nữa, sẽ đến Đồng Đăng, cửa ải phía Bắc của Tổ quốc. Trong kinh dịch, hướng Đông Bắc là hướng Ngũ quỷ, lộc có nhiều mà hoạ cũng lắm, vậy nên chăng phải có đôi mắt tinh anh của Đức Thánh Trần chấn ngữ cửa ải này ?
Những người có chút tính hiếu kỳ không thể không kinh ngạc khi phát hiện ra trục kinh mạch nằm ngang ở 21 độ vĩ bắc 3’ 28’’ từ đỉnh Ba Vì và trục Thần Lộ nói trên lại gặp nhau ở chính vùng nước cạnh Phủ Tây Hồ mà mọi người vẫn thành kính gọi là huyệt đạo quốc gia.
Tại sao có cái tên đó? Tại vì nơi đó vẫn sủi bọt mỗi khi mực nước sông Hồng dâng cao, như thể hồ và sông là cái bình thông nhau. Nhiều người vẫn còn nhớ vào chiều thu nắng đẹp ngày 11/9/1955, người ta đã chứng kiến chính nơi đó đã có cột nước bất chợt phụt lên làm lật úp ba chiếc thuyền gỗ khiến 4 người bị thiệt mạng.
Tiến sĩ Vật lý Nguyễn Thế Hùng ở Viện Vật lý nghe mô tả lại hiện tượng đó thì đoán rằng chắc có kẻ nào đó đã chui xuống đáy hồ sờ soạng, khiến mạch nước có áp suất lớn bỗng bật lên như khi người ta mở nút chai rượu champagne?
Cảng Vân Đồn
Am Mỵ Châu thờ ai?
Lúc sinh thời, giáo sư sử học Trần Quốc Vượng rất hay được mời đi nói chuyện ở nơi này nơi khác. Với giọng nói đầy tự tin, giàu hình ảnh và hơi ngang ngang, giáo sư Vượng có cách truyền đạt ý tưởng rất thuyết phục, khiến cho người nghe chưa tin lắm mà vẫn phải tin, đặc biệt với người không theo học ngành sử, hiểu biết sử liệu rất ít mà cũng trở thành rất “am hiểu” về lịch sử. Xin kể đôi điều câu chuyện ông giải thích về am Mỵ Châu ở thành Cổ Loa như sau.
Trong một dịp ngày 8 tháng 3, chúng tôi được nghe một bài giảng của giáo sư Trần Quốc Vượng về tầm quan trọng của Cổ Loa Thành và am thờ nàng Công Chúa Mỵ Châu đối với Thủ đô của chúng ta.
Giọng đầy vẻ bí mật, giáo sư Vượng hỏi:
- Các cô có hiểu tại sao hơn 2000 năm qua, nhân dân ta, kể từ vua chúa đến thường dân đều thành kính thờ một người con gái cụt đầu có tên là Công chúa Mỵ Châu trong một cái am nho nhỏ ở Đền Cổ Loa hay không?
- Dạ không
Đó chính là ta thờ Người Mẹ Tổ Quốc của chúng ta đó. Chuyện tình duyên của Mỵ Châu Trọng Thuỷ là chuyện bịa đặt, nhưng chuyện dân tộc ta vì quá nhân hậu và thiếu cảnh giác nên trót đặt trái tim lên đầu để Triệu Đà cướp mất nước là có thật. Đạo gốc của dân tộc ta là Đạo Mẫu. Bản chất người mẹ là bản chất nhân hậu và dễ bị lừa.
Xưa kia dân tộc ta đã từng bị lừa, bởi vậy nàng Công Chúa Mỵ Châu cụt đầu là hiện thân của Người mẹ Tổ quốc đã và đang đau khổ nhắc ta phải luôn cảnh giác.”
- Vậy câu chuyện nỏ thần là có thật hay không?
- Không! Ta có một bí mật quốc gia quý hơn nỏ thần nhiều nhưng không ai ăn cắp được. Từ 2000 năm trước bí mật đó đã không còn là bí mật nữa rồi, nhưng kẻ thù đã từng ra sức phá. Ta đừng quên ta đang có báu vật trong tay.
- Vậy làm cách nào để khắc phục?
- Thiên cơ bất khả lộ. À, có cô nào thích xem tử vi không?
- Có ạ, có ạ!
- Tốt, tôi sẽ lập lá số cho từng người và sẽ có lời khuyên riêng từng người.
Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng rất giỏi khoa tử vi, ông chỉ hỏi ngày sinh tháng đẻ rồi bấm bấm ngón tay mấy cái là phán như thánh phán.
Ông cười nhạo, nói: “Tử vi liên quan đến số phận riêng của từng người thì ai cũng quan tâm, nhưng cứ giấu giấu giếm giếm như kẻ ăn vụng. Còn có cái khác quan trọng hơn Tử vi liên quan đến vận mệnh đất nước thì hễ ai quan tâm đều bị coi là nhảm nhí. Thế mới khổ!”  

Trần Thanh Vân