Hiển thị các bài đăng có nhãn Cổ vật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cổ vật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 11, 2010

Phát hiện la bàn ngà voi 100 tuổi

- Sở VHTT&DL Hà Tĩnh vừa phát hiện một chiếc la bàn bát quái cổ, bằng ngà voi được chế tác chạm khắc rất tinh xảo. Điều thú vị là cho tới nay chiếc la bàn này vẫn đang hoạt động bình thường.
 
Sáng 18/11, trao đổi với VietNamNet, ông Hồ Bách Khoa, Phó phòng Quản lý di sản (SVHTT&DL) Hà Tĩnh cho biết, chiếc la bàn này được ông Võ Đình Thi – Trưởng phòng nghiệp vụ Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh phát hiện trong một lần đi sưu tập hiện vật.

Ông Khoa cho biết, chiếc la bàn bát quái này có niên đại khoảng trên 100 năm tuổi, nó được làm từ thời Nguyễn, vào khoảng cuối thế kỷ XIX. Đây là một chiếc la bàn dùng để xác định phương vị tìm thế đất làm nhà ở, mạch nước để lập cư hay nơi táng mộ với kỳ vọng phát lộc, phát tài và thường được gọi là la bàn phong thủy hay là la bàn bát quái.
Chiếc la bàn vừa được tìm thấy. Ảnh: Bách Khoa


Theo mô tả, chiếc la bàn này có hình vuông, mỗi cạnh dài 6cm, dày 2cm được làm bằng ngà voi có chế tác, chạm khắc rất tinh xảo. Tâm la bàn hình tròn, các chi tiết như kim, phuơng vị, nắp kính còn nguyên vẹn, bao quanh tâm là gờ nổi con lươn bằng đồng đỏ.

Tiếp đến là 5 vòng tròn đồng tâm, vòng trong cùng có biểu tượng của 8 cung của bát quái – 8 phương vị chính (càn, cấn, khảm, chấn, khôn, đoài, ly, tốn). Vòng 2 có các điểm chấm. Vòng 3 có 25 ký tự biểu hiện 10 can (giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, tý) và 12 chi ( tý, sửu, dần, mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi). Vòng 4 có 72 ký tự; vòng 5 khắc họa 12 con giáp; ngoài cùng là vòng đôi giới hạn điểm cuối mặt chính; 4 góc la bàn chạm họa tiết trang trí và 4 cạnh được bao bởi các ô chữ S lồng nhau.

Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2010

Chuyện bảy cây ngọc Như Ý thấy tại Đài Bắc, năm 1963

Cái sẩy nẩy cái ung. Nói chuyện viên ngọc Tức Mặc Hầu, ngứa miệng nói luôn chuyện bảy khối ngọc trước kia vốn cũng của nước Nam, nay Trung Quốc chế thành bảy cây Như Ý ngọc để tại Viện bảo tàng Đài Loan, năm 1963, tôi còn thấy. 
Chuyện nghiên Tức Mặc lầu là chuyện gần đây; chuyện một người ham có ngọc, mà còn ham làm chính trị chánh trị luỵ thân - thân đã tan nát mà ngọc cũng mất theo, làm chánh trị dở, báo hại nước nhà mang hoạ lây. Đến như bảy cây ngọc chế thành bảy cây Như Ý, rõ lại công khéo tạo thành là công khéo sáng chế của người ngoại bang, còn ngọc nguyên khối, bảy cây to tát biến thành bảy món đồ chơi trân ngoạn, rõ là gốc của Việt Nam, do một vua bất tài, Lê Chiêu Thống, ôm chạy sang Tàu, khóc lóc xin binh về đánh với Tây Sơn, đánh không lại, bỏ xác tha hương, tội hối lộ ngọc tốt đổi binh bất tài luôn, binh Tàu đại bại, nhưng ngọc hối lộ cho Kiền Long, nay tôi được cầm trên tay nhớ chuyện xưa, bất nhẫn vì trên đầu trên cổ thuở nay đều là quân ăn hại báo đời, nước Việt vốn không lớn, vì sao có ngọc để chúng đoạt quá nhiều; và ngọc là quý, quý chỗ nào, mà vẫn bị quân gian ăn cắp. 
Mảng nói dông dài mà chưa vào đề hư hay không xin hỏi? 
Tôi viết bài nầy, không có ý khoe; khoe chỗ nào? Gần suốt một đời, ngu và hư hơn người thì có và động động biết được một chút gì là vội nói ra cho hết thảy cùng biết, người có trí đâu có làm như vậy. Trước đây, có người công du dễ dàng, xuất ngoại như mình an cơm bữa mình nửa năm chưa vô thăm mì Chợ Lớn một lần, mà họ tuần nầy sang Mỹ, mua cái bốp đầm cho mụ xã, tháng sau bay qua Pháp ôm kẹo về và xì líp lậu cho nhà đoan nó bắt nó la tùm lum, hỏi họ thấy nhiều hiểu xa, sao không thuật lại cho những người nằm nhà cũng nghe với? Tại họ khôn và ích kỷ. 
http://www.hangdocdao.com.vn/upload/product/1210369269_ngoc%20nhu%20y.jpg
http://www.quangcaosanpham.com/images/picture/big_76521_40_TDQT01-500X500_.jpg
(Hình minh họa-Internet)
Chuyến đi Đài Bắc năm 1963 của tôi kể cũng là một dịp may khó gặp hai lần trong một đời người. Nói có vong linh ông Trần Thành làm chứng. Lúc đó, ông là Phó Tổng thống nước Trung Hoa Dân quốc ông đã mất từ lâu. Đầu năm 1963, ông qua viếng trả lễ nước Việt mình, và một bữa sáng nọ ông và đoàn tuỳ tùng ghé viếng Viện bảo tàng sau khi dạo chơi vườn bách thảo. Không biết cái gì khiến, ông vui miệng, mời tôi hãy qua cho biết Đài Bắc và Đài Loan. Tuy nghe mời mọc, cũng vui tai, nhưng tôi cám ơn ông chiếu lệ, cũng không mừng gì mấy, vì từ cái mời đến cái thực hành còn xa, nghĩ mình phận mỏng, bấy lâu thất vọng đã nhiều chừng nào việc tới sẽ hay. 
Vài tháng sau, hãng máy bay cứ thúc giục mãi, và cho hay vé khứ hồi đã sẵn, phái kíp dùng kẻo quá hạn. Mà cơ khổ, sự lên đường nào phải tự tôi định được. Một thứ “thầy thông” trước làm cho Tây nay lỡ độ đường, vô làm kiếm cơm, quyền quản thủ công nhựt Viện bảo tàng nầy, mà sức mấy. Tuy vậy, chiều ý hãng máy bay và để tránh bất cập, tôi cũng đến toà đài sứ Trung Hoa, lúc đó còn ở chỗ cũ nơi đường Pasteur hỏi cho biết nếu được đi, chẳng hay có được lãnh chút ít tiền trợ cấp chi chăng, tỷ như liền lộ phí, tiền ăn, tiền ở là bao, xin vui lòng cho biết, để cụ bị thêm. Ông tuỳ viên văn hoá tiếp tôi niềm nở, nghe tôi hỏi, nhoẻn miệng cười, và đáp tỉnh khô: 

Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2010

Nghiên mực Tức Mặc Hầu của Dực Đức Tôn hoàng đế



OZ-Truyện của Cụ Vương, dẫu là những câu chuyện thường nhật cũng đủ mê hoặc lòng người chứ chưa nói đến những bài viết của Cụ về cổ vật. Cụ có lối viết giản dị, bình dân nhưng tao nhã và  tài hoa.Tôi chỉ là bậc hậu bối thôi nhưng rất say mê những tác phẩm của Cụ. Câu chuyện này trích trong tác phẩm Hơn nửa đời hư, xin được đăng lại hầu quý độc giả.
http://www.vietnamlit.org/wiki/images/1/1e/Vuong_Hong_Sen.jpg
Cố học giả Vương Hồng Sển
Dẫn - Bài nghiên cứu nầy trước đây dã đăng trong Bách Khoa thời đại, số 290 -291 ngày 12 và 15-2 năm 1969 (xuân Kỷ Dậu). Kế đó, tôi viết lại trong tập số 9 bộ Hiếu cổ đặc san, đề tựa ngày 17-6- 1973. Nhưng tập nầy xấu số, chết ngợp, cho đến nay vẫn nằm trong tủ và không xuất bản được. Hôm nay, tôi soạn lại bài nầy là chép vào bộ Hơn nửa đời hư. Nếu có xảy ra việc gì chẳng lành: sách vở trong Nam bị đốt bỏ, bị tịch thu hay bị nấu làm giấy mới, tôi cầu xin trong ba bài của tôi còn lại một, là đủ cho tôi bằng lòng. Nghiên mực Tứ mặc hầu là quốc bảo. Nay còn lưu lạc... Mấy trang nầy còn lại, ít nữa người nào đời sẽ biết giá trị của nó mà phăn lần, hoạ may tìm ra mà đem nó trả về Viện bảo tàng nhà nước. Khi ấy dẫu nằm dưới đất, tôi cũng yên tâm. 
Vua Tự Đức trị vì từ năm 1847 đến năm 1883. Ông có tiếng là một ông vua hay chữ nhứt trong dòng Nguyễn Phước. Chính Thân Trọng Huề, năm xưa đã từng viết bài ca tụng tài học của vua, trội hơn cả, tài học lỗi lạc của các quan, tuy khoa giáp xuất thân, trôi đã có dịp thấy tận mắt tài ba của ngài, tiếc thay, như vịt nghe sấm, thằng đui ngắm tranh, vì tôi là thằng dốt. Năm 1958, nhơn một dịp ra Huế, lần đầu, tôi được ông chủ quản thủ Viện bảo tàng ngoài ấy, lấy châu bản ra cho xem. Châu bản là bản sớ tấu, tờ điều trần viết mực đen, chữ đen, của các quan dâng lên vua, và vua phê chữ son vào, nên gọi châu bản. Châu là chu, là son, là sắc đỏ. Châu bản triều Gia Long, chữ son phê rất ít, đôi hàng ngăn ngắn, viết thật đều. Châu bản hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị cũng na ná như thế, khi ít, khi khá hơn, không chừng độ. Duy qua triều vua Tự Đức châu bản mới thật là một rừng chữ son, chữ dày mịt, nhi nhít khít rịt và thẳng thớm, có khi trên nhiều tờ, còn nhiều chữ hơn phần sớ tấu của các quan gởi lên, tiếc vì tôi không đọc được. Đến châu bản đời Khải Định, còn thấy phê son bằng chữ Hán tự, duy đến đời ông Bảo Đại, quả là đại, ông nầy chỉ phê bằng quốc ngữ, có khi vấn tắt vỏn vẹn còn hai chữ ký tắt B.Đ, nhưng chữ thật to thật mạnh. Tôi thấy sao thì nói vậy, không biết tâng, mà còn gì nữa mà tâng. Bảo Đại học theo Tây, chơi thể thao Tây nhiều hơn cầm bút ngọc, chữ Nho, vả lại chữ Hán ông Tản Đà đã đem hết cả lên bán ở Chợ Trời. Vua Tự Đức là ông vua hay chữ, nên những gì thuộc văn phòng tứ bảo, ông hết sức tâng tiu. Ông có một nghiên mực làm bằng đá Đoan Khê, ông rất ưng ý đến nỗi phong nghiên mực chức là Tức Mặc Hầu. Nghiễm nhiên ông đã nhân cách hoá (personnifier) một vật vô tri, một cục đá mài mực, phong quan tước hầu, vì biết dâng mực cho ông cặp kỳ, theo ý ông muốn. Ngày nay ta đã mất tin dị đoan, mất hết ý vị thơ và thần, hết sợ ma, không còn mơ đến sự huyền bí tin tưởng phép tiên, phép tà thuật, cho nên tuy nghe vậy nhưng vẫn xem nghiên mực nầy cũng là vật tầm thường, như bao nhiêu vật và nghiên mực khác. Chớ vào cuối thế kỷ XIX, đời ông Tự Đức, khoa học chưa để chân vào nước ta còn thắp đèn dầu mù u, sang lắm là dầu phộng hoặc đèn sáp trắng - vào đời ấy có một cục đá mài mực khô ngoeo, cầm không dơ tay,thế mà khi cấp bách, muốn có mực kịp lúc, chỉ cần thổi một hơi thổi vào mặt nghiên, lức thì mực tươm ra đủ dùng. Quả là “nghiên mực tiên “, còn đòi hỏi gì nữa, và chưa lạ lùng quá sức tưởng tượng hay sao? Ông Tự Đức vốn là ông vua hay chữ, bình sinh ông có tánh giản dị, ít sai cất ai. Ông đã nằm yên dưới lăng, nào cần tôi binh vực, và tôi chỉ muốn nói về nghiên mực Tức Mặc Hầu. Vua Tự Đức làm việc bằng cây bút thật nhiều, mỗi khi viết gặp gấp rút, không sẵn mực dưới tay, nếu đợi cung phi lấy nghiên lấy nước, mài mực thì lâu hoắc, ý nghĩ đâu có chờ mài mực và sẽ bay mất đi còn gì, những khi muốn viết vội vài chữ, hoặc ghi một câu thi hay vừa nảy trong trí, ngài chỉ hà hơi vào nghiên tức thì mớ mực cũ còn lại, lại ướt lên và tươm ra óng mướt, ôi quý hoá thay nghiên mực nầy. Tôi tả vụng về thế ấy, làm sao có người chịu tin là sự thật nó như vậy? Nhưng tôi xin cam đoan, tôi đã từng cầm nghiên mực ấy trên tay, và đã từng tự làm thí nghiệm, và đã thấy y như đã nói. Kỳ tôi ra Huế năm 1958, một buổi sáng tốt trời, tôi vào viếng Viện bảo tàng và được cố quản thủ, cụ Tôn Thất Đào, tiếp tôi một cách hết sức niềm nở, không biết tại mớ tóc bạc, hay vì ông là người tôn thất, có tên Đào, nên cử chỉ thật là trang nhã. Bỗng, cụ lấy nghiên mực ra khoe với tôi: “Viện Sài Gòn có cái ni không?”. Tức Mặc Hầu (ảnh đã mất một ảnh giao Bách Khoa năm xưa cũng lạc luôn). 
http://vnthuquan.net/diendan/upfiles/31295/A100D609A4F54F6F90C36E4320BA1858.jpg
(Không biết Tức Mặc Hầu Cụ Vương nhắc đến có phải là hình trên không?-Hình Internet) 
 
Tức Mặc Hầu vóc lớn và nặng, cỡ hai phần ba miếng gạch Tàu, nhớ độ chừng, lối ba tấc Tây bề dài, hai tấc bề ngang, và dầy cỡ ba phân. Bởi là loài đá tỷ như đá bùn đá nổi, nên tôi so sánh sức nặng và vóc dạc như miếng gạch Tàu, thứ lát sân, lát nhà, tôi là người tục nên so sánh cũng tục. Về cách chạm trổ, thì tuyệt khéo. Nét chạm tinh vi, đá đã trơn bén sẵn, bây giờ thời gian lại ký tên vào đá bằng một màu cổ kính, Pháp gọi “patiné par le temps”, có mấy chữ mà toi cơm không dịch nổi: nếu đá ngoài trời, thì tạm gọi rêu mờ phong sương, ngặt vì đây là đá quý phái thường nằm trên đài son các tía, có lẽ phong trần từng nếm, nên dịch đỡ “lạc tinh” mấy độ với thời gian. Tôi cầm nghiên mực mà suy nghĩ mông lung, ban đầu tôi lật bề trái xem trước, và đây cũng là méo mó vì nghề nghiệp, thuở nay nghề chơi đĩa xưa dạy hễ gặp thứ gì hay thì “lật đít” xem trước, đọc ký hiệu nếu là đồ cổ, hoặc tìm gì gì nếu đó là thiên kim giai nhân? Dưới đáy nghiên là một bài văn “ngự chế” của đức Dực Tôn, đề cao đặc tính của nghiên Tức Mặc Hầu. Chữ khắc nổi, mạ vàng lên mặt chữ, sắc sảo không thể tả, tiếc vì tôi chỉ biết mò bằng tay và khen tấm tắc, chớ không biết khen bằng mắt vì mắt không đọc được chữ nào. Lúc đó tuy có thâu vào máy ảnh, nhưng chữ tế vi quá, không đọc được, vả lại ngày nay ảnh cũng mất, nên khen cũng như không. Sau khi xem đáy, tôi xem qua hộp đựng, thì đây là một cái hộp rất mỹ thuật, làm bằng đồi mồi Hà Tiên, loại thật đẹp, thật quý, trong trẻo và vàng hực, khiến cho bài thi ngự chế nổi bật: một bài khắc trên nắp hộp và một bài nữa khấc trên mặt dưới của cái hộp, khiến tôi khen thầm, nội cái hộp nầy không cũng đủ là một mỹ thuật phẩm tuyệt tác. 

Thứ Năm, 17 tháng 6, 2010

Những kho báu giá trị của thế giới bị thất lạc

Bảo vật ngàn đời của dân tộc Do Thái, của cải châu báu của thành cổ Lima, những đồ tuỳ táng của các vị vua Pharaoh, nơi chôn giấu tiền vàng của tướng cướp Râu Đen… tất cả những kho báu  này đều có thật nhưng đều bị thất lạc trong quá khứ và cho tới nay chúng vẫn thu hút sự chú ý của hàng nghìn đoàn thám hiểm truy tìm báu vật trên khắp thế giới.

Phòng Hổ Phách của Piốt Đại Đế
Phòng Hổ Phách (The Amber Room) của Sa hoàng Nga được sử sách mô tả là kỳ quan nhân tạo đứng thứ 8 trong danh sách những công trình nghệ thuật kiệt tác của nhân loại.

Phòng Hổ Phách “nhái” được xây dựng lại và trưng bày trong điện Catherine ở Nga. 

Sở dĩ nó có tên gọi là Phòng Hổ Phách vì toàn bộ đồ đạc, vật dụng trang trí trong căn phòng có diện tích rộng gần 4 mét vuông này được chế tác toàn bằng vàng bạc, châu báu. Khi thắp nến để chiếu sáng, cả căn phòng bỗng trở lên vàng rực như đang đứng  trong một khối hổ phách khổng lồ.

Không chỉ có vậy, trong căn phòng đặc biệt này còn có rất nhiều những tác phẩm nghệ thuật quý giá nhất thời bấy giờ của người Phổ (Prussia) và người Nga. Phòng Hổ Phách đầu tiên được thiết kế dành riêng cho vua Phổ Friedrich I, sau đó báu vật này được chuyển giao cho Sa hoàng Nga Piốt Đại Đế (Peter the Great) vào năm 1716.
Phòng Hổ Phách của Piốt Đại Đế được bố trí tại Cung điện Catherine gần thành phố Saint Petersburg. Trị giá của căn phòng này nếu tính theo đơn giá hiện tại ít nhất cũng tương đương 142 triệu USD chưa kể giá trị lịch sử của nó.

Đầu năm 1940, khi trùm Phát xít Adolf Hitler lê cỗ máy chiến tranh xâm lược lãnh thổ Nga, người Nga đã cố gắng bảo vệ căn phòng đặc biệt này bằng cách cố gắng di chuyển mọi đồ đạc của căn phòng đi chỗ khác nhưng không thành công vì lúc này dưới tác động của biến cố chiến tranh toà cung điện Catherine bắt đầu có hiện tượng đổ vỡ. Chính vì vậy người ta đã cố gắng bí mật bảo vệ nó bằng cách trang trí lại căn phòng bằng giấy dán tường.

Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2010

Cổ vật hiếm thấy của Việt Nam thu hút người hâm mộ tại New York

Vén bức màn bí ẩn bao phủ hàng thế kỷ nghệ thuật tại Việt Nam. Dưới tựa đề trên đây, tờ International Herald Tribune xuất bản tại Pháp trong số ra cuối tuần này đã đăng lại một bài phê bình trên nhật báo Mỹ New York Times, trầm trồ khen ngợi cuộc Triển lãm cổ vật Việt Nam đang diễn ra tại New York cho đến đầu tháng năm. Theo tác giả bài báo, nhiều công trình nghệ thuật tuyệt hảo đã nêu bật một số thời kỳ vẫn còn bí ẩn đối vớI các sử gia.
Mở đầu bài báo, tác giả Souren Melikan khẳng định : ''Nghệ thuật có thể trực tiếp phơi bày những bí ẩn mà không một nhà nghiên cứu lịch sử nào giải đáp được''. Cuộc triển lãm ''Nghệ thuật Việt Nam cổ xưa'' do Hội Asia Society tổ chức tại New York, cùng với quyển sách do bà Nancy Tingley viết ra sau 20 năm dày công nghiên cứu, đã vạch rõ một số giai đoạn đã dẫn đến sự hình thành của đất nước mà ngày nay được gọi là Việt Nam.
Tượng Gajasimha ở Tháp Mẫm, Bình Định thế kỷ 12 (DR)
Tượng Gajasimha ở Tháp Mẫm, Bình Định thế kỷ 12 (DR)
Nhiều nền văn hoá khác nhau đã từng xuất hiện trên vùng lãnh thổ đó, mà dấu tích còn để lại chỉ là những cổ vật mà ngày nay không ai biết rõ ý nghĩa đích thực. Trong cuộc triển lãm, nhiều tác phẩm quan trọng đã đặt ra cho khán giả những câu hỏi rất khó tìm ra lời giải đáp.

Thứ Tư, 13 tháng 1, 2010

Bản đồ cổ 400 tuổi miêu tả thế giới

Bản đồ cổ về thế giới được một thày tu Italy vẽ tại Trung Quốc vào thế kỷ 17 vừa công bố ở Mỹ. Ngay lập tức, bản sao của nó được bán với giá 1 triệu USD.


Tấm bản đồ được nhà truyền giáo dòng Tên người Italy Matteo Ricci vẽ vào năm 1602. Ông là người đầu tiên đến Trung Quốc để chỉ ra châu Mỹ, và xác định Florida là “vùng đất của các loài hoa”.


Bản đồ cổ 400 tuổi miêu tả thế giới
Tấm bản đồ từ thế kỷ 17 đang được trưng bày tại Washington cho thấy Trung Quốc nằm ở vị trí trung tâm

Cuốn tài liệu có kích thước 3.66m x 1.52m được in trên 6 cuộn giấy gạo đang được trưng bày ở Thư viện Quốc Hội Mỹ. Đây là một trong hai bản sao chép đang tồn tại trong tình trạng tốt.

Đa đoan thú chơi cổ ngoạn

Ngay từ thời xa xưa, con người đã biết sáng tạo ra sản phẩm gốm sứ kết hợp từ những nguyện liệu của thiên nhiên bao gồm đất-trời-nước-lửa (càn-khôn-li-khảm), nhờ vậy chúng trường tồn theo thời gian mà không bị tiêu hủy như các sản phẩm làm bằng những vật liệu khác.
Trải bao biến thiên, vật đổi sao dời, những đồ gốm sứ còn lại đến nay đã trở thành một phần di sản vật thể của từng đất nước, qua đó giúp cho người đời sau nghiên cứu từ lịch sử, thơ văn, nghệ thuật đến phong tục, tập quán, ngôn ngữ của các thế hệ cha ông. Và chính những yếu tố đó đã cuốn hút bao nhiêu người đến với việc sưu tầm đồ cổ.
Ở miền Nam, nói đến thú chơi đồ cổ thì không thể không nhắc đến cụ Vương Hồng Sển (1902-1993) người từng tự nhận mình ham thích đồ xưa còn hơn khách hào hoa mê gái đẹp và hơn người đánh bạc mê trò đỏ đen. Vào năm 90 tuổi, đoán rằng sắp đến lúc phải từ giã vĩnh viễn những cổ vật thân thương của mình, cụ Vương có thảo một di ngôn chép thành 5 bản. Ngoài một bản do cụ giữ thì các bản còn lại được ân cần trao cho bốn người bạn mà cụ xem là tri âm tri kỷ. Nay thì hai người trong số ấy cũng đã qua đời, người thứ ba - ông Lâm Võ Hoàng, một chuyên viên kinh tế - vì nhiều lý do đã gác tay rửa kiếm.

Người thứ tư, cho đến nay vẫn còn đeo đẳng cuộc chơi, chính là anh Trần Đình Sơn, tuy sinh sau cụ Vương gần nửa thế kỷ mà lại vinh dự được cụ xem là người bạn vong niên thân thiết

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2010

Điển tích Phật giáo trên đồ sứ ký kiểu

Vào giữa thế kỷ XVI đến gần  cuôi thế kỷ XVIII, các chúa  Nguyễn truyền nối nhau cai trị đất Đàng Trong. Dựa theo truyền thống “Cư trần lạc đạo” thời Lý-Trần, các chúa Nguyễn chu trương “cư Nho mộ Thích” để ổn định tâm lý xã hội đẩy mạnh việc phát triển đất nước ở phương Nam. Vào thời này, đạo Phật được triều đình lẫn quần chúng nhân dân tích cực ủng hộ. Các ngôi chùa được sắc tứ vào thời chúa Nguyễn cho đến nay vẫn còn như: chùa Thiên Mụ (Huế) chùa Tam Thai (Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng) chùa Thập Tháp Di Đà (Bình Định)…
Chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) là người thuần tín Phật giáo, ông quy y Phật, đạo hiệu là Thiên Túng Đạo Nhân. Vì thế khi sáng tác thơ văn, ông thường ghi ba chữ Đạo Nhân thư ở cuối tác phẩm. Và, từ đó các tác phẩm văn học Phật giáo đều được ông đặt ký kiểu trên đồ sứ Trung Quốc, nhiều nhất là vào năm 1701.
Đồ sứ ký kiêu của chúa Nguyễn Phúc Chu chủ yếu là các loại tô, dĩa đựng thức ăn, dụng cụ dùng để uống trà, thường có hiệu đề “Thanh Ngoạn” viết theo lối chữ Triện, với đề tài ký kiểu thường là phong cảnh sơn thủy, chùa tháp cùng các bài thơ vịnh phong cảnh non nước ở xứ Đàng Trong. Những ngôi chùa mà ông đã từng đến chiêm bái và có thơ ca ngợi vẻ đẹp nơi ấy đều là đề tài lớn trong sản phẩm ký kiểu còn tồn tại đến ngày nay.
Chiếc dĩa trà vẽ cảnh chùa Thái Bình ở núi Tam Thai (Ngũ Hành Sơn - H.1).
dokieu-1.gif
H.1
Một sản phẩm ký kiểu khác mang ý nghĩa giáo dục Phật giáo hết sức thiết thực mà các đời chúa Nguyễn đặt ký kiểu nhằm giáo dục trong nhân dân đoàn kết và sẻ chia, đo là chiếc dĩa vẽ tích “Hòa hợp nhị Thánh”, niên đại thế kỷ XVIII (H.2).

dokieu-2.gif
H.2
Theo truyền tích Trung Hoa, vào đời nhà Đường có hai nhà sư tên Hàn Sơn và Thập Đắc là bạn đồng tu  tại chùa Quốc Thanh. Sau một thời gian xa cách, Thập Đắc đi đến Tô Châu tìm Hàn Sơn. Nghe tin bạn đến, Hàn Sơn vội bẻ một cành hoa sen đang nở làm vật đón bạn. Gặp nhau hai người vô cùng hoan hỷ, Hàn Sơn lấy hoa sen phủi bụi trên áo cho Thập Đắc. Thập Đắc mở bình bát mới khất thực được mời Hàn Sơn cùng ăn. Về sau hai người cùng về ẩn tu ở Hàn Sơn tự, thường cứu giúp, hóa độ quần chúng. Do cảm niệm ân đức của Hàn Sơn và Thập Đắc cùng phong thái tự tại giải thoát nên dân gian thường vẽ hình ảnh Hàn Sơn  tay cầm hoa sen, Thập Đắc tay cầm bát cơm ngụ ý sự chia sẻ và hòa hợp. Đến đời Ung Chính nhà Thanh, vua Ung Chính hạ chiếu phong Hàn Sơn là Hòa Thánh, Thập Đắc là Hợp Thánh, cho nên bức họa thường đề là “Hòa hợp nhị Thánh”.
Chiếc dĩa vẽ tích “Huệ Khả cầu an tâm” (H.3) miêu tả Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma đang tọa thiền bên động Thiếu Thất ở Tung Sơn. Trên cầu đá ở ngoài trời sư Huệ Khả đứng quay mặt nhìn vào.
dokieu-3.gif
                                                                           H.4
Chiếc dĩa (H.4) vẽ toàn cảnh biển Tư Hiền (trước kia là Tư Dung - Huế). Tư Hiền là cửa biển quan trọng của vùng Thuận Hóa xưa. Thuở ấy chúa Nguyễn Phúc Chu vân du nơi này thấy cảnh non hữu tình nên cao hứng đọc lại bài thơ Tư Dung vãn của Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ (1572-1634) một công thần của chúa Nguyễn Phúc Chu  nên về sau đặt vẽ ký kiểu toàn cảnh biển Tư Dung và đề thơ Nôm phía sau: “Một bầu riêng rẽ thú yên hà/Nghi ngút hương bay cửa Đại La/Ngày vắng đỉnh đang chuông Bát nhã/Đêm khuya dắng dỏi kệ Di Đà/Nhặt khoan đàn suối ban mưa tạnh/Eo óc cẩm ve thuở ác tà/ Mựa rằng đạo xa hòa nhọc kiếm/Bồ Đề kết quả ở lòng ta”.

dokieu-3a.gif
H.3
Giới sưu tập đồ sứ ký kiểu hẳn đều phải để ý đến chiếc dĩa vẽ cảnh Quốc sư  Pháp Thuận đời Tiền Lê giả làm người chèo đò đón sứ giả nhà Tống là Lý Giác qua sông Sách. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại: Năm 987 niên hiệu Thiên Phúc thứ 8, triều Tống cử sứ giả Lý Giác sang nước ta. Để có người đủ trình độ theo dõi và ứng đối sứ thần, vua Lê mời sư Pháp Thuận giả làm người chèo đò ở sông Sách. Lúc thuyền qua sông, Lý Giác nhìn cảnh sông rất đẹp lại có thêm hai chú ngỗng đang bơi rất thản nhiên nên liền cao hứng ngâm: Nga nga lưỡng nga nga/Ngưỡng diện hướng thiên nha. Ngâm tới đây thì ông lão chèo đò cất giọng ngâm tiếp: Bạch mao phô lục thủy/Hồng trạo bãi thanh ba. Nếu hợp lại bốn câu thì thành một bài thơ tuyệt tác. (Tạm dịch: Song song ngỗng một đôi/Ngửa mặt ngó ven trời/Lông trắng phơi dòng biếc/Sóng xanh chân hồng bơi). Lúc bấy giờ, sứ thần Trung Quốc nghĩ nước Nam thật lắm người tài. Chỉ một lão chèo đò mà kiến thức uyên thâm như thế thì người trị vì há chẳng hơn sao! Liền lui về nước Tống trình báo hoãn binh. Về sau, các chúa Nguyễn thường vẽ ký kiểu trên đồ sứ để lưu truyền về chuyện sư Pháp Thuận và sứ thần Lý Giác (H.5).
dokieu-4.gif
H.5
Ngoài những đồ sứ được ký kiểu ở thơi chúa Nguyễn Phúc Chu, từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX triều Nguyễn cũng xuất hiện nhiều đồ sứ ký kiểu vẽ đề tài Phật giáo. Chiếc dĩa (H.6) hiệu đề “Tân Sửu niên chế” vẽ toàn cảnh chùa Bạch Tự với thơ đề: Đăng đạo bàn hư không/Đăng lãm ấp vô cùng/Lệ cảnh vu thành mãn/Nghiễm nhập họa đồ trung. (Tạm dịch: Bậc đá quanh co đến cõi không/Lên cao mắt thấy thật vô cùng/Khắp nơi cảnh đẹp, thành hoang vắng/Người nhập vào tranh thỏa ước mong).
dokieu-6.gif
H.6
Chiếc dĩa (H.7) vẽ toàn cảnh chùa Thánh Duyên ở núi Thúy Vân,Thừa Thiên- Huế, trên dĩa đề thơ vịnh của vua Thiệu Trị (1804-1847) “Tuệ phong chung độ u lâm hưởng/Không vũ hương la pháp hải lân/Thụ luyến từ đàm phù bịch lạc/Kinh xuyên Tăng kịch tạp hồng trần. (Tạm dịch: Gió thiền chuông điểm rừng sâu dội/Cõi diệu hương đưa biển Pháp nhuần/ Cây vướng mây lành lên cảnh Bụt/Đường xuyên guốc sãi lấm hồng trần).
kieu-7.gif
                                                                          H.7
Hoặc chiếc dĩa (H.8) bên phải vẽ tòa lâu đài ẩn dưới bóng trúc u nhã. Ngoài cổng đề bốn chữ “Phong nguyệt vô biên”. Bên trên vẽ cảnh “Phi Lai tự” và bên cạnh chiếc cầu vẽ một nhà sư và đạo sĩ vái chào nhau. Tương truyền vào đời Tấn (Trung Quốc) có nhà sư Huệ Lý, trong luc du sơn ngoạn thủy thấy phong cảnh nơi đây giống như ngọn núi Linh Thứu bên Thiên Trúc (Ấn Độ). Cho rằng núi này từ Thiên Trúc bay sang Trung Quốc nên sư đặt tên là Linh Thứu sơn rồi lập chùa Phi Lai ở ẩn tu hành.

kieu-8.gif
Xuyên suốt quá trình lịch sử hơn 2.000 năm kể từ khi du nhập Việt Nam, Phật giáo đã để lại nhiều dấu ấn lịch sử, văn hóa trong đời sống dân tộc. Trong đó, đồ sứ ký kiểu các điển tích Phật giáo hiện còn là một trong những di vật quý giá cần được bảo tồn.

GIANG PHONG(Theo Giac Ngo)