Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013

GIỚI THIỆU KHOA HỌC ĐẶT TÊN

Việc đặt tên có ý nghĩa vô cùng quan trọng, cái tên có vai trò ảnh hưởng rất nhiều đến vận mệnh của cả một đời người. Cái tên của mỗi người chính là biểu tượng phản ánh toàn bộ chủ thể bản thân con người ấy. Cái tên cũng dùng rất nhiều trong giao tiếp, trong học tập, sinh hoạt, công việc hàng ngày. Vì lẽ đó, cái tên tạo thành một trường năng lượng có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến vận mệnh mỗi con người.

Từ xa xưa cha ông ta đã lưu ý rất nhiều khi đặt tên cho con cháu mình, thời Phong Kiến, người xưa có quan niệm rằng kỵ đặt tên phạm huý, tức là tên trùng với tên họ của vua quan quý tộc, như thế sẽ bất lợi cho con cháu. Ngoài ra, cũng kỵ đặt những tên quá mỹ miều, sợ quỷ thần ghen ghét làm hại nên lúc nhỏ sẽ khó nuôi. Những người có học hành, chữ nghĩa thì đặt tên con cháu theo những ý nghĩa đặc trưng của Nho Giáo như Trung, Nghĩa, Hiếu, Thiện,…
Ngày nay việc đặt tên có xu hướng phóng khoáng hơn xưa nhưng cái tên vẫn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, không những chỉ mang yếu tố mỹ cảm mà về yếu tố Âm Dương, Ngũ Hành cái tên còn có vai trò rất quan trọng trong việc cải tạo vận mệnh của mỗi người.

Tổng quan những lý thuyết quan trọng cho việc đặt tên bao hàm những yếu tố sau:
- Cái tên được đặt phải phù hợp với truyền thống của mỗi dòng họ. Từ xưa đến nay trong văn hoá Việt Nam nói riêng và văn hoá Á Đông nói chung đề cao vai trò của gia đình, dòng họ. Con cháu phải kế thừa và phát huy được những truyền thống của tổ tiên gia tộc mình. Điều này thể hiện trong phả hệ, những người cùng một tổ, một chi thường mang một họ, đệm giống nhau với ý nghĩa mang tính kế thừa đặc trưng của mỗi chi, mỗi họ như họ Vũ Khắc, Nguyễn Đức,…

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

Huyền Môn Ký (Một cõi âm dương)-Chương I

Xin  được post lên đây hầu độc giả những câu chuyện li kỳ về huyền thuật ( bùa phép, ma qủy…) mà Tác giả Tamandieungo đã gửi gắm trên trang TGVH. Tôi xin mạn phép được đặt lại tên truyện vì theo anh thì “nghĩ mãi không biết đặt tựa là gì” nên đặt Một cõi âm dương. Theo tôi mỗi câu chuyện của anh là một hồi ức đẹp đầy tình người với lối viết hấp dẫn lôi cuốn về Thế giới vô hình.

CHƯƠNG I:
Chiều xuống nhanh, cái ánh sáng vàng vọt mặt trời xuyên qua tàng cây trứng cá rọi xuống chiếc võng tôi đang nằm. Những cơn gió nhè nhẹ thổi rung cành lá, từng đốm sáng lấp lánh nhảy múa quanh võng tôi như trêu ghẹo.Tia sáng đã nhạt rồi, không còn cảm giác gay gắt như lúc nãy. Giá như trước đây, giờ này tôi đã leo lên sân thượng luyện mặt trời. Mới nghĩ đến thôi, cả người tôi bỗng chạy rần rật như điện chạy, trong đầu tôi vang lên ong ong câu chú “Án thiết toà thần lai ứng hiện…”. Nhưng tôi liền gạt phắt sang một bên không muốn nhớ tới. Giờ đây, những tia sáng yếu ớt này không còn đủ ma lực quyến rũ tôi như trước nữa. Tôi bỏ tất cả, kể từ cái ngày định mệnh ấy…

Đó là cái ngày đứa em trai út của tôi bị tai nạn giao thông mà chết. Tôi không có mặt ở nhà để được nhìn mặt em lần cuối. Đâu có ai hiểu hết nỗi đau khổ của tôi, một người làm thầy, đoán biết khí số của em mình đã tận mà không cách gì cứu vãn được. Dù sư công tôi có khuyên nhủ rằng đó lá định số, nhưng tôi vẫn không cam lòng. Ngày mồng Năm tháng Năm, nhận được điềm báo tử, tôi tính ra điềm báo ứng vào tháng Sáu. Tôi vội vã trao cho em tôi bài kinh Tổ, chú hộ mạng , cả bức tượng Lục Tổ Magaham mà sư công tôi bỏ ra 21 ngày chú nguyện tơm phép. Tôi bắt buộc nó mỗi ngày phải thay tôi thắp nhang trì tụng, không được phép cởi dây chuyền và mặt tượng, không được uống rượu bia…Tôi thắp sẵn ngọn đèn bổn mạng của nó trên bàn thờ, ngày đêm canh chừng không cho đèn tắt… Vậy mà nó vẫn rời bỏ gia đình, bỏ cuộc đời này một cách dữ dội và đau đớn…
Bước sang ngày mồng Một, tôi kẹt đưa đoàn khách đi miền Tây ba ngày. Trưa hôm đó, một con bướm nhỏ bay vào trong bóng đèn và chết cháy, ngọn đèn cũng tắt theo. Tối hôm đó, vì lỡ uống rượu bia với đám bạn cũ, em tôi không dám đeo tượng . Nó cũng không dám đọc kinh chú, chỉ lặng lẽ thắp hương… để rồi sau đó một giờ, trong lúc băng qua đường, nó bị xe hàng cán chết…
Từ ngày đó, tôi bỏ công việc,từ chối gặp gỡ bạn bè, đồng đạo, tự nhốt mình trong nhà, rút vào trong vỏ ốc của sự cô đơn vằn vặt…

Hỏi đáp về Ngải nghệ

Omanizen-Nhận thấy những giải đáp của Huynh Tamandieungo vừa bổ ích, thiết thực và đặc biệt là phá vỡ vòng u u minh minh bấy lâu mà bao người ngộ nhận về ngải nghệ cũng như  về Thế giới vô hình. Những chỉ dẫn, giải đáp chân tình mang đầy tâm sự của huynh theo Omani thiển nghĩ cũng là nỗi lo lắng chung của những người theo huyền thuật tâm huyết với nghề giữa đời mạt pháp này.
Tuy đây chỉ là những giải đáp về ngải nghệ mà bên trong câu chuyện còn hướng ta đến cái thiện và chính nghĩa. Hi vọng độc giả tìm được câu trả lời mà mình cần với cái tâm trong sáng giữa nhân tình thế thái thật giả khó phân hầu tìm ra con đường giải thoát cho chính bản thân mình.
—————————————————————————————–
1.Xin cho phép đệ hỏi huynh vài điều và cũng là để cho huynh đệ gần xa có thêm hiểi biết về ngải. mình trồng ngải đa số là để cầu tài và may mắn nhưng có một số trường hợp khi trồng ngải bị phản tác dụng dù mình không làm điều xấu hại người. nếu mình chăm sóc ngải đầy đủ thì có khi nào bị phản tác dụng không vậy ? Người có gia đình nuôi ngải trong nhà có ảnh hưởng tới gia đnh không vậy ? Có phải những thày nuôi ngải nếu có bàn thờ tổ ngải sẽ không bao giờ bị ngải làm xấu ngược lại mình không vậy ? người ta nói ngải như con dao hai lưỡi vậy ý kiến thày về việc này thế nào ?

Những trường hợp bạn anhvu_75 trình bày chỉ đúng với người luyện ngải hoặc được thầy cấp ngải có cột tên tuổi mình vào đó. Nếu ta trồng bình thường như cây cảnh sẽ không có xảy ra kết quả như vậy đâu.
Những trường hợp bị phản tác dụng thường xảy ra do chủ nhân vướng phải các điều cấm kỵ sau:
1- Ăn phạm đồ khắc kị của ngải. Điều này các môn phái thần quyền cũng có. Ngoài những món độc như trâu, chó, mèo, ngựa, rau dấp cá… người nuôi ngải phải kiêng cử tỏi, hành, hẹ, kiệu sống. Những thứ này ăn vào trong người dễ bị ngải hành. Phổ biến nhất là tay chân lở loét. Người đời tưởng bệnh da liễu, thật ra họ bị ngải ăn.
2- Chậu ngải bị vướng đồ nhơ uế.
3- Ngải bị người khác cố tình phá hại… Điều này thường xảy ra khi chủ nhân trồng không biết giữ gìn các chậu ngải cẩn trọng, thường hay khoe với người khác hoặc để cho người khác tiếp cận với chậu ngải đã tơm phép.
Người có gia đình vẫn nuôi ngải bình thường. Vì bản thân cây ngải không phải là tà độc. Các cây mình trồng bình thường thì có gì phải ngại?
Đối với các loài độc tướng, người thầy luyện ngải phải đem vào sâu trong vườn nhà, cách biệt với người xung quanh, không để người nhà tiếp xúc. Còn chúng ta trồng ngải cầu tài, vả lại cũng không tơm phép đọc chú … thì làm gì có ảnh hưởng?
Chỉ có thầy ngải chuyên nghiệp mới lập bàn thờ tổ ngải. Nhưng, đâu phải cứ có bàn thờ tổ ngải thì ngải không làm hại. Đã thờ tổ thì càng phải giữ gìn giới luật, môn qui. Nếu vi phạm, thầy ngải còn bị nặng hơn những người khác nữa. Một phần trong những điều cần giữ gìn, tôi đã gõ ở phần trên rồi đó.

Tặng sách e-book: Mông Sơn Thí Thực

Bắt nguồn sâu xa từ kinh Cứu Bạt Diệm Khẩu Đà-la-ni do đại sư Bất Không phiên dịch và truyền bá ở Trung Quốc vào đời Đường, phép cúng thí thực có mục đích đem tình thương bao la cứu độ loài ngạ quỷ lang thanh khổ sở giữa chốn u minh. Sang đời Tống, đại sư Bất Động tham cứu thêm các kinh điển Mật tông khác, diễn dịch thành phép Tiểu thí thực. Vì đại sư tu tập ở núi Mông Sơn, nên phép này được gọi là Tiểu Mông Sơn và được thực hành hàng ngày như một khoa nghi thiết yếu của Mật tông.

Qua các đời Nguyên, Minh, khoa nghi này dần biến đổi, pha trộn với nghi thức của các tông phái khác, chen thêm phần văn thí thực, triệu thỉnh vào phần trì chú biến thực, siêu độ, thể hiện trọn vẹn lòng từ bi vô lượng của Phật giáo, nhằm cứu độ mọi chúng sinh còn trôi nổi lạc loài trong Bà đường dữ.

Khoa nghi này truyền sang nước ta đã lâu đời, thường được gọi là nghi thức đăng đàn chẩn tế, do các cao tăng làm sám chủ.

Mời bạn đón đọc.

Link download: Mông Sơn Thí Thực

Hồ Con Rùa và khám Chí Hòa trong thế trấn yểm long mạch Sài Gòn

Hai kiến trúc độc đáo này không chỉ nổi tiếng ở Sài Gòn mà còn có rất nhiều giai thoại mang màu sắc huyền bí, ly kỳ xung quanh.

Con rùa lớn yểm đuôi rồng

Hồ Con Rùa có tên chính thức là Công trường Quốc tế (trước là Công trường Chiến sĩ trận vong). Đây là nút giao của 3 con đường Võ Văn Tần, Phạm Ngọc Thạch và Trần Cao Vân. Tuy không chính thức được xác nhận, nhưng rất nhiều giai thoại cho rằng hồ Con Rùa được thiết kế thêm hồ phun nước hình bát giác, con rùa đội bia. Và trụ đứng vươn lên cao ở giữa hồ chính là biểu tượng bát quái đồ, Kim Quy cùng chiếc đại đinh đóng xuống đất là để yểm đuôi rồng.

Các vị cao niên kinh qua nhiều giai đoạn lịch sử thăng trầm của vùng đất này đã kể những giai thoại rằng, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vốn là người đa nghi. Bởi vậy, sau khi nhậm chức tổng thống, ông luôn trong tâm trạng bất an, lo lắng cho vị thế của mình. Vào năm 1967, nghe tin có thầy địa lý cao tay ở Hong Kong, ông Thiệu liền cho người mời sang Việt Nam để trấn yểm Dinh Độc Lập.

Thầy địa lý nghiên cứu đến mấy ngày sau rồi phán: “Dinh Độc Lập được xây trên long mạch, trấn ngay vị trí đầu rồng. Đuôi rồng nằm cách đó non 1 km, rơi vào vị trí Công trường Chiến sĩ trận vong. Cần phải dùng một con rùa lớn trấn yểm đuôi rồng lại thì sự nghiệp của tổng thống mới mong bền vững”.


Hồ Con Rùa năm 1972

Vợ chồng Nguyễn Văn Thiệu lập tức tin theo, cho xây hồ nước theo hình bát giác, phỏng theo bát quái đồ, một biểu tượng phong thủy thường dùng để của người xưa. Hồ có 4 đường đi bộ xoắn ốc đều hướng đến khu vực trung tâm là đài tưởng niệm và hình tượng con rùa bằng hợp kim đội bia đá.

Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2013

Hình xăm bùa Thái: 9 Spires Yant

Gao Yord Yant hay 9 Spires Yant là một loại hình xăm thiêng liêng hay còn gọi là xăm bùa Thái, có sức mạnh huyền bí bảo vệ và mang lại may mắn cho người xăm. Hình xăm bùa này cũng có những nét và có ý nghĩa tương tự như những loại hình xăm kiểu Sak Yant, ví dụ như Ha Taew Yant chẳng hạn.

Gao Yord Yant thường xăm dưới gáy nhưng cũng có thể được xăm ở những nơi khác. 9 Spires Yant là một dạng đồ hình học và đại diện cho 9 đỉnh thân linh Mt. Meru và cũng chứa 9 hình ảnh biểu tượng của đức Phật, thể hiện số 9 quan trọng trong Phật giáo. Chư Phật là 3 hình bầu dục, kích thước giảm dần, cái nọ đặt nên cái kia giống hình Đức Phật ngồi trên tòa sen.

Dưới đây là một số hình ảnh của loại hình xăm bùa này







Bàn thờ Thần tài - Ông Địa những điều cần biết

Nếu quan sát và để ý một chút, ta thường thấy bàn thờ Ông Địa - Thần Tài xuất hiện phổ biến trong bất cứ đâu tại Việt Nam như các cửa hàng kinh doanh, các công ty - xí nghiệp  hoặc các hộ gia đình. Việc thờ cúng đó có nguồn gốc thế nào và cách thờ cúng ra sao cho đúng ? Dưới đây là 1 số hiểu biết cơ bản để các bạn tham khảo và dùng khi hữu sự.

Thần Tài - Ông Địa là một cặp 2 ông thần được thờ trong một cái tủ thờ, đặt ở dưới đất. Tủ thường làm bằng gỗ và có khi được Tủ thờ Thần Tài - Ông Địa đều đặt hướng thẳng ra phía cửa nhà, thường ở vị trí có vách dựa vào (để tạo sự vững chắc cho tủ thờ cũng như cho sự kinh doanh và cuộc sống bạn). Người ta không chỉ cúng 2 ông vào ngày Tết, mà cúng quanh năm, nhất là những gia đình chuyên nghề buôn bán, kinh doanh thì người ta tin rằng chỉ khi nào lo cho các vị thần này chu đáo hàng ngày thì mới được các Thần phù hộ làm ăn thuận lợi “tiền vào như nước”. Sáng sớm khi mở cửa bán hàng hoặc kinh doanh, người ta thường thắp hương cầu khẩn Thần Tài “phù hộ” cho họ mua may bán đắt, cúng cho Ông Địa một ly cà phê đen kèm theo một điếu thuốc để ông “độ” cho trong ấm ngoài êm, phía trong khảm hoặc dán bài vị của Thần Tài.

Thần Tài - Ông Địa là một cặp thờ tuy về hình chỉ có 1 ông Địa và 1 Thần tài, nhưng Mỗi một vị như vậy là đại diện cho 5 người. Về Thần Tài có : Hắc Thần Tài, Thanh Thần Tài, Bạch Thần Tài , Xích Thần Tài Và Hoàng Thần tài là vị chủ chốt. Còn ông Địa cũng có 5 ông : Đông phương Thanh Đế, Tây phương Bạch Đế, Nam phương Xích Đế, Bắc phương Hắc Đế và Trung ương Huỳnh Đế. Về hình thức bên ngoài thì Ông Địa thường bụng phệ, người trắng nõn, để ngực trần, đầu quấn khăn, tay cầm quạt và hay có con cọp đi theo. Cần phân biệt Ông Địa của Việt Nam và Phật Di Lặc. Phật Di Lặc mang bao bố hay cười tươi, có đồng tử đi theo. Hình ảnh Ông Địa còn khá quen thuộc trong đội múa lân, Ông Địa thường có vai trò cản trở Lân trong việc nhặt tiền thưởng hay quà cúng của gia chủ. Thần Tài thường tay cầm cục vàng (kim ngân lượng) hoặc bạc, đội mũ mão, trang phục nghiêm chỉnh hơn Ông Địa.

Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

Tặng sách e-book : Ngọc Hạp Chánh Tông

Tác Phảm Kinh Điển Quý Giá Đầy Đủ Nhất, Đúng Theo Lý Số Cổ Truyền - Ngọc Hạp Chánh Tông - Cổ Thư Bí Truyền Lập Thành Dễ Hiểu

Ngọc Hạp Chánh Tông này là một bổn sách cổ từ lâu đời bằng chữ Nho, mà thuở xưa các cụ thường dùng để trạch tuổi, coi ngày, coi giờ, coi cưới gả, coi làm nhà, coi xuất hành, mở cửa hàng, coi phương hướng và so đôi tuổi trai và gái kết hôn cùng nhau cho được phù hạp về cung mạng thuộc Ngũ hành khắc và hạp.

Bổn sách Ngọc Hạp là một bổn sách rất quí báu, hậu thế cũng chưa ai làm nối theo mà bỏ không dùng bổn ấy làm gốc. Nhà làm sách Ngọc Hạp và Bát Trạch đã thông Thiên văn rành Địa lý, am hiểu vũ trụ biến đổi, lại rành rẽ về Lịch số học mới làm ra được; phải hiểu cả Âm Dương thuộc Ngũ hành khắc hạp v.v...

Trong khi trình bày quyển Ngọc hạp này, tôi có hai điều mong ước: Một, là bây giờ nền Nho học càng ngày càng thối bộ, tôi muốn lưu lại một đôi phần trong khoa này cho quí vị nào có cần đến cũng đỡ bớt sự phiền phức. Hai, là tôi đã kinh nghiệm thật đúng, cho nên tôi mới mạnh dạn trình bày để cho những vị tân học ngày nay có dịp khảo xét thêm cho biết coi người xưa truy nguyên có đúng hay không. Về điểm này tôi xin để thời gian chứng minh sự thật... chớ hiện nay phần đông vì khoa học tiến mạnh, làm cho thiên hạ say mê nền Tân học, còn cái gì thuộc về cũ - mà nhứt là những gì nghe ra như huyền bí - thì người ta có dạ nghi ngờ, mà nghi ngờ cũng có lý... Riêng tôi, tôi lấy lương tâm chức nghiệp mà hoàn thành quyển Ngọc hạp này.

Mời bạn đón đọc.

Link download: Ngọc Hạp Chánh Tông

Thứ Ba, 19 tháng 11, 2013

Phong thủy: Phòng thờ - một góc tâm linh của người Việt

(ĐTCK) Thờ cúng tổ tiên là một nét văn hoá tâm linh truyền thống của người Việt, hướng phòng và xắp xếp phòng là điều không dễ với kiến trúc nhà ở đô thị hiện nay.



Hầu như trong mỗi gia đình người Việt đều có bàn thờ tổ tiên, được đặt trong không gian của một phòng nào đó, hoặc trong một không gian riêng gọi là phòng thờ. Thờ cúng tổ tiên là một nét văn hoá tâm linh truyền thống của người Việt, thể hiện lòng thành kính, lòng tri ân tổ tiên, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, giữ gìn gia đạo.

“Thà đui mà giữ đạo nha

Còn hơn có mắt ông cha không thờ”

(Nguyễn Đình Chiểu)

Duy trì nền tảng gia đình với tục lệ thờ cúng tổ tiên, cụ Phan Bội Châu có nói: “Tôi biết ít chữ, dạy lại cho con trẻ để sau này nó biết khấn tổ tiên”. Theo cụ Phan, nền tảng gia đình mà tinh thần là sự thờ cúng tổ tiên phải được duy trì, để như chất keo sơn gắn chặt các thành viên trong gia đình nhỏ với gia tộc lớn, từ đó kết thành tinh thần đoàn kết dân tộc.

Thờ cúng tổ tiên, ở một khía cạnh khác, xuất phát từ quan niệm cho rằng, chết chỉ là sự tiêu tan của thể xác, linh hồn vẫn còn và luôn ở bên con cháu, giúp đỡ, che chở con cháu. Do đó, những khi trong nhà có việc quan trọng như sinh con, làm nhà, cưới gả, đi xa, thi cử…, người Việt đều dâng hương, làm lễ cúng tổ tiên để báo cáo và cầu tổ tiên phù hộ.

Với các ý nghĩa nêu trên, bàn thờ luôn được đặt ở vị trí cao ráo, sạch sẽ, trang trọng nhất trong mỗi gia đình. Trong nhà ở gia đình truyền thống, phổ biến là “ba gian, hai chái”, bàn thờ được lập ở chính giữa gian giữa của ngôi nhà. Với những ngôi nhà có kiến trúc hiện đại ngày nay, nhất là nhà phố, hoặc căn hộ chung cư, các kiến trúc sư đều cân nhắc kỹ vị trí đặt bàn thờ, nhằm đảm bảo sự trang nghiêm, tôn kính, sự thuận tiện trong sinh hoạt gia đình, cũng như đảm bảo tính thẩm mỹ.

Bí mật cột rồng đá ngàn tuổi phá phép yểm bùa

Có một điều kỳ thú khiến các nhà khoa học say mê tìm hiểu, đó là làm cách nào mà người xưa, với công cụ thô sơ đã vận chuyển được khối đá khổng lồ này lên gần đỉnh núi Dạm? Theo tính toán, cột đá này nặng ít nhất 54 tấn.
Kinh Bắc là vùng đất cổ kính, với dày đặc các di tích lịch sử xếp hạng quốc gia. Tuy nhiên, trong một báo cáo đề xuất công nhận bảo vật quốc gia gửi đến Cục Di sản Văn hóa, Bảo tàng Bắc Ninh lại chọn cột đá chùa Dạm là bảo vật đứng đầu. Vậy cái cột đá có gì đặc biệt, được coi trọng như thế?



Cột rồng đá chùa Dạm.

Đi tìm bí mật rồng đá

Những ngày đầu năm, chúng tôi theo đoàn người tứ phương, xe cộ nườm nượp đổ về quả núi Đại Lãm, thuộc xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh để chiêm ngưỡng, cầu may trước tượng rồng đá ở chùa Dạm. Lên chùa Dạm có hai đường, một đường đi bộ theo các bậc đá quanh co từ chân lên đến đỉnh núi, một đường xe ủi mới mở chạy thẳng lên chùa. Cả hai đường đều vắng quay vắng quắt, chẳng có bóng người. Ngôi chùa tuềnh toàng, tạm bợ, nhỏ xíu cũng cửa khóa, chẳng có ai. Giờ tôi mới hiểu, chùa Dạm chỉ còn là thứ trong sách vở.

Thứ tôi cần tìm nằm uy nghi ngay cuối con đường mới mở từ chân núi lên tận ngôi chùa Dạm dựng lại tạm bợ. Tôi thực sự sững sờ trước một tuyệt tác đã đứng đó gần 1.000 năm. Trải bao mưa nắng, trơ gan cùng tuế nguyệt, công trình điêu khắc độc nhất vô nhị này vẫn chứa đựng những bí mật chưa được khám phá. Thật không quá lời, khi các cán bộ Bảo tàng Bắc Ninh khẳng định rằng, cột đá chùa Dạm là công trình nghệ thuật đặc sắc bậc nhất thời Lý còn lưu truyền cho hậu thế.

Lang thang loanh quanh khu vực núi Dạm, tôi gặp được cụ Nguyễn Thị Thập. Cụ Thập là Phật tử, thường xuyên lên chùa lau dọn, trông giữ những di vật để ngổn ngang, dãi dầu mưa nắng. Theo cụ Thập, truyền thuyết trong làng đều khẳng định rằng, cột đá chạm rồng có từ thời Lý.

Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

Nghi lễ trừ tà ở Việt Nam xưa (Phần 3)

(MegaFun) - Trời bắt đầu tối. Trong điện thờ, đèn đuốc sáng choang, tất cả đã sẵn sàng, chỉ còn chờ thiếu phụ tà ám đến là khai đàn. Đang ngồi tiếp quan khách, lão pháp sư bỗng mặt đỏ bừng, lim dim hai mắt rồi đứng vùng lên, lùi lùi xuống thang… bước ra đến cổng thì chỉ gặp mẹ và chồng thiếu phụ hớt hải chạy đến.

Làm như không thấy họ, pháp sư cứ rảo cẳng đi về phía chợ, đến nơi, thấy đòn cáng chình ình bên lộ, hai phi khiên ngồi bó gối ủ rũ. Lão pháp sư tức thì giậm chân đánh quyết, nạt lớn một tiếng, đập mạnh hai tay lần vào đầu cáng, quát hai phu khiêng thiếu phụ đến điện thờ.

Toán quan khách theo pháp sư cùng đến chợ coi, trên đường về, được pháp sư kể cho nghe (qua lời quan huyện thông ngôn) rằng hồi nãy tại điện mặt ông tự nhiên đỏ bừng rồi nhắm mắt, đó là lúc âm binh giải tà về cấp báo ông hay con tà cầu cứu cô hồn các đảng chợ Thị Cầu cản cáng không cho đi.



Đám quỷ hồn nhảy lên đầy võng, bám vít hai đầu đòn, ôm cứng tay chân, kéo cổ phu cáng làm cho cả hai ngột ngạt, xây xẩm không thể cất bước, loạng choạng và phải hạ cáng, ngồi xệp xuống dưới. Thấy khó áp đảo lũ cô hồn, âm binh hành sai giải tà vội bay về điện cấp báo pháp sư trước khi thân nhân thiếu phụ đến. Sau khi pháp sư ra oai đánh đuổi bọn cô hồn các đảng, xúm lại cản đường, phu cáng võng lại tiếp tục tiến bước.

Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2013

Nghi lễ trừ tà ở Việt Nam xưa (Phần 2)


(MegaFun) - Nói đến đây, bỗng có tiếng bước nện mạnh trên sập. Ngó lên Flammarion thấy lão phù thủy vừa “lên đai” xong, nghĩa là hai gã hầu đồng đã siết chặt cần cổ pháp sư bằng vải khăn nhiễu, siết chặt đến nỗi máu ứ, mặt sưng phù bầm đỏ dễ sợ.
Hai cây lình lá hình mũi dao dài hơn hai tấc xiên qua mép, dựng đứng hai bên má. Vía Phạm phò mã giáng đàn, cầm thanh kiếm gỗ sơn son, ra hiệu cho gã hầu đồng lấy roi và vồ linh - một thứ trống gỗ tí hon có cán, cầm để khảo tà.

http://baolamdong.vn/dataimages/201202/original/images751937_ImageView.aspx.jpg

Lớn tiếng thét sai âm binh, gã hầu đồng đánh roi đen đét trên chiếu vào hai bên chỗ ngồi thiếu phụ. Con tà không nao núng, vẫn chao đảo như con lật đật. Nó đặt hai tay lên đầu gối, có lúc co lên chống nạnh, mắt láo liên ngạo nghễ… Bà d’Estamines thắc mắc hỏi:
- Sao không đánh roi trúng con tà ám thiếu phụ, lại đánh ra ngoài trên chiếu?
Ông huyện trả lời:
- Đánh vào thân mình thiếu phụ không ích gì, lại để dấu vết thêm buồn lòng thân nhân.
- Nếu vậy là con tà không còn ám hãm nạn nhân?
- Nó vẫn ở trong người thiếu phụ. Âm binh thần tướng đã nắm đầu nó vật sang tả, sang hữu để hầu đồng đánh bằng roi, vồ; do đó, khỏi đánh mình thiếu phụ mà chỉ đánh bên chiếu là đủ.
Thình lình con tà chụp lấy tay gã hầu đồng, giật cặp vồ linh rồi dang tay tự đánh vào vai, lưng, ngực, từng chập… Bà đầm ngạc nhiên hỏi:
- Tại sao con tà tự đánh nó như vậy?
- Đó là nó tự ra oai để tỏ ra nó không ngán sợ đòn các thần tướng giáng đàn.

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013

Nghi lễ trừ tà ở Việt Nam xưa ( Phần1 )

 (MegaFun) - Năm 1920, Hiệp hội Thông linh gia Pháp quốc có cử hai đại diện là ông Camille Flammarion và bà Josette d’Estamines sang khảo sát về phù thủy tại Đông Dương... Tại Việt Nam, hai nhà thông linh Pháp đã tiếp xúc với nhiều nhân vật, trong số đó có một viên tri huyện ở Hải Dương, con nuôi của một vị pháp sư lừng danh.
Nhờ sự hướng dẫn của ông quan trẻ này mà hai nhà thông linh Pháp được chứng kiến nhiều sự việc kì bí, lạ lùng và viết hồi ký phóng sự về giới phù thủy Việt Nam đăng trên tạp chí “La Revue des Deux Mondes”. Trích lục dưới đây là bài tường thuật về việc triệu thỉnh Đức Thánh Trần giáng đàn trừ tà.


Sự chuẩn bị cho nghi lễ
Đoàn quan khách về tới điện thờ, tắm rửa ăn cơm xong thì gần tối. Có một bà lão cùng con trai đến yêu cầu pháp sư bắt tà trị bệnh cho người con dâu bị “ma làm”, đau đã nửa tháng không dứt, lúc tỉnh khi mê. Bà lão đặt một khoản tiền lên đĩa đưa thày “sửa lễ” cúng Thánh, rồi ra về. Viên tri huyện nói với hai nhà thông linh Pháp:

Nghi lễ trừ tà ở Việt Nam.
- Bốn ngày nữa nhị vị sẽ xem nghĩa phụ tôi thỉnh âm binh thần tướng về trừ tà chữa bệnh cho một nữ tín chủ bị “quỷ ám”.
Mấy ngày sau, y hẹn, bà cụ và con trai dẫn tới bằng cáng (võng), một thiếu phụ ốm xanh xao. Vừa đến trước nhà, thiếu phụ nằm trên cáng bỗng thét lên, bắt phu cáng quay trở về. Ánh mắt quắc lên đanh ác, thị giãy nảy, nhất định không vào trong điện. Hai nhà thông linh ngoại quốc chạy ra coi, không hiểu gì cả. Viên tri huyện giải thích đó là do con tà ám thiếu phụ sợ không dám vào điện. Lão pháp sư, tiếp đó, cũng chạy ra, rồi vỗ tay lên đầu đòn cáng, nạt bảo hai phu khiêng cáng vào trong điện…Thiếu phụ biến sắc, dáo dác sợ nằm im thin thít trên cáng, vào đến trong, lão pháp sư cầm tay đỡ thị đứng lên, dẫn đến ngồi bên mẹ và chồng. Bà đầm hỏi viên tri huyện:
- Tôi thấy con tà sợ pháp sư, nên đã hết làm dữ như lúc mới đến.
Viên tri huyện giải thích: ""Con tà đã xuất rồi.""
- Vậy là thiếu phụ hết đau? Và con tà chạy đi đâu? Bà đầm hỏi.
- Nó chưa trả hồn vía, giải bệnh cho thiếu phụ thì trốn đâu thoát? Hiện nó ở ngoài cửa, vì sợ không dám vào, pháp sư phải đánh quyết trục tà khỏi nạn nhân và vỗ tay lên gọng cáng cột nó vào đó. Viên tri huyện giải thích.

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013

Xuất ngoại thỉnh bùa cầu tài, mua ngải câu tình

Sau những lần diện kiến nhiều thầy bùa và các “tín đồ” bùa chú, tôi nhận ra một điều: Bùa chú chưa nhiều người tin nhưng người đã tin thì không khác gì một “con nghiện”, phó thác tất cả vào chúng.



Bùa chú ở nước ta chủ yếu là phát sinh và du nhập, nhiều người không tiếc công sức, tiền bạc xuất ngoại để tìm mua bằng được bùa “gốc” với hy vọng thỉnh được bùa thiêng thật sự. Một làn sóng ồ ạt xuất ngoại thỉnh bùa đã manh nha từ lâu và đang ngày càng lan rộng.

Sau nhiều ngày tiếp xúc với pháp sư T., khi đã thân thiết, ông không ngại khoe với tôi “danh sách khách hàng” của mình. Nhiều người trong số đó là đại gia giàu có, không kinh doanh vài cửa hàng thì cũng là giám đốc doanh nghiệp lớn nhỏ.

“Cầu tình sang Đài, cầu tài sang Thái”

Ông T. cho biết, trong giới kinh doanh thì việc cúng bái lễ lạt nhiều lần trong năm không hiếm. Ngoài các lễ cúng đất, cúng mở hàng... theo tín ngưỡng, nhiều người phải thường xuyên thỉnh pháp sư tổ chức một loạt các nghi lễ huyền thuật để giao thiệp với âm binh bằng bùa chú để hóa giải hoặc mưu cầu gì đó.

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

Những bí mật chưa tiết lộ về bùa ngải: Trong thế giới thầy bùa


Dân Việt - Ở nước ta, hầu hết mọi người đều từng nghe đến việc dùng bùa ngải để mưu cầu điều tốt cho mình hoặc để ám hại người khác. Vậy bùa chú có thật sự mang công dụng vô biên hay không?
Phóng viên báo Dòng Đời bỏ nhiều công sức và thời gian đi tìm câu trả lời xác đáng.

Bùa ngải có nhiều dòng phái nhưng tựu trung lại là dùng phương pháp làm phép “gửi lệnh” điều khiển âm lực vào một vật cụ thể nào đó để trấn yểm, phục vụ mục đích người dùng. Pháp sư có pháp lực càng cao thì “thương hiệu” càng lớn và dĩ nhiên được nhiều người tin tưởng thỉnh bùa.

Mất nhiều tháng thuyết phục, chúng tôi mới được diện kiến ông T., một pháp sư có tiếng ở Sài Gòn và được ông chia sẻ những sự thật về bùa ngải.

Diện kiến thầy bùa

Nhà pháp sư T. nằm ở mặt tiền đường trên địa bàn Q.Bình Thạnh. Căn nhà rất rộng nhưng cửa đóng then cài quanh năm, chỉ một mình ông ở. Cả gia đình ông đều định cư ở nước ngoài. Ông năm nay 40 tuổi, từng tốt nghiệp cử nhân luật nhưng 20 năm qua ông chỉ chuyên tâm nghiên cứu bùa ngải.

Ông gặp chúng tôi sau một chuyến “công cán” từ Tây Ninh trở về. Gia chủ ở đó xây cất nhà ở gần nghĩa địa, thường xuyên bị ma quấy quá. Thử mọi cách cúng viếng, cầu siêu vẫn không được. Nghe danh thầy T., gia chủ cất công lặn lội xuống Sài Gòn cậy nhờ. “Thực chất đó không phải là những hồn ma mà là những âm binh. Chỉ có người am tường huyền thuật mới có thể hóa giải” - ông T. nói.

Phải thuyết phục lắm, chúng tôi mới được ông T. cho phép vào tham quan căn phòng nơi ông nghiên cứu và thực hành bùa pháp. Căn phòng nhỏ đốt nhang trầm nghi ngút. Ở chính giữa là bàn làm việc có mực tàu và giấy vẽ bùa. Xung quanh bốn bức tường là 8.000 đầu sách đủ thứ tiếng chuyên về bùa ngải. Trên các bức tường treo nhiều ảnh mà theo ông là cao tổ của các trường phái bùa ngải. Tất cả đều là người Trung Quốc, Thái Lan hoặc Ấn Độ. Theo lời ông, bùa ngải chỉ là một trong những hình thức khai triển huyền thuật, ngoài ra còn có trù ếm, thần thông, thôi miên…

Huyền thuật có lịch sử ít nhất đã 8.000 năm, bất cứ tôn giáo nào, dân tộc nào cũng có huyền thuật. Ở nước ta, có rất nhiều loại huyền thuật tự sinh hoặc du nhập. Cơ bản nhất vẫn có thể kể đến các dòng Nam Tông (Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar, Campuchia…), dòng Tiên Đạo (Trung Quốc, Tây Tạng…) hay huyền thuật của các dân tộc (như người Mường)… Mỗi dòng đều có thế mạnh thế yếu nhưng trước đây dùng để chữa bệnh, trừ ma diệt quỷ chứ không dùng hại nhau như bây giờ.

Bùa ngải dùng đủ thứ chất liệu từ cây cỏ đến vật dụng, tùy phép yểm và mục đích. Lá bùa có loại nhỏ bằng ngón tay, có loại to như mặt bàn. Loại chôn, loại đốt, loại uống (trực tiếp hoặc đốt), cũng có loại vô hình vô trạng… Ở miền Nam, huyền thuật chủ yếu thịnh hành dòng Nam Tông, đặc biệt là bùa chú của Thái hoặc Miên (Campuchia). Huyền thuật tôn chỉ là điều chỉnh quan hệ giữa con người với cõi siêu nhiên. Vì vậy, xuất phát điểm của bùa ngải đơn thuần là vì mục đích tốt.

Dòng huyền thuật nào cũng có “bùa hại”. “Bùa hại” từ sơ khởi cũng đã có nhưng chỉ mang tính chất để răn đe, trừng phạt những người xấu và giúp họ quay đầu chuyển ý. “Từ lâu, việc dùng bùa phép ám hại nhau là có thật, dù nhiều người chưa tin” - ông T. khẳng định.

Đẳng cấp và trả giá

Cũng theo lời ông, huyền thuật sơ khai mang mục đích tốt đẹp nên pháp sư cũng vậy. Những người có khả năng khai triển huyền thuật là những người đức đạo, thành tâm. Tuy nhiên, ngày nay nhiều thầy bùa, pháp sư công khai dùng huyền thuật để kiếm tiền, khai sinh ra nhiều tà thuật.

Bùa yêu có rất nhiều loại và rất “thịnh hành” trong giới bùa chú hiện nay

Ông khẳng định huyền thuật không phân biệt chánh tà, chỉ có người sử dụng huyền thuật vào mục đích tốt hay xấu. “Người khai triển huyền pháp mục đích hại người đã phạm vào đại kỵ và quả báo rất lớn” - ông nói. Như trường hợp một thầy bùa ở Tây Ninh chuyên yểm bùa hại người theo yêu cầu. Ông này sống đến 60 tuổi thì bị điên rồi chết. Con cháu ông không hiểu vì sao đều bị điên cùng lúc. Ông khẳng định việc trả giá như vậy trong huyền giới không hiếm.

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013

Tìm hiểu về Bùa ngải Thái lan

Kính thưa Quý Vị, xưa nay Ông Bà Ta có câu: Đường Lên Xứ Thái Xứ Hời diển tả chuyện kỳ bí ma quỷ Huyền Thuật… rất kinh dị hấp dẩn… những Kinh Nghiệm Giai Thoại Điển Tích Buà Phép hấp dẩn của TháiLan.

JaTuKham {Tổ Sư Chà Kha}



Khăn Ấn Nô Mô Puốs Thia Dắ, Mảnh Hổ Hàng Phục…






NangWak {Mẹ Đất Cầu Tài Phú…}




Tổ Sư Cái Ban

Rùng mình những kiểu “níu tình” bằng bùa ngải

Chân tay run lẩy bẩy, Tú vội lấy dao, lấy giấy để cạo ít đá ở trên bia mộ. Được một ít, Tú gói vào giấy đỏ phóng như bị ma đuổi về nhà và thực hiện như lời chỉ dẫn của “cao tăng”. Không biết bùa ngải linh ứng đến đâu, chỉ biết rằng sau hôm đó, cứ mỗi lần nằm ngủ là Tú mê... Nỗi hãi hùng ám ảnh khiến Tú quên cả nhớ tới người trong mộng.

101 cách làm bùa yêu được “giăng” khắp thế giới ảo. Và cũng ngần đấy kiểu quái gở, rùng mình được hưởng ứng, làm theo…

Loại bùa yêu này được rao bán với giá 1 triệu đồng.
Rùng mình bùa yêu

Trong một lần lướt web, tình cờ Nghĩa Tú (21 tuổi, Hồ Tây, Hà Nội) thấy có cách tự làm bùa yêu. Tú tỏ ra rất hứng thú vì đang yêu đơn phương một phụ nữ đã có chồng. Mà theo lời quảng cáo thì với loại bùa yêu này, người bị bỏ bùa sẽ bỏ chồng, bỏ vợ để đến với người yêu.

Một “cao tăng” có nickname là atchubai dạy Tú: đúng 12 giờ khuya phải một mình vào nghĩa trang, mang theo đèn pin, búa, đục và một tờ giấy đỏ. Nếu đối tượng bị bùa yêu là nữ thì lựa một cái bia mộ của nam, chết trẻ, lý do chết vì tình càng hiệu quả, còn không thì đua xe lạng lách, đánh võng cũng được(!). Lấy dao cạo ít đá ở bia mộ, xong cẩn thận gói lại bằng mảnh giấy đỏ rồi mang về nhà, đặt gói đá dưới gối và đi ngủ.

Lưu ý từ đó về sau đúng 3 ngày 3 đêm… không tắm mới có hiệu nghiệm. Sau ngày thứ ba, đặt lên bàn thờ tổ tiên thắp nhang khấn vái. Vái như thế nào là tùy bạn, chẳng hạn con tên gì đó, lỡ yêu cô tên gì gì đó, nay nhờ ông bà phù hộ độ trì cho con được nên duyên chồng vợ... Đọc đã thấy sợ, nhưng nghĩ tủi phận mãi chỉ là “trái tim bên lề”, Tú thu hết can đảm thực hiện.

Khám phá kỳ bí của thuật "võ bùa" nơi núi Sam

Dân Việt - Vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, làng võ Việt xôn xao bởi sự xuất hiện của một phái võ kỳ lạ, gọi là"thần quyền" hay "võ bùa". Người theo môn võ này không dụng về kỹ thuật, sức lực mà chỉ cần thổi nhang, uống bùa, gọi thần chú là có ngay sức mạnh lạ kỳ.

Chính cách thức kỳ dị đó mà Thất Sơn thần quyền không được chấp nhận như 1 môn võ “danh chính ngôn thuận” và dần phải lui vào ẩn dật.

Tuy nhiên, tại An Giang vẫn có 1 số "ông đạo" rèn luyện môn "võ bùa" này với những điều kiêng kỵ và thể thức kỳ quái. Chúng tôi đã có may mắn được tiếp cận và xin nêu một số điều ít biết về môn võ từ lâu đã bị cho là thất truyền này.


Tây An cổ tự trên núi Sam.Ông đạo trên núi Sam

Trong vai những người đi “tầm sư học đạo” chúng tôi tìm về vùng Thất Sơn, huyện Tịnh Biên, An Giang - nơi vốn nổi tiếng với những huyền tích ly kỳ. Nhờ một vài mối quan hệ, chúng tôi được “chỉ điểm” rằng trên núi Sam, cạnh Tây An cổ tự có một ông đạo sống ẩn dật, thường gọi là thầy Hai rất rành về “thần quyền”.

Từ thị xã Châu Đốc đến chân núi Sam khoảng 5 cây số. Tuy không hùng vĩ, nhưng núi Sam mang một di sản đồ sộ với hàng loạt di tích cấp quốc gia “náu mình” trên sườn núi. Nổi tiếng nhất là chùa Hang, miếu Bà Chúa Xứ, Tây An cổ tự, lăng Thoại Ngọc Hầu...

Thật may mắn cho chúng tôi khi trong những ngày rong ruổi tại vùng Thất Sơn, chúng tôi đã làm quen được với anh Ba Hùng, 47 tuổi, ngụ cù lao Tân Phú, An Giang, là người đã từng “thọ ơn” thầy Hai. Anh Hùng kể mình là người ở cù lao Tân Phú nhưng dạt đến tận đây làm nghề bán rau câu dạo, có khi là chạy xe ôm. Trong một lần bất cẩn, anh bị “thư”, ăn uống không được mà bụng cứ trương sình lên, may nhờ thầy Hai cứu giúp, không thì cũng bỏ mạng nơi này.

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013

Lên đỉnh Tà Lơn nghe huyền thoại

SGTT.VN - Một vùng hiểm địa từng được miêu tả: “Ngó dưới sông con cá mập lội dư ngàn, nhìn trên suối sấu nằm như trăm khúc…” đó chính là núi Tà Lơn, một ngọn núi phủ đầy huyền thoại mà hành trình lần này tôi có dịp tìm đến.


Một trong những phiến đá hình chiếc thuyền nằm quanh khu vực chùa Năm Thuyền.

Núi Tà Lơn (Phnom Bokor) thuộc tỉnh Kampot của đất bạn Campuchia là ngọn núi thiêng, gắn liền với rất nhiều những truyền thuyết, huyền thoại, bùa chú cùng những vị đạo sĩ tu luyện bằng nhiều hình thức đầy kỳ bí. Bóng mây huyền bí về Tà Lơn chỉ thực sự tan biến dần khi người Pháp bắt đầu khai phá đỉnh non thiêng này vào năm 1917, xây dựng khu nhà nghỉ, sòng bạc, đi kèm có cả nhà thờ, chùa chiền… mà nay trở thành một phần di sản kỳ thú trên đỉnh Tà Lơn.

Đi như rắn trườn lên Bokor

Sự khai phá của người Pháp biến Bokor trở thành một điểm du lịch nghỉ dưỡng từng một thời đình đám trong giới thượng lưu ở những năm đầu thế kỷ 20, với con đường nối liền từ thị xã Kampot lên đỉnh núi. Tương truyền để khai mở con đường hiểm trở này, người Pháp đã tốn nhiều công của, cộng với những mất mát về nhân công bởi con đường lên đỉnh Bokor bên là vách núi cheo leo, bên là vực sâu hun hút.

Đường lên Bokor nay đã khang trang hơn, từng được các tay lái caravan Việt Nam (nhóm du lịch bằng xe ôtô tự lái) khen nức nở bởi vẻ đẹp đầy quyến rũ, ngoạn mục, những đoạn ngoằn ngoèo như con rắn trườn lên đỉnh cao. Cung đường được cải tạo, làm mới dựa trên trục đường cũ từ thời Pháp xây dựng. Trong hành trình lên đỉnh núi, không khó để nhận ra dấu tích của những cây cầu cổ thời ấy còn khá nguyên vẹn, đang được gia cố và tôn tạo lại để giữ nguyên vẻ đẹp ban đầu, là điểm dừng chân cho du khách tham quan.

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

Thám hiểm thánh địa pháp sư Đông Nam Á ( Đỉnh Tà lơn)

BÀI 1 : Thám hiểm thánh địa pháp sư Đông Nam Á.

Từ xưa, cái tên Tà Lơn trở thành một "thương hiệu uy thế" đối với những người tín ngưỡng huyền thuật ở khu vực Đông Nam Á. Họ tin rằng, những pháp sư có quá trình tu luyện tại núi Tà Lơn mới tài giỏi thật sự. Vì vậy, sau một thời gian dài học pháp thuật nhuần nhuyễn tại quê nhà, những đồ đệ huyền thuật ở các nước này đều khăn gói đổ về núi Tà Lơn, chui vào hang sâu giữa rừng thẳm để… tốt nghiệp cấp đại sư. Không ít người đã bỏ mạng trong quá trình tu luyện tại đây rồi được giới huyền thuật phong "thánh".

PV Chuyên đề ANTG đã "phượt" đến tận đỉnh núi này để tìm hiểu sự thật.

KỲ I: XÂM NHẬP ĐỈNH LỤC SƠN LINH THIÊNG

Điềm chỉ của một pháp sư Việt
Trước khi sang đất bạn thám hiểm thánh địa Tà Lơn, tôi ghé thăm một ông bạn già tên Chín, cư ngụ ở Tri Tôn, An Giang. Trong giới huyền thuật ở miền Tây Nam Bộ, ông Chín được nhiều nhiều người biết tiếng vì ông đã từng sang Tà lơn luyện phép. Ông Chín cũng rất nổi tiếng ở địa phương vì hàng chục lần bị kiểm điểm tội truyền bá mê tín dị đoan. Với ông, phép thuật không thuộc loại "mê tín dị đoan" mà là một "nét văn hóa tâm linh của người xưa truyền lại". Do mải mê luyện bùa, ngải, phép thuật từ nhỏ nên ông không được đến trường học văn hóa. Tất nhiên, ông mù chữ loại nặng.
Dù mù tất cả các loại chữ viết chính thống trên thế giới nhưng ông lại rất rành các loại chữ bùa, từ chữ bùa Pàli đến chữ bùa Phạn, bùa Lèo, bùa Năm Ông, bùa Lục Sơn (chữ Kh'mer cổ)… Ông đã từng hội ngộ với rất nhiều đại pháp sư khu vực Đông Nam Á tại đỉnh núi Tà Lơn. Những lần hội ngộ như vậy, ông và các đại pháp sư khác quốc tịch, dị biệt ngôn ngữ phải nói chuyện với nhau bằng "tiếng bùa" và "bắt ấn quyết" (tức ra dấu).

Trình độ văn hóa của ông Chín là con số không nhưng trình độ về bùa, chú, ngải thì thuộc đẳng cấp "đại sư". Ông Chín khẳng định, ai cũng biết đường lên đỉnh Tà Lơn nhưng đường đến nơi tu luyện của các pháp sư thì chỉ có giới pháp sư thuộc đẳng cấp trung sư mới có quyền biết. Đó là những địa điểm bí ẩn chưa có trên bản đồ. Ông từ chối tháp tùng, mặc dù tôi đề nghị một cái giá bồi dưỡng khá cao. Không chịu đựng nổi sự nài nỉ quyết tâm của tôi, ông đành vẽ một bản sơ đồ kèm lời khuyên: "Chú cứ chạy xe gắn máy qua bển. Đường xe hơi rộng mênh mông nhưng giá thuê rất mắc. Với xe gắn máy, chú có thể luồn lách nhiều chỗ và chủ động thời gian đi".

Tôi quyết định mang xe gắn máy sang đất bạn đề chinh phục đỉnh Tà Lơn.
Ông Chín diễn giải, theo tiếng Kh'mer thì "Tà Lơn" có nghĩa là "Ông thần lớn", tức là vua của các vị thần linh. Đối chiếu với văn hóa tâm linh Việt và tiếng Việt thì "tà" không có nghĩa tương xứng. Một số người cho rằng dịch nghĩa "tà" sang tiếng Việt là "thần hoàng bổn cảnh". Tuy nhiên đối chiếu theo văn hóa tín ngưỡng thì điều này sai biệt rất xa. Với người Kh'mer, ông "Tà" là một pháp sư tài giỏi nhất khu vực. Ông Tà dùng huyền thuật trừng trị bất kỳ ai dám chống lại ông, kể cả dân làng. Nếu ai tuân phục ông Tà sẽ được huyền thuật của ông ta bảo vệ. Ông Tà rất nóng tính và hung dữ.

Còn "thần hoàng bổn cảnh" của người Kh'mer luôn luôn là phụ nữ. Theo truyền thuyết Kh'mer, dãy núi Lục Sơn Tà Lơn do một vị thánh nữ được gọi là Veang Kh'mau "cai quản". Người dân Kh'mer sinh sống dưới chân núi Tà Lơn cho rằng, chủ của đất đai vùng này là hoàng tộc Monivong (quốc vương Campuchia) nhưng khai khẩn vùng này là do một người phụ nữ Việt tên Nàng Mau. Ngày xưa, người dân vùng này chỉ biết hái lượm. Nhờ Nàng Mau dạy trồng lúa nước nên người dân không còn đói kém nữa. Và họ đã tôn người phụ nữ này làm vị thánh đại diện cho lòng nhân ái. Người ta đã xây một bức tượng Veang Kh'mau cao khoảng 20 mét đặt trên đỉnh Bokor.





Ẩn dưới bãi đá là hàng ngàn hang động.

Tiểu sử “thành phố ma”
Dãy núi Tà Lơn gồm 6 ngọn và ngọn chính có cái tên là Phnom Bokor, có nghĩa "Núi voi". Từ năm 2005, Chính phủ Campuchia đã quy hoạch Pokor - một trong 6 ngọn vùng núi hoang sơ này thành khu du lịch: Đền thờ Monivong - Công viên quốc gia Bokor. Đến đầu năm 2011, khu du lịch này mới hoàn tất cơ bản và đưa vào khai thác du lịch tâm linh. Vì thế, muốn vào núi phải mua vé. Giá vé vào "cổng trời" chỉ 2.000 real, tương đương 6.000 VNĐ.

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

Xăm bùa Thái Lan

OZ-Xin giới thiệu với cá bạn một bài viết của anh dienbatn kể về hành trình sang Thái Lan và có cơ duyên được xăm bùa trong bài viết "hành trình đi tìm Bùa Thái Lan", nhằm giúp các bạn có thêm cái nhìn về loại hình nghệ thuật xăm bùa Thái và những huyền bí xung quanh việc xăm bùa.

Nhiều năm trước đây, dienbatn đã nghiên cứu về các loại Bùa Thái và hết sức chú ý đến một lá Bùa Thái có nhiều công năng và cách xăm lên mình kỳ lạ của các vị Đạo sĩ Thái Lan . Vừa qua , nhân có việc của một thân chủ cần dienbatn đến Thái , dienbatn đã có duyên gặp gỡ , chuyện trò với một số Đạo sĩ tại vùng RAYON là một vùng núi , cách PATTAYA khoảng 100 Km . Một duyên lớn nữa đến với dienbatn là được một Đạo sĩ có tên tuổi và là chủ một ngôi đền tại RAYON cùng các sư đệ ban cho chính lá Bùa hằng mơ ước bằng cách xăm kỳ lạ của các Đạo sĩ Thái lên mình dienbatn . Bài viết này chính là để cùng các bạn chia sẻ và tìm hiểu về Bùa - Ngải , cách làm của các Đạo sĩ của Thái Lan mà dienbatn được tiếp xúc .

Đây là lá Bùa mà dienbatn đã quan tâm từ nhiều năm về trước . 

1/ THÀNH PHỐ BIỂN PATTAYA.

Từ Hà Nội , sau gần 2 giờ bay , dienbatn có mặt tại sân bay Thái , cách Băng Cốc vài chục Km .




Từ sân bay , dienbatn đón xe bus máy lạnh đến Thành phố PATTAYA , quãng đường khoảng gần 100 Km . Cảm nhận đầu tiên là người Thái Lan rất mến khách , tận tình , chu đáo và rất biết làm du lịch . Đường phố rất sạch và không khí nơi đây sạch tưởng như không một hạt bụi .

Sau khoảng hơn 2 giờ, chúng tôi có mặt tại Thành phố biển , thành phố du lịch PATTAYA tuyệt đẹp . Đã từng đi nhiều nơi , nhiều thành phố biển của Việt Nam , theo nhận xét của dienbatn , đây có lẽ là thành phố biển đẹp sạch và mến khách nhất mà dienbatn được biết . Mặt tiền của các dãy phố luôn có những tiểu cảnh , cây cối và đồ vật trang trí có tác dụng trong Phong thủy hết sức hài hoà đẹp mắt . Khác với Ban Cốc , ở đây để di chuyển , người ta sử dụng những chiếc xe bán tải ( Pick up ) , cải tạo lại để thay taxi hay xe tuktuk . Đa phần tài xế Taxi và những người bán hàng ở đây đều có thể giao tiếp bằng Anh ngữ , do vậy không quá khó khi sinh hoạt tại thành phố này . Ngày trước , dienbatn có học được một số tiếng của dân tộc Thái Việt và một số tiếng Lào nên có thể dùng tạm được tại thành phố này .

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

Xem tướng trán đoán khả năng trí tuệ

Trán là bộ mặt của thượng đình và có liên quan đến sự phát triển mật thiết của não, do vậy trán biểu thị cho trí tuệ của con người.
Ta coi chiều dài của khuôn mặt là từ giữa hai lông mày tới cằm, độ rộng của trán thông thường là bằng chiều dài này.


Nếu độ rộng của trán lớn hơn chiều dài này thì đó là trán rộng. Ngược lại là trán hẹp.

Chiều cao trung bình của trán bằng một nửa chiều dài của mặt. Nếu chiều cao lớn hơn một nửa chiều dài của mặt thì đó là trán cao, ngược lại là trán thấp.




Trán rộng

Trán rộng mà cao trung bình là những người bị động về mặt trí tuệ.

Trán rộng thấp là người thiếu trí tuệ và có trí nhớ không tốt.

Trán rộng với phần trên bằng phẳng và rộng hơn so với toàn bộ trán là người mơ mộng thiếu thực tế.

Trán cao

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

Thế nào là Cõi Vô Hình ??

OZ-Trích trong tác phẩm "Hành trình về Phương Đông" chương 9, một chương giải nghĩa về Thế giới vô hình.
 
Hamud là một pháp sư có kiến thức rất rộng về cõi vô hình. Khác với những đạo sĩ phái đoàn đã gặp, ông này không phải người Ấn mà là một người Ai Cập. Ông ta sống một mình trong căn nhà nhỏ, xây dựa vào vách núi. Hamud không hề tiếp khách, nhưng trước sự giới thiệu của bác sĩ Kavir, ông bằng lòng tiếp phái đoàn trong một thời gian ngắn. Vị pháp sư có khuôn mặt gầy gò, khắc khổ và một thân hình mảnh khảnh. Ông ta khoác áo choàng rộng và quấn khăn theo kiểu Ai Cập.

Giáo sư Evans-Wentz vào đề:

- Chúng tôi được biết ông chuyên nghiên cứu các hiện tượng huyền bí…

Pháp sư thản nhiên:

- Đúng thế, tôi chuyên nghiên cứu về cõi vô hình.

- Như thế ông tin rằng có ma…

Vị pháp sư nói bằng một giọng chắc chắn, quả quyết:

- Đó là một sự thật không những ma quỷ hiện hữu mà chúng còn là đối tượng nghiên cứu của tôi.

- Bằng cớ nào ông tin rằng ma quỷ có thật?

- Khắp nơi trên thế giới đều có các giai thoại về ma, vì con người thường sợ hãi cái gì mà họ không thể nhận thức bằng các giác quan thông thường nên họ đã phủ nhận nó. Sự phủ nhận này mang đến niềm sợ hãi. Từ đó họ thêu dệt các giai thoại rùng rợn, ly kỳ, không đúng sự thật. Nếu chúng ta chấp nhận ma quỷ hiện hữu như một con voi hay con ngựa thì có lẽ ta sẽ không còn sợ hãi. Các ông đòi hỏi một chứng minh cụ thể chăng?

- Dĩ nhiên, chúng tôi cần một bằng chứng hiển nhiên …

- Được lắm, các ông hãy nhìn đây.

Vị pháp sư mở ngăn kéo lấy ra một cặp que đan áo, một bó len và mang ra góc phòng để xuống đất. Ông ta thong thả:

- Chúng ta tiếp tục nói chuyện, rồi các ông sẽ thấy.

Mọi người ngơ ngác, không hiểu ông muốn nói gì, giáo sư Mortimer nóng nảy:

- Nếu ông nghiên cứu về cõi vô hình, xin ông giải thích về quan niệm thiên đàng, địa ngục cũng như đời sống sau khi chết ra sao?

Vị pháp sư nghiêm giọng:

- Đó là một quan niệm không đúng, sự chết chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp chứ không phải là hết. Vũ trụ có rất nhiều cõi giới, chứ không phải chỉ có một cõi này.

Khi chết ta bước qua cõi trung giới và cõi này gồm có bảy cảnh khác nhau. Mỗi cảnh được cấu tạo bằng những nguyên tử rất thanh mà ta gọi là “dĩ thái”. Tùy theo sự rung động khác nhau mà mỗi cảnh giới một khác. Tùy theo vía con người có sự rung động thanh cao hay chậm đặc, mà mỗi người thích hợp với một cảnh giới, đây là hiện tượng “đồng thanh tương ứng” mà thôi. Khi vừa chết, thể chất cấu tạo cái vía được sắp xếp lại, lớp thanh nhẹ nằm trong và lớp nặng trọc bọc phía ngoài, điều này cũng giống như một người mặc nhiều áo khác nhau vào mùa lạnh, áo lót mặc ở trong, áo choàng dầy khoác ngoài. Vì lớp vỏ bọc bên ngoài cấu tạo bằng nguyên tử rung động chậm và nặng nề, nó thích hợp với các cảnh giới tương ứng ở cõi âm, và con người sẽ đến với cảnh giới này. Sau khi ở đây một thời gian, lớp vỏ bao bọc bên ngoài dần dần tan rã giống như con người trút bỏ áo khoác bên ngoài ra, tùy theo các lớp nguyên tử bên trong mà họ thích ứng với một cảnh giới khác. Cứ như thế, theo thời gian, khi các áp lực vật chất tan rã hết thì con người tuần tự tiến lên những cảnh giới cao hơn. Điều này cũng giống như một quả bóng bay bị cột vào đó những bao cát; mỗi lần cởi bỏ được một bao thì quả bóng lại bay cao hơn một chút cho đến khi không còn bao cát nào, thì nó sẽ tự do bay bổng. Trong bảy cảnh giới của cõi âm, thì cảnh thứ bảy có rung động nặng nề, âm u nhất, nó là nơi chứa các vong linh bất hảo, những kẻ sát nhân, người mổ sẻ súc vật, những cặn bả xã hội, những kẻ tư tưởng xấu xa, còn đầy thú tánh. Vì ở cõi âm, không có thể xác, hình dáng thường biến đổi theo tư tưởng nên những kẻ thú tánh mạnh mẽ thường mang các hình dáng rất ghê rợn, nửa người, nửa thú. Những người thiếu kiến thức rõ rệt về cõi này cho rằng đó là những quỷ sứ. Điều này cũng không sai sự thật bao nhiêu vì đa số những vong linh này luôn oán hận, ham muốn, thù hằn và thường tìm cách trở về cõi trần. Tùy theo dục vọng riêng tư mà chúng tụ tập quanh các nơi thích ứng, dĩ nhiên người cõi trần không nhìn thấy chúng được. Những loài ma đói khát quanh quẩn bên các chốn trà đình tửu quán, các nơi mổ sẻ thú vật để tìm những rung động theo những khoái lạc vật chất tại đây. Khi một người ăn uống ngon lành họ có các rung động, khoái lạc và loài mà tìm cách hưởng thụ theo tư tưởng này. Đôi khi chúng cũng tìm cách ảnh hưởng, xúi dục con người nếu họ có tinh thần yếu đuối, non nớt. Những loài ma dục tình thì quanh quẩn nơi buôn hương bán phấn, rung động theo những khoái lạc của người chốn đó, và tìm cách ảnh hưởng họ. Nếu người sống sử dụng rượu, các chất kích thích thì ngay trong giây phút mà họ không còn tự chủ được nữa, các loài ma tìm cách nhập vào trong thoáng giây để hưởng một chút khoái lạc vật chất dư thừa. Vì không được thỏa mãn nên theo thời gian các dục vọng cũng giảm dần, các nguyên tử nặng trọc cũng tan theo, vong linh sẽ có các rung động thích hợp với một cảnh giới cao hơn và y sẽ thăng lên cõi giới tương ứng. Dĩ nhiên, một người có đời sống trong sạch, tinh khiết sẽ không lưu ở cõi này, mà thức tỉnh ở một cõi giới tương ứng khác. Tùy theo lối sống, tư tưởng khi ta còn ở cõi trần mà khi chết ta sẽ đến những cảnh giới tương đồng, đây chính là định luật “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”.

Toàn thể phái đoàn im lặng nhìn nhau, vị pháp sư Ai cập đã diễn tả bằng những danh từ hết sức khoa học, chính xác, chứ không mơ hồ, viễn vông. Dù sao đây vẫn là một lý thuyết rất hay, nhưng chưa chứng minh được. Có thể đó là một giả thuyết của những dân tộc nhiều tưởng tượng như người Á châu chăng?

Kỳ thú Hải Vân Sơn

(Kienthuc.net.vn) - "Bức trường thành" giữa đất cố đô Huế và thành phố đáng sống nhất nước ta - Đà Nẵng là đèo Hải Vân nổi tiếng.

"Vách ngăn" trời đất cắt ngang dãy Bạch Mã tuy không có gì lạ với lữ khách gần xa nhưng những bí mật kỳ thú của truyền thuyết lẫn với di tích còn lại không phải là điều dễ bóc tách.
Nếu đơn thuần vượt qua đèo Hải Vân để nhìn xuống hai bờ, một bên biển lặng một bên núi đá và thảng hoặc nhận lãnh cái cảm giác mát lạnh khác biệt của thời tiết thì không lấy gì làm khó. Hải Vân từng chứa đựng biết bao bí mật chính trị lẫn văn hóa đất cố đô và Chămpa tạo nên một huyền tích lạ.



Đệ nhất hùng quan nhìn từ xa.

Sính lễ Ô - Rí
Trước khi vượt đèo Hải Vân, chúng tôi nán lại trong một cái chòi nhỏ dưới chân đèo uống loại trà cung đình của Huế. Chút "trà dư" mà bất ngờ vì chủ quán, một cụ già lưng còng khiến chòm râu cứ như muốn quét đất, nhưng bất ngờ hơn khi biết cụ là hậu duệ vua Nguyễn. Cụ là Nguyễn Tử Nhạc từng làm việc trong Viện Viễn Đông Bác Cổ thời những năm 1957 khi Viện phải rời Hà Nội sang Campuchia.
Thế nên, lịch sử và chuyện dân gian về Hải Vân Sơn cụ rành lắm. Cụ Nhạc cứ tiếc nuối mãi khi dự án hầm Hải Vân được đánh giá là dài nhất Đông Nam Á được xây dựng. Chẳng biết lý do khiến cụ tiếc nuối là gì nhưng cụ Nhạc bảo, cái thế phong - thủy - sơn của đất này bị vỡ bởi đường hầm. Theo lời cụ Nhạc, đèo Hải Vân giờ chẳng mấy ai qua, gần như kỳ quan đã bị quên lãng.



Lô cốt thời Pháp thuộc trên đỉnh đèo Hải Vân.

Theo hiểu biết khi cụ Nhạc làm trong Viện Viễn Đông Bác Cổ thì cái tên Hải Vân là tên mới, chứ tên cũ là Ải Vân hoặc đèo Mây vì quanh năm mây phủ. Đèo dài đúng 20 cây số và là mảnh đất đẹp nhất của đất Ô - Rí xưa.
Giọng khàn đặc cứ nhịp điệu chầm chậm, cụ Nhạc kể: Đèo Hải Vân ngày trước thuộc hai châu Ô và Rí của Vương quốc Chămpa. Khi vua Chămpa tên là Chế Mẫn mê mẩn công chúa Huyền Trân thì mới cắt đất và biến Hải Vân thành ranh giới hai nước từ năm 1306. Ngày xưa, người địa phương gọi Hải Vân là sính lễ Ô - Rí.
Đường quốc lộ 1A đoạn qua Hải Vân cũng có cái tên khác là đường Cái Quan. Dân hai vùng hầu như không dám sống gần đèo Hải Vân vì thời đó, khu vực này rất phức tạp bởi những nhóm phỉ chuyên đi cướp bóc. Và hơn thế nữa là thú dữ như hổ báo nhiều vô kể. Mãi đến thời Pháp thuộc, khi đường sắt được xây dựng chạy qua thì người dân mới dám đến lập nghiệp.



Cận cảnh đệ nhất hùng quan.