Chủ Nhật, 14 tháng 3, 2010

Đá Amazonit

Công thức:
KA1Si3O8- Độ cứng theo thang Mohs: 5,0- 5,5-Khối lượng riêng: 2,5- 2,6 g/cm3. Hệ tinh thể xiên -Ánh thủy tinh, Amazonit – fenspat xanh lá cây hay xanh lá cây phớt xanh da trời có ánh tơ trăng mờ. Loại đá này đã được biết tới từ thời cổ đại.Trên lãnh thổ Êtiôpi và Ai cập đã có những khu mỏ amazonit từ vài nghìn năm trước Công nguyên.
Những nhà sử học khẳng định rằng, đầu tiên vào năm 1783 R. B. Rome de Lille đặt tên cho một số viên đa màu xanh lá cây lấy từ khu vực sông amazôn là “đá của các nữ chiến binh Amazôn”. Về sau, vào năm 1847 A. Breithaut đặt cho loại đá này tên ngắn gọn là “amazonit”. Thần thoại cổ Hi Lạp khẳng định rằng Hyppolita – người chỉ huy cúa các n ữ chiến binh Amazôn có chiếc thắt lưng làm bằng những viên đá màu xanh lá cây. Có lẽ đó chính là đá amazonit? Nhưng dù sao, theo bằng chững chủ những nhà sử học cổ đại “những viên đá của các nữ chiên binh Amazôn” dường như lấy được từ dãy núi Riphaei. Đó là tên gọi trước kia của Ural, nơi thật sự có amazonit. Mỏ amazonit cũng có ở Braxin, Ai Cập, Canađa, Mông Cổ, Na Uy, Hoa Kỳ và Nam Phi, trên bán đảo Kol’ski, vùng Trung Á và Ukraina.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét