Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013

Giải mã "lời nguyền chết chóc" ở làng Cóc

Ba thanh niên đều chết đuối ở ngay khúc sông vào làng do ngã từ trên cầu xuống. Kỳ lạ hơn, tất cả đều chết ở tư thế... ngồi như con cóc.
Ngôi làng được ba ngọn núi Cóc bảo vệ nhưng vào một ngày, những ngọn núi thiêng bị nổ mìn đánh đá đã dẫn tới những cái chết tức tưởi. Người ta cho rằng, họ đã xâm phạm đến lời nguyền nghìn năm trước.
Yểm vàng ở làng Cóc
Làng Cóc thuộc xã Tượng Văn, Nông Cống, Thanh Hóa. Cái tên làng Cóc đã có từ rất lâu đời nhưng chẳng ai hiểu rõ gốc tích tên làng. Nhưng kể từ sau cái chết của ba thanh niên trai trẻ thì mọi người mới ngộ ra “lời nguyền” nghìn năm trước và câu chuyện làng bị “trấn yểm” mới dần hé lộ.
Theo các cao niên thì làng Cóc được sự chở che và bảo vệ của ba vị "thần Cóc" nằm ở 3 vị trí khác nhau và hướng về phía trung tâm của làng. Trong đó, một “thần Cóc” được gọi là ông Cóc nằm ở chân núi, một “thần Cóc” khác được gọi là bà Cóc thì thân hình đậm hơn, ngâm mình dưới sông. “Thần Cóc” còn lại nằm ở cuối ngôi làng, nửa mình ngâm nước, nửa mình trên cạn. Người dân cho rằng, ba “vị thần” Cóc đã bảo vệ ngôi làng suốt những năm qua.
Thế nhưng, kể từ khi xuất hiện tin đồn từ một thầy bói phán rằng, đất này bị yểm vàng bởi một tên ác bá thời phong kiến và vàng hiện nằm trong khu vực những ngọn núi được gọi là “thần Cóc”. Tin đồn lan khắp nơi, khiến dân săn đồ cổ kéo đến rầm rộ.
Còn những kẻ tham lam thì vác cuốc xẻng đi đào tung ngôi làng. Nhưng kinh hoàng hơn, vào một buổi sáng cả làng phải chứng kiến cảnh ba vị “thần Cóc” bị mìn nổ tan tành. Và chẳng bao lâu, ngôi làng phải chứng kiến cái chết kỳ lạ của 3 thanh niên trai trẻ.
Cụ Nguyễn Thế Nguyên rầu rĩ cho biết vì lòng tham của một số người mà cả làng chịu tội. Kẻ xấu đã đào đúng vị trí “trấn yểm”, phạm vào lời nguyền nên 3 mạng người phải ra đi vì bị “thần Cóc” bắt. Nhưng có một điều lạ về ba cái chết kia, đó là những người trẻ tuổi, đều không phải có gốc tổ tiên trong làng và tất cả đều chết đuối ở ngay khúc sông vào làng do bị ngã từ trên cầu xuống. Từ đó, cây cầu có tên "cầu tử". Kỳ lạ hơn là cả ba người đều chết ở tư thế ngồi như con cóc.
Trong số ba nạn nhân chết đuối tại làng Cóc, một người quê ở xã Thanh Thủy, huyện Tĩnh Gia đi mua lợn con về qua cầu thì gặp nạn. Anh Nguyễn Thế Đức, nhà gần cầu cho hay, hôm đó có hai người đàn ông chở một xe lợn con đi về ngang cây cầu. Một người xuống đẩy xe nhưng khi đến giữa cầu thì bất ngờ người ngồi trên xe bị ngã xuống sông.

Tảng đá hình con cóc ở làng Cóc
Nghe tiếng kêu cứu, mọi người chạy ra thì không tìm thấy người lái xe đâu, chỉ thấy người đẩy xe mặt trắng bệch run bần bật như vừa phải chứng kiến điều gì khủng khiếp lắm. Mọi người hỏi han nhưng anh ta không nói được lời nào.
Làng có "trăn tu"
Cụ Nguyên còn cho biết thêm, trước đây trong làng có cây đa cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Gốc đa to vài người ôm chưa xuể. Dưới gốc đa là một tảng đá lớn bằng phẳng mà người ta vẫn quan niệm là “giường của thần tiên”. Dưới gốc đa, người trong làng vẫn thường nhìn thấy một con "trăn tu" nặng khoảng 30 - 40kg ẩn mình dưới gốc đa. Nhưng sau đó do khu vực này bị đánh đá "trăn tu" bỏ đi nơi khác, cây đa cổ thụ cũng bị quật gẫy sau một cơn bão.

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2013

Huyền Môn Ký (Một cõi âm dương)-Chương II

Tác Giả: Tamandieungo

CHƯƠNG II:

Bà Chín Linh nhi là một đạo hữu mà tôi quen biết trong một lần đi núi Cấm. Lúc ấy, trong đoàn hành hương của bà có người bị chư vị tá điển mà không xuất được, cả đoàn cuống quít khấn vái tứ tung. Tình cờ lúc đó tôi cùng sư huynh Minh Tịnh đi ngang qua. Thấy cô gái bị vật vã không thôi, chịu không được tôi liền xin một chén nước làm phép giải điển, nửa chén tạt vào mặt và rưới lên đầu, nửa chén còn lại cho cô uống. Sau khi cô gái tỉnh hẳn, chúng tôi tiếp tục lên đường. Bà Chín chạy theo làm quen… vậy là tôi có thêm một đạo hữu mới.
Sở dĩ gọi là bà Chín Linh nhi vì chồng bà thứ Chín, gọi theo thứ của chồng. Phần của bà là thu thập các vong con nít về nhà lập trang thờ, hương khói mỗi ngày nghiêm túc. Mỗi khi có ai đó hiếm muộn đến nhờ vả cầu con,bà liền coi tướng trạng, hỏi tên tuổi,nghe mạch lý. Thấy được, bà liền đưa vào bàn thờ van vái Tử Tôn nương nương và xin quẻ âm dương. Được keo, bà đưa ngay ra phía sau nhà, nơi có gian thờ biệt lập để lựa con. Ở trong gian thờ, bà đóng thành kệ như bậc thang. Trên mỗi kệ bà để lủ khủ các con búp bê lớn nhỏ đủ kiểu đặt ở tư thế ngồi. Thân chủ có duyên với con búp bê nào, bà đưa con búp bê ấy đem về nhà để thờ, cho đến khi nào thân chủ có mang thì đem hoá nó đi.
Có một lần, bà Chín đi “thu gom” nhằm càn ranh con lộn thuộc loại oan gia trái chủ.Ngay tối hôm đó, gian thờ linh nhi của bà dậy rân trời tiếng trẻ con khóc thét, tiếng la hét, đùa giỡn, đập phá đồ đạc ầm ầm như một trận ác chiến. Cả nhà hoảng hồn mở đèn chạy vào xem thì mọi thứ vẫn nằm im lìm nguyên vẹn như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Sự việc ngày càng tệ hơn. Ở những đêm kế tiếp, phòng ngủ của từng người bị gõ cửa liên tục như sắp bị phá đến nơi, thức dậy mở cửa ra thì không có người nào. Ban đầu, lũ quỷ con chỉ phá lúc tắt đèn. Về sau, dù đèn mở sáng choang vẫn nghe mồn một tiếng la hét quậy phá của một bầy con nít.
Sự việc lên đến cao trào khi đứa con gái đầu của bà Chín đang ngủ, đến nửa đêm nghe nặng ngực khó thở, mở mắt ra nhìn thì thấy một đứa trẻ mình mẩy máu me không đang ngồi chễm chệ trên ngực. Cô hoảng hồn la hét kinh hoàng đến nỗi hàng xóm xung quanh mở đèn chạy sang cứu giúp…
Bà Chín đã làm hết cách nhưng vẫn không hiệu quả, nhiều huynh đệ khác nhảy vào cúng bái kết cục vẫn như cũ. Cuối cùng,bà chợt nhớ đến tôi…
Ngày đầu tiên tôi đến cúng, mọi thứ có vẻ êm đẹp. Nhưng chỉ yên ổn đúng một đêm, qua đêm sau mọi thứ vẫn đâu vào đấy, thậm chí đám tiểu quỉ quậy còn bạo hơn lúc trước. Tức mình, tôi sử dụng ấn Tam Sơn quyết của Tổ sư truyền kết hợp với bùa trị càn ranh con lộn để khắc chế. Kết quả cũng chẳng ăn thua. Tôi đành chạy về cầu cứu thầy tôi. Thầy tôi nói từ trước đến nay chưa gặp trường hợp này nên chưa nghĩ ra cách tốt nhất, thầy khuyên tôi chạy về chùa gặp sư công một chuyến.
Sau khi nghe tôi thưa chuyện, sư công tôi cười nói:

Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013

GIỚI THIỆU KHOA HỌC ĐẶT TÊN

Việc đặt tên có ý nghĩa vô cùng quan trọng, cái tên có vai trò ảnh hưởng rất nhiều đến vận mệnh của cả một đời người. Cái tên của mỗi người chính là biểu tượng phản ánh toàn bộ chủ thể bản thân con người ấy. Cái tên cũng dùng rất nhiều trong giao tiếp, trong học tập, sinh hoạt, công việc hàng ngày. Vì lẽ đó, cái tên tạo thành một trường năng lượng có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến vận mệnh mỗi con người.

Từ xa xưa cha ông ta đã lưu ý rất nhiều khi đặt tên cho con cháu mình, thời Phong Kiến, người xưa có quan niệm rằng kỵ đặt tên phạm huý, tức là tên trùng với tên họ của vua quan quý tộc, như thế sẽ bất lợi cho con cháu. Ngoài ra, cũng kỵ đặt những tên quá mỹ miều, sợ quỷ thần ghen ghét làm hại nên lúc nhỏ sẽ khó nuôi. Những người có học hành, chữ nghĩa thì đặt tên con cháu theo những ý nghĩa đặc trưng của Nho Giáo như Trung, Nghĩa, Hiếu, Thiện,…
Ngày nay việc đặt tên có xu hướng phóng khoáng hơn xưa nhưng cái tên vẫn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, không những chỉ mang yếu tố mỹ cảm mà về yếu tố Âm Dương, Ngũ Hành cái tên còn có vai trò rất quan trọng trong việc cải tạo vận mệnh của mỗi người.

Tổng quan những lý thuyết quan trọng cho việc đặt tên bao hàm những yếu tố sau:
- Cái tên được đặt phải phù hợp với truyền thống của mỗi dòng họ. Từ xưa đến nay trong văn hoá Việt Nam nói riêng và văn hoá Á Đông nói chung đề cao vai trò của gia đình, dòng họ. Con cháu phải kế thừa và phát huy được những truyền thống của tổ tiên gia tộc mình. Điều này thể hiện trong phả hệ, những người cùng một tổ, một chi thường mang một họ, đệm giống nhau với ý nghĩa mang tính kế thừa đặc trưng của mỗi chi, mỗi họ như họ Vũ Khắc, Nguyễn Đức,…

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

Huyền Môn Ký (Một cõi âm dương)-Chương I

Xin  được post lên đây hầu độc giả những câu chuyện li kỳ về huyền thuật ( bùa phép, ma qủy…) mà Tác giả Tamandieungo đã gửi gắm trên trang TGVH. Tôi xin mạn phép được đặt lại tên truyện vì theo anh thì “nghĩ mãi không biết đặt tựa là gì” nên đặt Một cõi âm dương. Theo tôi mỗi câu chuyện của anh là một hồi ức đẹp đầy tình người với lối viết hấp dẫn lôi cuốn về Thế giới vô hình.

CHƯƠNG I:
Chiều xuống nhanh, cái ánh sáng vàng vọt mặt trời xuyên qua tàng cây trứng cá rọi xuống chiếc võng tôi đang nằm. Những cơn gió nhè nhẹ thổi rung cành lá, từng đốm sáng lấp lánh nhảy múa quanh võng tôi như trêu ghẹo.Tia sáng đã nhạt rồi, không còn cảm giác gay gắt như lúc nãy. Giá như trước đây, giờ này tôi đã leo lên sân thượng luyện mặt trời. Mới nghĩ đến thôi, cả người tôi bỗng chạy rần rật như điện chạy, trong đầu tôi vang lên ong ong câu chú “Án thiết toà thần lai ứng hiện…”. Nhưng tôi liền gạt phắt sang một bên không muốn nhớ tới. Giờ đây, những tia sáng yếu ớt này không còn đủ ma lực quyến rũ tôi như trước nữa. Tôi bỏ tất cả, kể từ cái ngày định mệnh ấy…

Đó là cái ngày đứa em trai út của tôi bị tai nạn giao thông mà chết. Tôi không có mặt ở nhà để được nhìn mặt em lần cuối. Đâu có ai hiểu hết nỗi đau khổ của tôi, một người làm thầy, đoán biết khí số của em mình đã tận mà không cách gì cứu vãn được. Dù sư công tôi có khuyên nhủ rằng đó lá định số, nhưng tôi vẫn không cam lòng. Ngày mồng Năm tháng Năm, nhận được điềm báo tử, tôi tính ra điềm báo ứng vào tháng Sáu. Tôi vội vã trao cho em tôi bài kinh Tổ, chú hộ mạng , cả bức tượng Lục Tổ Magaham mà sư công tôi bỏ ra 21 ngày chú nguyện tơm phép. Tôi bắt buộc nó mỗi ngày phải thay tôi thắp nhang trì tụng, không được phép cởi dây chuyền và mặt tượng, không được uống rượu bia…Tôi thắp sẵn ngọn đèn bổn mạng của nó trên bàn thờ, ngày đêm canh chừng không cho đèn tắt… Vậy mà nó vẫn rời bỏ gia đình, bỏ cuộc đời này một cách dữ dội và đau đớn…
Bước sang ngày mồng Một, tôi kẹt đưa đoàn khách đi miền Tây ba ngày. Trưa hôm đó, một con bướm nhỏ bay vào trong bóng đèn và chết cháy, ngọn đèn cũng tắt theo. Tối hôm đó, vì lỡ uống rượu bia với đám bạn cũ, em tôi không dám đeo tượng . Nó cũng không dám đọc kinh chú, chỉ lặng lẽ thắp hương… để rồi sau đó một giờ, trong lúc băng qua đường, nó bị xe hàng cán chết…
Từ ngày đó, tôi bỏ công việc,từ chối gặp gỡ bạn bè, đồng đạo, tự nhốt mình trong nhà, rút vào trong vỏ ốc của sự cô đơn vằn vặt…

Hỏi đáp về Ngải nghệ

Omanizen-Nhận thấy những giải đáp của Huynh Tamandieungo vừa bổ ích, thiết thực và đặc biệt là phá vỡ vòng u u minh minh bấy lâu mà bao người ngộ nhận về ngải nghệ cũng như  về Thế giới vô hình. Những chỉ dẫn, giải đáp chân tình mang đầy tâm sự của huynh theo Omani thiển nghĩ cũng là nỗi lo lắng chung của những người theo huyền thuật tâm huyết với nghề giữa đời mạt pháp này.
Tuy đây chỉ là những giải đáp về ngải nghệ mà bên trong câu chuyện còn hướng ta đến cái thiện và chính nghĩa. Hi vọng độc giả tìm được câu trả lời mà mình cần với cái tâm trong sáng giữa nhân tình thế thái thật giả khó phân hầu tìm ra con đường giải thoát cho chính bản thân mình.
—————————————————————————————–
1.Xin cho phép đệ hỏi huynh vài điều và cũng là để cho huynh đệ gần xa có thêm hiểi biết về ngải. mình trồng ngải đa số là để cầu tài và may mắn nhưng có một số trường hợp khi trồng ngải bị phản tác dụng dù mình không làm điều xấu hại người. nếu mình chăm sóc ngải đầy đủ thì có khi nào bị phản tác dụng không vậy ? Người có gia đình nuôi ngải trong nhà có ảnh hưởng tới gia đnh không vậy ? Có phải những thày nuôi ngải nếu có bàn thờ tổ ngải sẽ không bao giờ bị ngải làm xấu ngược lại mình không vậy ? người ta nói ngải như con dao hai lưỡi vậy ý kiến thày về việc này thế nào ?

Những trường hợp bạn anhvu_75 trình bày chỉ đúng với người luyện ngải hoặc được thầy cấp ngải có cột tên tuổi mình vào đó. Nếu ta trồng bình thường như cây cảnh sẽ không có xảy ra kết quả như vậy đâu.
Những trường hợp bị phản tác dụng thường xảy ra do chủ nhân vướng phải các điều cấm kỵ sau:
1- Ăn phạm đồ khắc kị của ngải. Điều này các môn phái thần quyền cũng có. Ngoài những món độc như trâu, chó, mèo, ngựa, rau dấp cá… người nuôi ngải phải kiêng cử tỏi, hành, hẹ, kiệu sống. Những thứ này ăn vào trong người dễ bị ngải hành. Phổ biến nhất là tay chân lở loét. Người đời tưởng bệnh da liễu, thật ra họ bị ngải ăn.
2- Chậu ngải bị vướng đồ nhơ uế.
3- Ngải bị người khác cố tình phá hại… Điều này thường xảy ra khi chủ nhân trồng không biết giữ gìn các chậu ngải cẩn trọng, thường hay khoe với người khác hoặc để cho người khác tiếp cận với chậu ngải đã tơm phép.
Người có gia đình vẫn nuôi ngải bình thường. Vì bản thân cây ngải không phải là tà độc. Các cây mình trồng bình thường thì có gì phải ngại?
Đối với các loài độc tướng, người thầy luyện ngải phải đem vào sâu trong vườn nhà, cách biệt với người xung quanh, không để người nhà tiếp xúc. Còn chúng ta trồng ngải cầu tài, vả lại cũng không tơm phép đọc chú … thì làm gì có ảnh hưởng?
Chỉ có thầy ngải chuyên nghiệp mới lập bàn thờ tổ ngải. Nhưng, đâu phải cứ có bàn thờ tổ ngải thì ngải không làm hại. Đã thờ tổ thì càng phải giữ gìn giới luật, môn qui. Nếu vi phạm, thầy ngải còn bị nặng hơn những người khác nữa. Một phần trong những điều cần giữ gìn, tôi đã gõ ở phần trên rồi đó.

Tặng sách e-book: Mông Sơn Thí Thực

Bắt nguồn sâu xa từ kinh Cứu Bạt Diệm Khẩu Đà-la-ni do đại sư Bất Không phiên dịch và truyền bá ở Trung Quốc vào đời Đường, phép cúng thí thực có mục đích đem tình thương bao la cứu độ loài ngạ quỷ lang thanh khổ sở giữa chốn u minh. Sang đời Tống, đại sư Bất Động tham cứu thêm các kinh điển Mật tông khác, diễn dịch thành phép Tiểu thí thực. Vì đại sư tu tập ở núi Mông Sơn, nên phép này được gọi là Tiểu Mông Sơn và được thực hành hàng ngày như một khoa nghi thiết yếu của Mật tông.

Qua các đời Nguyên, Minh, khoa nghi này dần biến đổi, pha trộn với nghi thức của các tông phái khác, chen thêm phần văn thí thực, triệu thỉnh vào phần trì chú biến thực, siêu độ, thể hiện trọn vẹn lòng từ bi vô lượng của Phật giáo, nhằm cứu độ mọi chúng sinh còn trôi nổi lạc loài trong Bà đường dữ.

Khoa nghi này truyền sang nước ta đã lâu đời, thường được gọi là nghi thức đăng đàn chẩn tế, do các cao tăng làm sám chủ.

Mời bạn đón đọc.

Link download: Mông Sơn Thí Thực

Hồ Con Rùa và khám Chí Hòa trong thế trấn yểm long mạch Sài Gòn

Hai kiến trúc độc đáo này không chỉ nổi tiếng ở Sài Gòn mà còn có rất nhiều giai thoại mang màu sắc huyền bí, ly kỳ xung quanh.

Con rùa lớn yểm đuôi rồng

Hồ Con Rùa có tên chính thức là Công trường Quốc tế (trước là Công trường Chiến sĩ trận vong). Đây là nút giao của 3 con đường Võ Văn Tần, Phạm Ngọc Thạch và Trần Cao Vân. Tuy không chính thức được xác nhận, nhưng rất nhiều giai thoại cho rằng hồ Con Rùa được thiết kế thêm hồ phun nước hình bát giác, con rùa đội bia. Và trụ đứng vươn lên cao ở giữa hồ chính là biểu tượng bát quái đồ, Kim Quy cùng chiếc đại đinh đóng xuống đất là để yểm đuôi rồng.

Các vị cao niên kinh qua nhiều giai đoạn lịch sử thăng trầm của vùng đất này đã kể những giai thoại rằng, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vốn là người đa nghi. Bởi vậy, sau khi nhậm chức tổng thống, ông luôn trong tâm trạng bất an, lo lắng cho vị thế của mình. Vào năm 1967, nghe tin có thầy địa lý cao tay ở Hong Kong, ông Thiệu liền cho người mời sang Việt Nam để trấn yểm Dinh Độc Lập.

Thầy địa lý nghiên cứu đến mấy ngày sau rồi phán: “Dinh Độc Lập được xây trên long mạch, trấn ngay vị trí đầu rồng. Đuôi rồng nằm cách đó non 1 km, rơi vào vị trí Công trường Chiến sĩ trận vong. Cần phải dùng một con rùa lớn trấn yểm đuôi rồng lại thì sự nghiệp của tổng thống mới mong bền vững”.


Hồ Con Rùa năm 1972

Vợ chồng Nguyễn Văn Thiệu lập tức tin theo, cho xây hồ nước theo hình bát giác, phỏng theo bát quái đồ, một biểu tượng phong thủy thường dùng để của người xưa. Hồ có 4 đường đi bộ xoắn ốc đều hướng đến khu vực trung tâm là đài tưởng niệm và hình tượng con rùa bằng hợp kim đội bia đá.