Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch online. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch online. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011

Bí ẩn pho tượng Đức ông ở chùa Bộc

Pho tượng Đức Ông chùa Bộc không được làm từ chất liệu gì quý báu hay đạt đến mức độ tinh xảo về nghệ thuật chạm khắc. Nhưng bản thân sự tồn tại của nó chứa đựng những điều bí ẩn thật thú vị.

Pho tượng vua Quang Trung cùng quần thần ngày nay đã được công khai đề tên nhưng xưa kia người dân gọi đây là tượng đức ông để che mắt triều đình.
Trong tòa tam bảo ngôi chùa ngoài thờ phật thì có một ban thờ Đức Ông ở phía bên phải. Nhưng khác với thông thường, tượng đức ông ở đây không chỉ có một mà có đến 3 pho. Trong đó tượng đức ông to hơn, ngồi cao hơn một bậc, ở bậc dưới có hai người ngồi. Trông toàn cảnh thấy như ba người đang ngồi bàn việc.

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2011

Ngôi Đền thiêng và rừng lim ngàn tuổi

GiadinhNet - Không ai dám xâm phạm ngôi đền cũng như có ý định chặt lim, kể cả nhặt củi khô về đun.
Hàng bao đời nay, ý thức bảo vệ ngôi đền linh thiêng và rừng lim di sản đã ăn sâu vào tâm khảm người dân nơi đây.
Đền Cao cổ kính và thâm nghiêm
Gắn với di tích lịch sử đền Cao (toạ lạc tại núi Thiên Bồng, thôn Đại, xã An Lạc, thị xã Chí Linh, Hải Dương) có cách nay hàng nghìn năm, ngày 25/2, rừng lim cổ gồm 54 cây đã được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam tổ chức công nhận là Cây di sản Việt Nam. Theo đó, những huyền tích tâm linh kỳ bí về ngôi đền 1030 tuổi và "rừng lim di sản" được hé mở...

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2011

Lời nguyền... ở chùa không sư

Chuyện rằng, khi Thiền sư Không Lộ dựng nên chùa, dân chúng nơi đây không mấy mặn mà với đạo phật và khói nhang, tượng phật. Thuở đó, Đức Thánh tổ nổi giận trừng phạt dân gian. Trong một đêm mưa gió bão bùng, Đức Thánh đan không biết bao nhiêu rọ tre, cho tất cả tượng phật vào đó.

Rồi ngài ngả nón làm thuyền vượt sông Hồng sang đất Thái Bình. Và tất cả tượng phật, cái gì liên quan đến nhà phật cũng xuôi theo dòng nước, theo ngài về nơi đất mới. Đến giữa sông, ngài ngoảnh cổ lại và nói một lời nguyền rằng sẽ không có vị sư nào đến ở ngôi chùa trên... Cho đến tận bây giờ, chẳng sư nào trụ lại được ở ngôi chùa này, làm cho tích chuyện thêm phần kỳ bí... Ngôi chùa bề thế đó, có độ tuổi đến vài trăm năm, rêu phong và cổ kính nhất nhì miền Bắc, thế nhưng lại không có bóng dáng của áo thâm, nón tu-lờ - chùa không có sư ở, có vẻ lạ ở trên đời ấy là chùa Keo Hành Thiện, thuộc huyện Xuân Trường, Nam Định.

Người giữ... “lời nguyền”

Chúng tôi đến thăm chùa không sư vào tờ mờ sáng, khi chưa có khách hành hương về đất phật. Nhìn ngắm ngôi chùa trong sương sớm, lại ngược thời gian nghe huyền thoại, chợt xao lòng, thấy ngôi chùa thêm bao phần kỳ bí mà chưa ai rõ thực hư của vấn đề. Ông Thủ từ Nguyễn Trường Lý từ trong xóm nhỏ đi ra, từ tốn mở cánh cửa lim nặng nề. Một không gian chùa qua 400 năm đang được “cách ly” với bên ngoài bỗng vỡ òa trong chốc lát, tượng phật, màu ngói rệu rã rêu phong như làm sửng sốt cho những người lạ chúng tôi.

Thứ Ba, 1 tháng 3, 2011

Bí ẩn đầm 99 ngách

Móng vuốt của rùa khổng lồ thì cực sắc và nó đào ổ cực khỏe. Có nhiều chỗ đất đá sỏi gan trâu, cứng như thép, cuốc bổ quằn lưỡi, thế nhưng rùa vẫn bò lên đào ổ tung tóe. Chiều rộng của ổ thường bằng thân rùa, chiều sâu chừng 40cm
 
Bày tỏ việc muốn tìm hiểu về loài giải khổng lồ ở đầm Minh Quân, ai cũng chỉ tôi gặp ông Trần Trọng Dần, sống ngay cạnh cái đầm khổng lồ này.

Loanh quanh dọc mấy bờ ruộng, rồi tôi cũng tìm được ông Dần, khi ông đang chèo chiếc thuyền nhỏ ở ven bờ đầm để thả lưới bắt cá. Khi hỏi về rùa khổng lồ, ông Dần bảo: “Các anh gặp đúng người rồi đấy. 80 tuổi đời, 65 năm sống nhờ cái đầm này, lại lấy vợ là người ở cù lao giữa đầm, nên chả có ngóc ngách, hang hốc, củ tỉ cù tì gì dưới cái đầm này tôi không biết cả”.

80 tuổi với 65 năm đánh cá trên đầm, ông Dần là người hiểu từng luồng lạch đầm Minh Quân. 

Nói rồi, ông Dần dẫn tôi vào căn nhà tồi tàn ngay dưới chân đập đầm Minh Quân và chỉ vào hình một con rùa to nhất trong tấm giấy khổ lớn vẽ hình các loài rùa ở Việt Nam, bảo: “Có phải anh hỏi con này không? Nó giống hệt con này, có nhiều ở đầm lắm”. Phía dưới hình con rùa mà ông Dần chỉ có dòng chữ Rafetus swinhoei.

“Anh Nguyễn Xuân Thuận tặng tôi tấm tranh vẽ rùa này và bảo đây là rùa Hồ Gươm. Anh ấy còn cho tôi xem rất nhiều ảnh chụp rùa Hồ Gươm, nên tôi chắc chắn con này có rất nhiều ở đầm, quê tôi gọi nó là con giải” – ông Dần khẳng định như đinh đóng cột. Nguyễn Xuân Thuận là điều phối viên của Chương trình rùa Việt Nam, thuộc Chương trình rùa châu Á.

Thứ Tư, 6 tháng 10, 2010

Hà Nội: Thăm bảo tháp có 108 pho tượng

Chùa Bằng có tên chữ là Linh Tiên Phúc, vốn là một ngôi chùa cổ nằm ven bờ sông Tô Lịch thuộc phường Phương Liệt, quận Hoàng Mai (Hà Nội), tiếp giáp khu đô thị mới Linh Đàm ngày nay.
Vùng đất này vốn là quê hương và đạo tràng dạy học của nhà giáo lỗi lạc Chu Văn An với sự tích Đầm Mực và thần Thuồng Luồng huyền bí.
Trải qua hàng trăm năm, ngôi chùa gần như bị chìm vào quên lãng. Mấy năm gần đây, vị sư trụ trì của chùa hiện nay là thượng tọa Thích Bảo Nghiêm được sự giúp của hòa thượng Thích Trí Quảng và chúng sinh công đức đã tiến hành trùng tu và mở rộng chùa.
Chùa Bằng có một cảnh sắc và không gian thanh tịnh, đậm chất Phật giáo. Bao quanh chùa là những vườn cây nhãn cổ thụ, đặc biệt là cây mít 300 năm tuổi. Nhìn từ xa chúng ta có thể nhận thấy ngôi bảo tháp Phật thâm nghiêm, sừng sững 13 tầng vút lên trời xanh.
Theo vị thượng tọa trụ trì ở đây, năm 2002 chùa Bằng bắt đầu khởi công trùng tu và xây dựng bảo tháp Phật cao 13 tầng (tháp cao 45m tính từ chân lên đến ngọn). Trên mỗi tầng tháp đặt tám pho tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng đồng quay ra tám hướng.
Như vậy tất cả bảo tháp chứa đến 104 pho tượng đồng lớn, nhỏ cùng bốn pho tượng Thiên Vương (tổng cộng 108 pho). Mỗi pho tượng lớn nhất, nặng nhất đặt ở tầng 1 đều có trọng lượng tới 700kg. Với những pho tượng trên tầng 13 nặng 60-70kg. Tất cả pho tượng này đều được đúc ngay tại chùa.
Tám cột trụ bằng đá ở dưới chân bảo tháp được làm bằng đánh xanh và có đường kính lên tới 1m, với hình rồng phượng uốn lượn. Ngay phía ngoài chân tháp có thêm tượng 4 vị Thiên Vương cũng được làm bằng đá. Có thể nói bảo tháp Phật ở chùa Bằng hiện nay thuộc vào loại cao và lớn nhất trong các tháp Phật ở nước ta.
Hiện nay bảo tháp đã hoàn thành và sẽ là công trình Phật giáo tiêu biểu mừng đại lễ 1.000 năm Thăng Long -Hà Nội.
Ngoài bảo tháp Phật, chùa Bằng cũng đang lưu giữ một số báu vật quý như: bộ đôi khánh đồng rất lớn cùng chiếc chuông đồng cổ treo trên gác trước cổng. Ngoài ra chạy dọc hai bên tả, hữu ngôi chùa có vườn tượng 18 vị la hán bằng đá, tượng Quan Thế Âm bồ tát, tượng Phật bằng đá cẩm thạch…
Trông từ xa ta đã thấy bảo tháp oai nghiêm vút lên trời xanh
Tượng Thiên Vương bằng đá dưới chân bảo tháp

Bí ẩn Thiên Cẩm Sơn

Ông Ba Lưới tên thật là Nguyễn Văn Y, quê ở Chợ Mới (An Giang). Năm 18 tuổi bỏ nhà lên núi một mình. Ông có thời gian 15 năm lập am tu trên núi, nơi cách nhà ông đang ở bây giờ vài trăm thước. Con đường lên núi Cấm ngày xưa rất khó khăn, u tịch, bốn bề cây cối um tùm chắn lối. Hình như không ai biết gì về cuộc sống, con người ngoài những câu chuyện huyền bí loan truyền trong dân gian. Đến khi cụ Nguyễn Văn Hầu khảo biên cuốn "Nửa tháng trong miền Thất Sơn và Thất Sơn mầu nhiệm" thì thiên hạ mới biết chút ít về vùng rừng núi huyền bí này.
Núi Cấm (còn gọi là Thiên Cẩm Sơn, thuộc xã An Hảo, huyện Tịnh Biên - An Giang) là ngọn núi cao nhất trong dãy Thất Sơn. Nơi đây, năm xưa Nguyễn Ánh (vua Gia Long) chạy trốn sự truy nã của nhà Tây Sơn đã trú ẩn trước khi chạy ra đảo Phú Quốc. Một số cấm vệ quân đã ở lại lập ra môn phái võ Thất Sơn lưu truyền đến ngày nay. Núi Cấm còn là nơi các nghĩa quân, chí sĩ yêu nước khởi nghĩa chống Pháp thất bại lui về đây ở ẩn, tu hành như  Cao Văn Do (Bảy Do), cháu ruột của anh hùng Thủ Khoa Huân, người lập nên chùa Phật Lớn ngày nay.
Ly kỳ chuyện tượng Phật phát quang (Kỳ 1), Tin tức trong ngày, đạo sĩ, tượng phật, thuốc nam, tu hành, núi Cấm, rừng núi, thú dữ, An Giang
Đạo sĩ Ba Lưới, nhân chứng sống về những câu chuyện Thiên Cẩm Sơn bí ẩn và huyền thoại
Theo lời đạo sĩ Ba Lưới, ngày trước, muốn tồn tại trên núi Cấm phải có gan liều, phải giỏi võ nghệ. Phải chống chọi với thú dữ trong rừng như: cọp, hùm beo, mãng xà, rắn độc... Câu chuyện chưa được kiểm chứng qua lời kể của ông Ba Lưới khiến người ta nghĩ tới núi Cấm vẫn còn tồn đọng bao sự huyền bí, ly kì đến tận bây giờ vẫn còn là sự tò mò, muốn khám phá. Đó là vào một bữa trưa, trên đường bán thuốc nam ở dưới Châu Đốc, chàng thanh niên Ba Lưới trong lúc gánh nặng lương thực vượt đường lên núi về am thì gặp một con rắn hổ mây to đến vài chục ký, nằm chắn ngang đường. Nhìn ông, con rắn ngọ nguậy, mở cặp mắt đỏ trừng trừng, thở khè khè, phùng mang chờ chực tấn công ông. Ba Lưới bình tĩnh hạ giỏ lương thực xuống, rút đòn gánh, ra thế tấn thủ, quan sát chóp đuôi con rắn di chuyển và bất ngờ tung đòn hiểm tấn công dũng mãnh vào cổ rắn. Cuộc đấu giữa người và mãnh thú khá lâu mới hạ hồi kết thúc. Ba Lưới đã hạ gục được con hổ mây chúa với người túa mồ hôi, bở hơi tai với cây đòn gánh gãy làm đôi…

Thứ Bảy, 2 tháng 10, 2010

Nơi Chiếu dời đô ban xuống

TTCT - Khởi đi từ Hoa Lư, Thiên đô chiếu của vua Lý Công Uẩn đã mở ra một Thăng Long văn hiến, hào hoa nay nghìn năm tuổi.
Trong lòng dân Hoa Lư ở lại vùng đất xưa - nơi vị hoàng đế đầu tiên của nước Việt chọn làm kinh đô, nghìn năm ấy vẫn đọng lại không ít nỗi niềm...
Đường làng, ngõ xóm ở thôn Tam Kỳ - Ảnh: Hà Châu
Dân về đám giỗ vua Đinh
Sáng 15-8 âm lịch (22-9-2010), tại khu di tích đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng (xã Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình) diễn ra một “buổi chầu” của rất nhiều đại thần cùng các nữ quan và cung tần. Với mâm lễ gồm xôi, thủ lợn, hương oản, hoa quả... các vị đại thần thành kính dâng lên vua Đinh những sản vật của quê hương, bày tỏ tấc lòng thành của con dân Cồ Việt quốc.
“Năm nào cũng vậy, đến ngày này chúng tôi đều làm giỗ tưởng nhớ ngài - một người con của đất Ninh Bình, cũng để tưởng nhớ đến kinh đô của nước Đại Cồ Việt - một phụ nữ trong vai nữ quan cho biết - Con dân của đất cố đô chưa khi nào nguôi nỗi nhớ về đức tiên hoàng đã có công dẹp loạn 12 sứ quân, xây dựng một kinh đô tráng lệ tại đất Trường Yên này”. Phía trước cổng đền, một công trường rộng lớn ngổn ngang chuẩn bị sân khấu cho nghi lễ rước Chiếu dời đô vào tối 30-9 và sáng 1-10.
Hòa trong đoàn người áo mão chỉnh tề dâng lễ có rất nhiều người dân trong vùng. Anh Nguyễn Văn Lịch, một người buôn bán nhỏ ở thôn Nam, nói: “Tôi xem tivi thì biết ở ngoài kia (Hà Nội) đang tổ chức kỷ niệm 1.000 năm vua Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư đến Thăng Long, còn ở đây hôm nay chúng tôi về giỗ vua Đinh, tưởng nhớ ông, không có ông thì không có Hoa Lư”.
Mâm cúng được dâng tại đền Đinh xong, những người tham dự sang chiêm bái ở đền thờ vua Lê và nhà bia tưởng niệm vua Lý Thái Tổ ở ngay bến sông Sào Khê - nơi vua Lý đã ban Chiếu dời đô rồi bước xuống thuyền rồng ngược dòng Sào Khê đến Hoàng Long, về Thăng Long dựng kinh đô mới.
Một ngôi nhà có tường rào đá ở thôn Tam Kỳ - Ảnh: Hà Châu
Cố đô, cầu cổ và chùa cổ
Hình như chưa ai đặt câu chuyện phố cổ tại Trường Yên, nhưng theo những người dân thì sau khi vua Lý đi, dân đã vào thành nội sinh sống. Đại Việt sử ký toàn thư kể lại sau khi vua dời đô ra Đại La thành thì: “Đổi châu Cổ Pháp gọi là phủ Thiên Đức, thành Hoa Lư gọi là phủ Trường Yên”.
Dân tràn vào thành nội sinh sống, nên phủ Trường Yên rất đông đúc từ thế kỷ 11. Xã Trường Yên nay còn các địa danh gắn với kinh thành: thôn Tây, thôn Nam, thôn Đông, thôn Tam Kỳ... Trải qua gần 1.000 năm nhưng may mắn chỉ chịu biến động về thời gian, ít chịu biến động về thiên tai, địch họa nên những nếp nhà xưa, những dòng họ vẫn sống tiếp nối từ đời này qua đời khác.
Dấu tích của người xưa còn lại nơi những cổng đá, bờ rào đá, vỉa hè đá, sân làm bằng đá nguyên khối mà không ai nhớ, không tài liệu nào ghi chép niên đại. Những đường xương cá, phố bàn cờ, những ngôi nhà san sát chứng tỏ sự thịnh vượng của một triều đại với những người dân Việt gốc của các dòng họ Nguyễn, Lê, Trần, Dương, Ngô...
Cột đá Nhất Trụ được Nam Việt Vương Đinh Liễn (con trai trưởng của Đinh Tiên Hoàng) cho làm để chép kinh và được đặt ở nhiều nơi, trong đó có cột đá lớn nhất để tại chùa Nhất Trụ nay vẫn còn. Sư thầy Thích Đàm An, trụ trì chùa Nhất Trụ, cho biết 30 năm trước khi thầy về đây trụ trì thì chiếc hồ lô trên đỉnh cùng đài sen bị vỡ vì những năm chiến tranh trước đó, nhưng chữ khắc trên cột đá Nhất Trụ vẫn còn đọc được (Bảo tàng tỉnh Ninh Bình đã in và dịch bản kinh này).
Từ bấy đến nay, thời gian đã khiến những hàng chữ trên cột bị mờ gần hết. Trong những lần khảo cổ cách đây không lâu, mấy chục cột đá chép kinh đã được tìm thấy ở rải rác những nơi khác trên đất Ninh Bình (hiện đều để trong bảo tàng tỉnh).
Di tích cố đô nay là chốn mưu sinh cho không ít dân Trường Yên, những nông dân xưa chỉ biết làm ruộng, nay vật đổi sao dời, khi 40% diện tích đất nông nghiệp ở đây đã chuyển đổi, họ bắt đầu làm nghề dịch vụ: xe ôm, bán hàng, thậm chí cho thuê trâu để khách du lịch chụp ảnh. Những lái xe ôm như anh Hội thường kiêm luôn hướng dẫn viên chở khách đến các địa điểm khác của khu cố cung, từ chùa Nhất Trụ sang Cầu Đông, Cầu Dền, đền thờ công chúa Phất Kim...
Hôm chúng tôi tới, khu du lịch vắng vẻ, những quả dứa nhỏ xíu của người bán hàng rong héo quắt do “ít khách du lịch nên không có người mua”. Bên cạnh mấy người bán hàng là một con trâu được đeo nơ đỏ trên đầu: “Trâu của vua Đinh đấy, 10.000 đồng/lần chụp ảnh”.
Anh Lịch, một lái xe ôm khác ở thôn Nam, khi chia tay đã nói: “Việc dời đô của vua Lý là hoàn toàn sáng suốt. Vì khi đặt kinh đô ở đây, vua Đinh đã đặt việc binh lên trên, lấy núi làm thành, lấy sông làm hào.
Trải qua mấy chục năm khẳng định chủ quyền, khi vua Lý tiếp nhận vương triều thì ông nhận thấy cần phải phát triển cả văn hóa, kinh tế và chính trị. Nếu vua Lý không dời đô thì sẽ có vua khác dời đô thôi. Nhưng dù nơi đây không còn là kinh đô nữa thì chúng tôi vẫn tự hào vì được sinh ra ở nơi vua đã sinh sống”.
Dâng cúng vua Đinh xong, dân sang chiêm bái ở đền thờ vua Lê - Ảnh: Hà Châu

Những cái tên làm nên hồn phố

TTCT - Đằng sau quyết định dời đô 1.000 năm trước của vua Lý Thái Tổ không chỉ là việc chuyển kinh thành từ một nơi chật hẹp, hiểm trở đến chốn “rồng cuộn, hổ ngồi, muôn đời là thắng địa”, mà còn là sự dịch chuyển của rất nhiều con người, số phận, thói quen, cả những địa danh...
Bia đá Đông Kiều tạc thẳng vào vách Núi Chợ đã bị nhà dân che lấp - Ảnh: Việt Dũng
Nghìn năm dâu bể qua đi, những tên người, những số phận đã chìm khuất, nhưng những địa danh như Ô Cầu Dền, Cầu Đông, chùa Nhất Trụ (Một Cột)... nay vẫn “tươi thắm”, vẫn thủy chung đứng đó trên đất Hoa Lư cố đô xưa.
Bà già đi chợ Cầu Đông...
Cầu Đông dù không còn bằng đá, nay vẫn bắc qua dòng Sào Khê, sách thời Nguyễn gọi là Long Giang, nhưng tấm bia tạc vào sườn núi đá hai chữ Đông Kiều lại “ẩn cư” cách đó chừng 70m. Anh Nguyễn Văn Khang, một người nghiên cứu lâu năm về Hoa Lư, năn nỉ mãi mới được cho mở cửa một căn nhà quanh năm đóng im ỉm, vòng ra sau nhà, leo lên sân thượng, sững sờ nhìn lên hai chữ Đông Kiều chân phương, rắn rỏi, sắc nét tạc trên vách đá như chưa hề có dấu vết thời gian.

Thứ Ba, 7 tháng 9, 2010

CÂU ĐỐI, HOÀNH PHI VÀ ĐỀ TỰ Ở ĐỀN NGỌC SƠN

Đền Ngọc Sơn, một di tích nổi tiếng ngay tại trung tâm thủ đô Hà Nội, có một giá trị đặc biệt do nằm trong Hồ Gươm, một danh thắng đồng thời là di tích lịch sử.
Hồ xưa rất rộng, là một khúc sông Nhị còn lưu lại trên đất liền, sau khi sông đổi dòng, và có những con đê đắp lên để ngăn chặn lụt lội, bảo vệ cuộc sống cùng tài sản con người ở ven sông.
Theo sách La Thành cổ tích vịnh của Trần Bá Lãm (1757 - 1815), hồ từng là nơi tập thủy quân dưới triều Trần, nên có tên là Đầm Thủy Quân. Lại theo sách Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú (1782 - 1840), Lê Thái Tổ một hôm dạo chơi trên hồ, có con rùa lớn nổi lên, vua cầm gươm chỉ, rùa liền đớp lấy gươm lặn xuống nước, nên có tên là Hồ Hoàn Kiếm (Hồ trả lại thanh gươm vua được thần trao cho để đánh đuổi quân Minh xâm lược), gọi tắt là Kiếm Hồ (Hồ Gươm).
Sang thời Lê Trung Hưng, sau khi Chúa Trịnh lập phủ chúa ở phía Nam Tháp Báo Thiên (khu vực phố Nhà Chung hiện nay), một con đường đã được đắp từ Cửa Nam thành tới lầu Ngũ Long (khoảng Viện Bảo tàng lịch sử hiện nay), chia hồ thành 2 phần: nửa bên trái là Tả Vọng, nửa bên phải là Hữu Vọng (“Vọng” ở đây có nghĩa là nhìn về phủ chúa). Hồ Hữu Vọng về sau bị lấp dần, dấu vết còn lại là phố Vọng Đức (tên một thôn của thế kỷ XIX, do 2 thôn Hữu Vọng và Đức Bác hợp nhất mà thành). Còn Hồ Tả Vọng tức phần Hồ Gươm còn lại đến ngày nay.
Phía tây bắc Hồ Tả Vọng có một gò đất tên là Tượng Nhĩ Sơn (núi tai voi). Lý Thái Tổ sau khi định đô ở Thăng Long (1010) đổi tên gò là Ngọc Tượng Sơn (núi Voi Ngọc), và tới đời Trần, gọi tắt là Ngọc Sơn (núi Ngọc). Lúc này trên gò đảo đã có một ngôi chùa nhỏ, nhưng lâu ngày thành xiêu vẹo. Đến đời Lê Vĩnh Hựu (1735 - 1739), chúa Trịnh Giang dựng lên cung Khánh Thụy ở đây và đắp hai quả núi phía đông, đối diện với Ngọc Sơn, gọi là Ngọc Bội và Đào Tai để kỷ niệm chiến thắng năm 1751 của Trịnh Doanh bắt được Nguyễn Danh Phương, một lãnh tụ nông dân khởi nghĩa.

Thứ Hai, 16 tháng 8, 2010

Đền Cuông, Thành Hồ và Chùa Bái Đính

Ra khỏi thành Vinh chừng 30 km thì gặp Đền Cuông. Cổng đền sát rạt đường quốc lộ.
          Nằm trên núi Mộ Dạ, một ngọn núi thuộc dãy Đại Hải, thuộc phần đất xã Diễn Trung, huyện Diễn Châu, Nghệ An, là khu đền thờ Thục Phán An Dương Vương. Tương truyền sau khi chém Mỵ Châu, An Dương Vương đã phi ngựa lên đỉnh núi Mộ Dạ này, cởi vứt áo mũ, gỡ cờ, tháo kiếm và yên ngựa rồi ném tung ra bốn phía. Kỳ lạ thay, tất cả những thứ bị ngài vứt ném liền biến thành 5 ngọn núi có hình thù tựa như cái mũ, cây kiếm, chiếc vành khăn v.v… châu tuần quanh núi Mộ Dạ.
          Trước khi gieo mình xuống biển, Thục Phán còn tức giận đạp chân trên sườn núi. Vết chân Thục Phán hằn lại thành một phiến đá phẳng giống hình một bàn cờ tướng. Và thi thoảng, những người dân đi biển nhìn lên vẫn thấy xuất hiện hình bóng An Dương Vương cùng thần Kim Quy ngồi đánh cờ.
          Cứ tưởng đền thiêng sát đường chắc nhiều khách viếng. Nhưng lạ quá, toàn khu đền vắng tanh, không một bóng người, ngoại trừ 3 gã chúng tôi.
          Rời Đền Cuông. Đến phiên đổi tài. Phạm Xuân Nguyên ôm vô lăng. Tôi bật ngửa ghế định tranh thủ chợp mắt tí nhưng không yên, thi thoảng lại nhổm dậy ngoái ra sau. Alec ngạc nhiên hỏi “anh Nhất nhìn cái gì phía sau xe vậy?”. Tôi cười: đề phòng xem có kẻ nào rải lông ngỗng không?

Đền Cuông
          Một đêm dừng tại Thanh Hóa. Uống ít nhưng ngủ ngon.

Thứ Năm, 12 tháng 8, 2010

Chùa Bát Tháp, kiến trúc đẹp của thành Thăng Long

Archi - Chùa Bát Tháp, kiến trúc đẹp của thành Thăng Long
Từ trung tâm bưu điện Bờ Hồ, theo đường Tràng Thi, tới cửa Nam đi thẳng đường Điện Biên Phủ đến phố Lê Hồng Phong, xuôi về phố Ông Ích Khiêm nối với phố Đội Cấn đi tiếp qua ngã ba Đội Cấn - Giang Văn Minh khoảng 400m ta thấy bên phải đường có một ngôi chùa rêu phong cổ kính, trước cổng tam quan cỏ mọc um tùm xanh biếc. Đó là chùa Bát Tháp nằm tại số 209 phố Đội Cấn, thuộc phường Đội Cấn, quận Ba Đình, Hà Nội. Ngôi chùa còn có tên là Vạn Bảo, cùng tên với trại Vạn Bảo (sau này là làng Vạn Phúc). 
Archi - Chùa Bát Tháp, kiến trúc đẹp của thành Thăng Long
Chùa Bát Tháp là một di tích thuộc loại hình kiến trúc Phật giáo, nằm trên một khu đất cao theo hướng Nam, có một khuôn viên rộng rãi, thoáng đạt. Tam quan của chùa khá đồ sộ, xây hai tầng tám mái với lối vào được tạo dựng theo hai dạng thức khác nhau. Cửa chính có bề mặt hình chữ nhật, phần dưới mở vòm cửa lớn trông thẳng vào Tiền đường. Tầng trên mở nhiều cửa nhỏ trông ra bốn phía. Hai bên cửa được xây giống nhau trên trổ những cửa tròn “sắc - không” theo giáo lý đạo Phật. Tiền đường có quy mô lớn gồm có 7 gian, 2 dĩ  và hàng hiên trước khá rộng do mái chảy dài. Ngoài hiên là hệ thống cột đá hình hộp chữ nhật được mài nhẵn, trên đá khắc những vế câu đối ca ngợi công đức nhà Phật và cảnh đẹp của chùa. Sau chùa là nhà thờ Tổ và một khu vườn rộng.

Chùa cổ Vạn Niên: Nơi hội tụ tâm linh và nghệ thuật

Trường tồn cùng với mảnh đất văn hiến Thăng Long, chùa Vạn Niên mang dáng dấp kiến trúc cổ kính, tâm linh, thanh tịnh…
Nằm trên đường Lạc Long Quân, quận Tây Hồ (Hà Nội), chùa Vạn Niên toạ lạc trong quang cảnh thanh bình, cây cối xanh mát tạo nên khung cảnh thanh tịnh khoáng đạt nơi cửa Phật. Ngày thường, chùa vắng lặng. Đến ngày Rằm và ngày lễ, người dân trong khu vực cùng khách thập phương đến thắp hương rất đông. Không giống như các ngôi chùa khác, mọi người đến xin cầu tài làm ăn, chùa Vạn Niên mang hơi hướng cầu bình an, tránh tà, cầu xin sức khỏe cho gia đình, con cháu.

Cổng sau Chùa Vạn Niên trông ra hồ Tây
Cổng sau Chùa Vạn Niên trông ra hồ Tây.
Cảnh chùa không rộng lớn nhưng đổi lại là không gian xanh mát, cùng sự thơ mộng của quang cảnh Hồ Tây khiến cho khách vãng lai muốn dừng chân nghỉ lại, ngồi dưới chân tượng phật mà ngẫm nghĩ, để cho lòng mình được tự tại thanh nhàn.
Chị Nguyễn Việt Nga, Phường Quán Thánh, cho biết: “Tôi đến chùa thường xuyên. Ngày Rằm hay mồng Một nào tôi cũng đến chùa, vì tôi rất thích ngôi chùa này. Chùa mang kiến trúc cổ rất đẹp. Ở đây vừa yên tĩnh, linh thiêng, vừa có không khí trong lành. Mỗi lần đến đây, tôi thấy lòng mình thanh thản”.
Còn anh Nguyễn Anh Linh, ở phố Thuỵ Khuê, thường xuyên đi lễ chùa Vạn Niên, nhận xét: “Chùa Vạn Niên mặc dù đã trùng tu nhưng vẫn giữ được nét cổ kính. Chùa toạ lạc trên một khuôn viên quay mặt ra hồ, nên về phong thuỷ rất tốt.”

Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2010

Tượng Phật cao nhất thế giới hiện nay

Tượng Pht A Di Đà (Daibutsu khng l này được tôn trí  gia mt ngn đi thuc vùng Ushiku cách th đô Tokyo chng 90 phút xe la hoc buýt. Pho tượng do tông Tịnh Độ Nhật Bản (Pure Land Sect)  kiến to vào năm 1993 và công trình này đã được đưa vào sách Guiness như là mt pho tượng cao nht thế gii hin nay, 120 mét.
Khách hành hương tht s kinh ngc khi nhìn thy quang cnh đu tiên qua ca s xe buýt vi chiu cao ca pho tượng ni bt trên cánh rng, quang cnh ging như mt cnh  trong phim, thật là tuyệt vời.
Sau khi tr l phí vào cng (1000 yên), tôi li ngc nhiên mt ln na khi đến gn tượng đài. Đã có mt sngười đang chiêm ngưỡng, h cố gắng ngước c nhìn lên pho tượng mt cách không bình thường, vì  tượng đài quá cao.
Pho tượng cao 120 mét, tôn trí trên một pháp tòa và đài sen, (trước đây tượng N Thn T Do được xem là cao nht thế gii cũng ch cao 93 mét). Cánh tay trái cĐức Pht dài 18 mét, khuôn mt dài 20 mét, hai tai dài 20 mét và ming rng 4 mét. Tng cng tượng nng 4000 tn.
Bên trong pho tượng có mt chiếc thang máy cao 85 mét. Con ngườ dưới tượng đài được nhìn thy nhưnhng ht đu nh. Có bn tng dùng làm nơi quan sát, các tng còn li là nơi đ các tăng sĩ viết kinh, dch kinh, tng kinh... đc bit có mt phòng ln dùng đ tôn trí 3000 tượng Pht.
Các phòng bên trong không được rng rãi như hình nh người ta trông th bên ngoài vì phn ln ca khong không gian bên trong đã b choáng hết bi các khung king st thép.


Thứ Bảy, 17 tháng 7, 2010

10 kỳ quan tự nhiên nên thưởng lãm trong đời

Trang Askmen vừa công bố danh sách "Những kỳ quan mà bạn nên thăm trước khi từ giã thế giới này", trong đó có đinh Everest, thác Thiên thần tại Venezuela.
Vườn
Vườn quốc gia Guning Mulu trên đảo Borneo thuộc quyền quản lý của Malaysia. Ảnh: huanqiu.com.
Sa mạc Trắng tại Ai Cập. Ảnh: Flickr.
Sa mạc Trắng tại Ai Cập. Ảnh: Flickr.

Thứ Sáu, 28 tháng 5, 2010

Kỳ bí thôn bát quái của hậu duệ Gia Cát Lượng

Nhiều nhà khoa học chuyên nghiên cứu về môi trường và kiến trúc trên thế giới đang tập trung khảo sát một mô hình thôn trang kỳ bí theo bố cục bát quái ở Trung Quốc.

Thôn này có tên là thôn Gia Cát hay Bát Quái, tọa lạc tại thị trấn Lan Khê, tỉnh Triết Giang, được mệnh danh là "Trung Quốc đệ nhất thôn". Đây cũng chính là trung tâm sinh sống của hậu duệ Khổng Minh Gia Cát Lượng nổi tiếng thời Tam Quốc.

Dựa theo Bát quái trận đồ lập nên thôn

Vào cuối đời Tống, đầu nhà Nguyên (khoảng năm 1300), hậu duệ đời thứ 27 của Gia Cát Lượng là Gia Cát Đại Sư bắt đầu lập thôn Bát Quái tại Lan Khê, Triết Giang.

Theo sử chép, Gia Cát Lượng từng lập ra một trận pháp thần kỳ gọi là Bát trận đồ, biến ảo khôn lường, uy lực vô cùng, từng vây khốn cả 10 vạn tinh binh của đại tướng Đông Ngô Lục Tốn.

Thôn nhìn từ trên cao:


Gia Cát Đại Sư đã vận dụng học thuyết Kham dư (phong thủy) vào Bát quái trận đồ của ông tổ mình, thiết lập thôn trang án theo Cửu cung bát quái.

Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2010

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2010

Hãi hùng những công trình làm bằng... xương người

Điều này xem chừng vô cùng hoang tưởng nhưng trên thực tế đây hoàn toàn là sự thật và gây bất ngờ với công chúng bởi hình ảnh vô cùng ấn tượng.

Nhà thờ xương sọ Bolanqieer Sumner (Cộng hòa Séc)



Dù mốc thời gian không mấy ấn tượng nhưng câu chuyện được cho là hoang tưởng về nhà xương này vẫn là câu hỏi bí ẩn chưa lời giải đáp đến ngày hôm nay. Từ năm 1776 đến 1804, liên tục có những lần sắp xếp di chuyển từ phòng kho này sang đến gian phòng khác nhưng hơn 3000 bộ xương cổ vẫn không chịu nghe theo sự sắp đặt của con người. Chúng tự “chỉ huy” và luôn sát cạnh nhau “1 bước không rời”.

Kho xương cổ Bull (Cộng hòa Séc)





Được mệnh danh là "thiên đường bị lãng quên" khi mãi đến tận năm 2001 kho xương cổ này mới được phát hiện. Hơn 5 vạn bộ xương không cùng thời đại, hình dáng, kích cỡ được sắp xếp nghiêm chỉnh đến kỳ lạ khiến Bull được xếp vị trí thứ 2 trong số những kho xương cổ vĩ đại nhất tại Châu Âu. Một trong những sản phẩm tuyệt tác được đưa tới viện bảo tàng quốc gia thành phố để trưng bầy. Tuy nhiên, chỉ sau đó một thời gian ngắn, những sự việc bất thường xảy ra khiến lãng đạo lập tức phải mang di vật trên trở về vị trí cũ. Hiện tại, chính phủ đang lên kế hoạch tu bổ khu di tích này vào năm 2010 và kết thúc năm 2011.

Lễ đường Chapel - Evora (Bồ Đào Nha)



Một trong những địa danh thu hút khách du lịch nhiều nhất tại Bồ Đào Nha - Evora. Ngoài cảnh quan tuyệt đẹp thì nơi đây còn gây được sự chú ý đặc biệt từ lễ đường Chapel với những câu chuyện lịch sử thú vị. Theo lời kể của người dân địa phương lưu truyền thì hai bộ xương đặc biệt nhất được treo trên vách đường trong Chapel là một người cha và con trai bị sự hãm hại của chính người mẹ, người vợ bất lương. Người phụ nữ này luôn cảm giác mất an toàn, không cảm nhận được tình yêu thương từ người thân và ảo giác về cuộc sống của mình. Cuối cùng, bà ta đã lựa chọn hình thức: kết liễu sự sống của chồng và con để chiếm đoạt cả linh hồn và thể xác của họ mãi mãi.

Hầm mộ Paris (Pháp)



Được ghi nhận là hầm mộ chứa hàng nghìn bộ xương lớn nhỏ khác nhau được xây dựng từ thế kỷ 18. Liên tục được cập nhật số lượng và thông tin nhưng cho đến nay vẫn chưa có bản báo cáo chi tiết về những điều kỳ bí ẩn sâu dưới lòng đất này. Người ta không thể giải thích cho sự xuất hiện của những bộ xương khác nhau nằm ở những vị trí khó tin nhưng lại có quan hệ mật thiết.

Tháp xương Tower (Serbia)



Đây là khu vực duy nhất được xây dựng từ năm 1809 sau cuộc nội chiến Serbia. Người dân phát hiện hơn 952 khu mộ cổ nằm sâu trong lòng đất và đào thấy 58 loại dụng cụ khác nhau của người dân cổ. Hàng loạt những bộ xương được đặt ngay ngắn bên huy hiệu, kỷ niệm chương “hy sinh vì tổ quốc” cho đến nay vẫn là nỗi ám ảnh của người dân địa phương. Người ta cho rằng sự khốc liệt của cuộc tàn sát này khiến cho những oan hồn không thể siêu thoát.

Kho xương Sedlec (Cộng hòa Séc)



Nằm tại ngoài ô Sedlec (Cộng hòa Séc), giáo đường này nổi tiếng với kho xương hội tụ hơn 40.000 bộ xương khác nhau được lưu giữ từ những tăm 1278. Cho đến nay vẫn chưa ai tìm hiểu được khởi điểm, mục đích của việc làm này mà các nhà nghiên cứu chỉ có thể chỉ ra những phương pháp bảo quản và lưu giữ của người dân cổ xưa. Do số lượng các bộ xương quá nhiều nên từ năm 1511 thì họ phải liên tục thay thế những “sản phẩm cũ” bằng những “tác phẩm” mới để bảo đảm vấn đề không gian và diện tích cư trú.

Giáo đường Santa Maria della - Rome (Italy)



Không một cảm giác sợ hãi khi thực hiện công việc tìm kiếm và nghiên cứu khu di tích này. Những nhà khoa học Ý đã tìm thấy hơn 4.000 bộ xương của những kỵ sĩ cổ đại vẫn còn giữ được nguyên vẹn quần áo, tư trang đi kèm. Tuy số lượng không nhiều như kho xương Sedlec nhưng những lời “thần chú” nằm rải rác trên khắp các vách tường nơi đây vẫn luôn là câu hỏi bí ẩn hấp dẫn dân chúng.

(Theo 24h)

Thứ Hai, 28 tháng 12, 2009

Ngũ Hồ trong lòng Bạch Mã


(TTVN Online) - Vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên-Huế), vốn đã nổi tiếng từ lâu vì vẻ đẹp và những huyền thoại, một trong những kỳ quan ấy là Ngũ Hồ.


Ngược theo con đường nhựa lên phía đỉnh Bạch Mã, từ đây rẽ vào rừng theo những bậc đá hạ thấp dần độ cao sẽ tới một con suối nước trong vắt và lạnh, từ đó dẫn đến Ngũ Hồ.




Hồ thứ nhất hình thành do một vùng suối được mở rộng và uốn cong như hình quả mướp. Hồ dài tới vài chục mét, đá xếp theo dạng bậc, xen kẽ các khối tảng cuội đủ màu sắc trong khá đẹp. Nước ở đây chảy chậm và trong suốt nên có thể nhìn xuyên tận đáy. Hai bồn thu nước màu xanh thẫm dưới tán rừng xanh làm tăng thêm cảm giác lạnh của một vùng nước có nhiệt độ thấp nhất núi rừng Bạch Mã.





Men triền suối, xuống từng bậc theo chiếc thang tạm được làm từ những cây gỗ rừng tết lại thành các bậc, cao khoảng 12m chúng ta xuống tới hồ thứ hai. Hồ chỉ rộng khoảng vài mét nhưng dài và xoắn theo hướng dòng chảy. Những khối đá granit bị mài mòn từ hàng triệu năm tạo nên các khe, rãnh khá lớn. Bề mặt đá nhẵn, có chỗ đen bóng, có chỗ loang lổ như bức tranh khảm không hài hòa.




Hồ thứ ba có hình khá tròn trịa như trăng đêm rằm. Nước sâu dần vào chân thác. Ngọn nước đổ từ độ cao 6m, mở rộng ở khoảng giữa rồi thu hẹp lại, tạo thành hình chiếc đó khổng lồ, trắng bạc và sáng lòa dưới ánh sáng Mặt Trời buổi trưa chiếu xuyên qua kẽ lá cây rừng. Những hòn tảng, cuội to nằm kềnh càng và sõng soài viền quanh mép hồ phía dưới. Mạn nước gợn sóng vỗ nhẹ vào bờ đá làm rung rinh bóng mấy cây dương xỉ thân gỗ mọc trên vách dựng đứng phía mặt trời. Những tảng đá to, đường kính có dễ đến 40-70 cm, nhẵn bóng với màu sắc và hình thù kỳ dị càng tô điểm cho sự huyền ảo của vùng hồ.



Ngay phía dưới chân hồ nước là những phản đá nằm ngang, gợn lên những nếp nhăn theo cấu trúc phân tầng của nó, trông tựa mặt biển với những con sóng đang bắt đầu dâng trào. Một khoảng hẹp chỉ độ 2m nhưng dòng nước chảy sâu và khá xiết tạo nên những âm thanh ồn ào mà không quá đỗi xa lạ.

Từ đây đi xuống hồ thứ tư không quá nguy hiểm nhưng vẫn phải bám men vào các bậc đá ven lòng suối. Không cẩn thận, có thể bị trượt chân hoặc bị một cành cây nằm ngang nào đó đập vào đầu. Trên các tảng đá thường xuất hiện một lớp rêu mỏng màu xanh, xen kẽ là các vũng nước, đường kính khoảng 0,5 đến 2m và sâu tới hàng mét. Đi tiếp khoảng 20m là tới bờ phía trên của hồ thứ tư. Tuy vậy để thực sự xuống được hồ, chúng ta phải bám ngược vách đá, sau đó theo sợi dây thép tụt xuống chân hồ. Hồ thứ tư hình ô van nhưng đường viền không mềm mại. Dòng nước bị những tảng đá lớn xẻ rách thành hai đổ xuống hồ hình thành hai thác nước. Thác 1 không quá dốc do dòng nước ăn sâu vào đá, tạo nên hình máng đổ nghiêng xuống hồ. Vì vậy, dòng nước cũng không bắn tung mà chỉ vờn cao cách mặt hồ khoảng chừng gang tay. Thác 2 nằm bên hữu ngạn và lớn hơn thác 1, đổ xuống bề mặt khối đá lớn sừng sững làm nước bắn tung và xòe ra như chiếc váy trắng của vũ nữ ba lê. Mặt nước hồ luôn ở trạng thái dập dềnh, những tảng đá gần chân thác luôn ướt đẫm màu xanh đen của một lớp rêu mỏng. Có khá nhiều ngọn nứa uốn cong, rủ xuống quanh bờ làm chúng ta dễ liên tưởng hồ có dáng dấp của một sân vận động mi ni có mái xe mát rượi.



Qua hồ thứ tư, dòng nước tiếp tục uốn mình chảy thêm vài chục mét thì đột ngột đổ mình xuống và tạo nên hồ thứ năm. Đây là thực sự là một kiệt tác của thiên nhiên, là sự chạm trổ, khắc họa đan xen giữa nước, đá, cây và không gian trời đất. Bờ hồ là những tảng đá granit màu xám với kích cỡ khá đều, cao tới 2m. Hồ không rộng, hình như chiếc kèn sắcxôphôn lùn nằm cong giữa thành đá. Dòng thác đổ mạnh nhưng theo từng bậc đá, chảy tràn từ bậc trên xuống bậc dưới rồi đổ ào xuống phần trên của "chiếc kèn". Phần này rộng khoảng 2m, dài 3m, sâu tới trên 2m và xoáy sâu vào mép đá nên trông rất cổ kính và kỳ dị. Dòng nước mặt đập vào đá rồi bật ngược trở lại tạo nên những gợn sóng lấp lánh dưới ánh mặt trời. Phần dưới cạn hơn nhưng khá rộng và dài tới 5m. Nước trong suốt, dòng chảy chậm nên có thể quan sát rõ từng viên cuội dưới đáy hồ. Bên hồ lại xuất hiện thêm một thân cây gỗ nằm chúc đầu xuống nước, thân ẩm ướt và mọc đầy rêu xanh.




Dòng nước chảy thêm một đoạn ngắn rồi đổ tiếp vào hồ hình thoi. Thác đổ xuống hồ chỉ cao khoảng chiều cao một người lớn nên dòng chảy chảy không dữ dội. Phần trong hồ nước sâu, màu xanh đen do thiếu ánh sáng mặt trời. Phía bên này, hình thành một đụn cát sỏi khá lớn và mở rộng dần xuống đáy sâu phía trong, tạo nên bề mặt đáy đơn nghiêng vào chân thác. Đây cũng là phần kết thúc của Ngũ Hồ.

Tuy nơi đây vẫn còn đậm nét hoang sơ, chưa có sự đầu tư nhưng với những người ưa thích cảnh quan thiên tạo thì Ngũ Hồ là một địa chỉ không thể không đến.
Theo :  TTVN Online