- Lịch sử hình thành
- Phân tích kỹ thuật là gì?
- Các giả định nền tảng
- Vai trò của phân tích kỹ thuật
- Các loại biểu đồ
- Xu thế, Đường xu thế, Kênh
- Mức hoàn lại, Khung giao dịch
- Hỗ trợ và kháng cự
- Khối lượng giao dịch
- Lý thuyết Dow
- Lịch sử hình thành:
- Sau nhiều năm nghiên cứu, năm 1884, Charles H. Dow, người sáng lập tạp chí The Wall Street Journal, đã đưa ra chỉ số bình quân của giá đóng cửa của 11 cổ phiếu quan trọng nhất thị trường Mỹ thời gian đó.
- William Peter Hamilton mang lại sức sống cho những nghiên cứu của Dow và xuất bản cuốn sách “The Stock Market Barometer” vào năm 1922.
- Suốt những năm 1920 và 1930, Richard W. Schabacker là người đã đi sâu vào những nghiên cứu của Dow và Hamilton, và đã đưa ra khái niệm đầu tiên về PTKT. Ông chỉ ra rằng những dấu hiệu mà lý thuyết Dow đưa ra được với chỉ số bình quân thị trường vẫn giữ nguyên giá trị và tầm quan trọng khi áp dụng vào đồ thị của từng cổ phiếu riêng lẻ được thể hiện và chứng minh trong cuốn “Stock Market Theory and Practice, Technical Market Analysis and Stock Market Profit”.
- Tiếp đó là Edward và Magee với “Technical Analysis of Stock Trend” và ngày nay là John Murphy, Jack Schwager, Martin Pring,… thì PTKT mới thực sự trở thành một hệ thống lý luận quan trọng trong phân tích đầu tư trên thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung.
- Phân tích kỹ thuật là gì?
- “Nguyên lý của thành công trong đầu tư chứng khoán là dựa trên giả định rằng trong tương lai người ta sẽ tiếp tục lặp lại những sai lầm mà họ đã mắc phải trong quá khứ” - Edwin Lefevre, Reminiscenses of a Stock Operator.
- Thị trường chứng khoán hay bất kỳ thị trường nào đều không bao giờ phản ánh đúng giá trị thực của một hàng hóa được trao đổi mà nó phản ánh giá trị mà nhà đầu tư nhận thức được và cho rằng nó đáng giá như thế.
- Giá của một chứng khoán là sự phản ánh kỳ vọng tương lai của cung và cầu về chứng khoán đó.
- Phân tích kỹ thuật có thể được hiểu thuần túy là một khoa học mà cũng có thể được hiểu là một nghệ thuật.
- Nick và Barbara Apostolous: Phân tích kỹ thuật là “quá trình dự báo biến động giá chứng khoán trong tương lai dựa trên cơ sở phân tích những biến động trong quá khứ của giá và các áp lực cung cầu có ảnh hưởng đến giá” ~ Phân tích cơ bản.
- Norman Fosback, trong cuốn “Stock Market Logic”: “Nếu như bản chất của PTCB là việc xác định giá trị và xác định mua hay bán cổ phiếu khi giá trên thị trường sai lệch khỏi giá trị thực, thì PTKT lại dựa trên 2 giả thuyết cơ bản khác hoàn toàn. Thứ nhất, những ước lượng mang tính chủ quan là quá mơ hồ và không thích hợp và thứ hai là dao động giá trong tương lai có thể dự đoán được qua việc phân tích biến động giá trong quá khứ, phân tích mối quan hệ cung - cầu và một số yếu tố khác có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả thị trường”
- Clifford Pistolese: “PTKT là việc sử dụng biểu đồ giá và KLGD dịch làm cơ sở cho các quyết định đầu tư. Cơ sở căn bản cho hướng tiếp cận này là ở chỗ các thông tin về giá và khối lượng trên biểu đồ phản ánh tất cả những gì diễn ra về việc mua hay bán một loại cổ phiếu. Vì biểu đồ cổ phiếu tóm tắt và phản ánh kết quả thực của các giao dịch đã thực hiện nên PTKT là cơ sở duy nhất cho việc ra các quyết định đầu tư”
- R. W. Schabacker: “Việc PTKT các biến động thị trường là một khía cạnh của phân tích, dựa trên cơ sở những hiện tượng phát sinh từ chính thị trường, bỏ qua những tác động của các yếu tố trong PTCB và các yếu tố khác. Trên thực tế PTKT có thể được giải thích đơn giản chỉ là phát biểu một cách đối lập lại với việc xem xét theo trường phái PTCB. Khía cạnh cơ bản của phân tích thị trường nhắm mối quan tâm đặc biệt vào những yếu tố như doanh nghiệp phát hành cổ phiếu, việc kinh doanh của doanh nghiệp, tiềm năng, họat động trong quá khứ, thu nhập hiện tại và tương lai, bảng cân đối kế toán, sức mạnh tài chính, chất lượng của đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp,… Các yếu tố kỹ thuật là những gì có thể được coi là tổng thể các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng biến động về giá cổ phiếu sau khi đã bỏ qua các yếu tố thuộc phân tích cơ bản và những yếu tố không thực sự có ảnh hưởng. ”
- Edward và Magee: “PTKT là môn khoa học của sự ghi nhận lại, thường là dưới dạng đồ thị, những hoạt động giao dịch diễn ra trong quá khứ gây lên những thay đổi về giá, KLGD,… của một chứng khoán bất kỳ hay với chung toàn bộ thị trường và sau đó sẽ dựa trên “bức tranh về quá khứ” đó để suy luận ra xu thế có thể xảy ra trong tương lai”
- Edward và Magee: còn đưa ra 4 điểm căn bản sau về PTKT:
- Giá trị thị trường của một CK được xác định duy nhất thông qua tác động qua lại giữa cung và cầu.
- Cung và cầu chịu ảnh hưởng, ở bất kì thời điểm nào, bởi hàng trăm những yếu tố, một số là ảnh hưởng hợp lý, một số hầu như phi lý. Thông tin, ý kiến, tâm lý, dự đoán,…(có thể đúng, có thể sai,…) về tương lai kết hợp và trộn lẫn với nhau và với những yếu tố cần thiết khác để tạo thành sự cân bằng chung của toàn thị trường. Không một cá nhân nào có thể nắm lấy và định lượng những điều này mà thị trường sẽ tự thực hiện.
- Bỏ qua những dao động nhỏ thì giá nhìn chung sẽ vận động theo những xu thế giá chung của thị trường, những xu thế này là ổn định trong một khoảng thời gian tương đối dài.
- Những thay đổi trong xu thế thị trường thể hiện qua sự dịch chuyển của điểm cân bằng cung cầu dù là vì bất kì nguyên nhân nào đều có thể xác định sớm hơn hoặc muộn hơn thời điểm thị trường biến động.
- Steven B. Achelis, tác giả của cuốn sách “Technical Analysis from A to Z”:
“Phân tích kỹ thuật là việc nghiên cứu giá, với công cụ cơ bản là biểu đồ, nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư…”
- Các giả định nền tảng:
- Giá phản ánh tất cả thông tin về thị trường: tất cả các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến giá như tâm lý, chính trị, kinh tế hay các yếu tố tài chính của doanh nghiệp, tổ chức . . . đều được phản ánh rõ trong giá thị trường. Giá phản ánh những biến động trong cung, cầu.
- Giá dịch chuyển theo xu thế chung: Mục đích của việc xác lập đồ thị mô tả những biến động giá trên thị trường là nhằm xác định được sớm những xu thế giá, từ đó sẽ tham gia giao dịch trên cơ sở những xu thế này.
“Một xu thế giá đang vận động sẽ tiếp tục theo xu thế của nó và ít khi có đảo chiều”. Hệ quả này rút ra từ định luật 1 về sự vận động của Newton, do đó nó cách phát biểu khác như sau: "Một xu thế đang vận động sẽ tiếp tục theo xu thế của nó cho đến khi nó đảo chiều”.
Phát hiện, đi theo xu thế cho đến khi thấy xuất hiện dấu hiệu đảo chiều.
- Quá khứ tự nó sẽ lặp lại: PTKT là nghiên cứu sự biến động giá cả mà giá cả là do con người quyết định, nên về bản chất giá cả phản ánh tâm lý đầu tư của con người. Mà tâm lý con người thì thường không thay đổi, nên các mẫu hình đồ thị xảy ra trong quá khứ thế nào thì cũng sẽ lặp lại ở tương lai như vậy.
“Chìa khóa để nắm bắt tương lai nằm trong việc nghiên cứu quá khứ”
“Tương lai chỉ là sự lặp lại của quá khứ”
“Nhân loại có thể tìm thấy tương lai trong quá khứ “
- Vai trò của PTKT:
- Công cụ báo động: cảnh báo sự xuyên phá các ngưỡng an toàn (hỗ trợ và kháng cự) và thiết lập nên các ngưỡng an toàn mới, mức giá mới thay vì dao động quanh mức giá cũ. Việc nhận biết các dấu hiệu về sự thay đổi mức giá càng sớm càng tốt à hành động mua vào hoặc bán ra kịp thời.
- Công cụ xác nhận: sử dụng kết hợp các phương pháp kỹ thuật để xác nhận về xu thế của giá giúp Nhà đầu tư có được kết luận chính xác và tối ưu hơn.
- Công cụ dự đoán: sử dụng các kết luận của PTKT để dự đoán giá cả của tương lai với kỳ vọng về khả năng dự đoán tốt hơn. Tuy nhiên, Nhà đầu tư cần phải tính đến một xác suất an toàn và chấp nhận rủi ro khi dự đoán là không phù hợp. Không ai có thể nói trước tương lai chỉ bằng thông tin trong quá khứ.
- Các loại biểu đồ
- Biểu đồ dạng đường (Line chart)
- Biểu đồ dạng thanh (Bar chart)
- Biểu đồ dạng hình nến (Candlestick chart)
- Xu thế, Đường xu thế, Kênh
- Xu thế:
• Xu thế giá tăng gồm liên tiếp những đỉnh giá cao dần và đáy giá cao dần (đỉnh trước thấp hơn đỉnh sau và đáy trước thấp hơn đáy sau). Một xu thế giá tăng sẽ được coi là vẫn duy trì cho đến khi xuất hiện một đáy mới thấp hơn đáy trước nó.
• Ngược lại xu thế giá giảm cũng sẽ được coi là vẫn đang tiếp diễn cho đến khi xuất hiện một đỉnh mới cao hơn đỉnh trước nó.
• Nhận biết xu thế là một công việc cực kỳ quan trọng trong PTKT giúp giảm thiểu rủi ro khi quyết định tham gia thị trường:
– Mua vào nếu là xu thế lên
– Bán ra nếu là xu thế xuống
– Đứng ngoài thị trường là khôn ngoan nhất nếu xu thế đang dịch chuyển theo chiều ngang.
• Và nếu không thể nhận biết được xu thế thì tốt nhất là cũng nên đứng ngoài thị trường.
• Khi nào thì một xu thế kết thúc? Khi nào thì ta nên thoát khỏi một vị thế mua hoặc bán?
Câu trả lời cho cả hai câu hỏi trên nằm ở thuật ngữ:
“Điểm gãy” (Điểm đột phá) - “Breakout Point”
• “Điểm gãy” là điểm mà tại đó đường giá cắt ngang qua đường xu thế hiện hành của nó. Điểm gãy báo hiệu cho sự kết thúc một xu thế và thay thế bằng một xu thế khác.
• Ngoài ra “điểm gãy” cũng xuất hiện khi đường giá cắt ngang qua mức hỗ trợ và mức kháng cự báo hiệu một sự đột phá mới trong xu thế giá
- Đường xu thế (trend line):
• Đường xu thế giá tăng là đường nối các điểm đáy cao dần lên và đường xu thế giảm giá là đường nối các đỉnh thấp dần xuống.
• Trong PTKT chúng ta sẽ gặp phải rất nhiều cái bẫy (Bull Trap, Bear Trap) khi quá vội vã mua vào hay bán ra khi thấy xuất hiện tín hiệu giá trong ngày giao dịch phá vỡ đường xu hướng chính hoặc các ngưỡng hỗ trợ và ngưỡng kháng cự quan trọng.
• Để giảm bớt rủi ro này, chúng ta có thể sử dụng 2 phễu lọc: Giá và thời gian.
• Phễu lọc giá: Một “điểm gãy” chỉ được ghi nhận khi giá đóng cửa vượt khỏi đường xu thế chính ít nhất là 3%. (Con số 3% không đúng trong mọi trường hợp vì thế tùy mỗi loại hàng hóa khác nhau mà ứng dụng con số % khác nhau tùy theo kinh nghiệm mỗi người).
• Phễu lọc thời gian thông dụng nhất là quy tắc 2 ngày.
• Độ dốc tương đối của đường xu thế cũng khá quan trọng. Nhìn chung các xu thế bền vững thường có độ dốc khoảng +-450. Những đường như thế phản ánh trạng thái cân bằng giữa tốc độ tăng và giảm giá với thời gian.
• Một đường xu hướng quá dốc >> 450 hàm ý giá đang tăng quá nhanh (phản ánh tâm lý kỳ vọng của nhà đầu tư lớn một cách bất hợp lý) và nó sẽ khó có thể duy trì lâu với độ dốc lớn đó được. Và sự phá vỡ đường xu hướng quá dốc này có thể chỉ là một sự điều chỉnh đường xu hướng trở về với độ dốc hợp lý hơn khoảng 450.
• Nên tham gia vào các xu hướng có độ dốc tương đối khoảng 450.
• Nếu bạn đã lỡ tham gia vào xu hướng có độ dốc >> 450, thì phải thoát khỏi vị thế ngay lập tức khi có dấu hiệu đổi chiều.
• Không bao giờ tham gia vào xu hướng đi ngang, có độ dốc ~ 00.
- Kênh:
• Kênh là khoảng dao động của giá, nếu giá sẽ dao động trong một dải thì dải đó gọi là kênh. Dải dao động đó được xác định bởi hai đường biên là đường xu thế và đường kênh (channel line), hai đường này song song với nhau.
• Mỗi lần giá chạm vào hoặc đến gần đường kênh rồi quay trở lại đến đường xu thế là một lần kênh được kiểm tra thành công. Kênh tồn tại càng lâu với càng nhiều lần thử thành công thì vai trò cũng như độ tin cậy của nó càng lớn.
• Khi chuyển động của giá trên thị trường phá vỡ đường xu thế là dấu hiệu của sự đảo chiều của xu thế, nhưng nếu đường kênh bị chuyển động
của giá phá vỡ thì tác động lại hoàn toàn ngược lại: đây là dấu hiệu cho sự gia tăng sức mạnh của xu thế hiện tại.
của giá phá vỡ thì tác động lại hoàn toàn ngược lại: đây là dấu hiệu cho sự gia tăng sức mạnh của xu thế hiện tại.
• Khi giá không lên được đến đường kênh mà quay ngược trở lại quá sớm thì đây lại là dấu hiệu dự báo sớm sự suy giảm của xu thế hiện tại và là
dấu hiệu cho thấy có thể chuyển động của giá sẽ phá vỡ đường xu thế.
dấu hiệu cho thấy có thể chuyển động của giá sẽ phá vỡ đường xu thế.
Xu hướng tăng:
• Nếu giá chuyển động vượt qua đường kênh một khoảng lớn à xu thế lên giá đang mạnh lên à đường xu thế mới dốc hơn từ điểm đáy cuối cùng song song với đường kênh mới.
• Nếu giá không đạt được đến đường kênh và chuyển động phá vỡ đường xu thế à xu thế thị trường có khả năng đổi chiều thành xu thế giá giảm.
• Khi giá chuyển động phá vỡ xu thế hiện tại - xuất hiện ‘breakout’ từ kênh hiện tại, giá thường sẽ chuyển động một khoảng bằng với độ rộng của kênh đó.
• Để xác định điểm dừng của chuyển động này ta có thể tính tương đối chính xác bằng cách đo độ rộng của kênh vừa bị phá vỡ và dự kiến điểm dừng từ điểm giá vượt ra ngoài kênh.
Xu hướng giảm: ngược lại
- Mức hoàn lại, Khung giao dịch
- Mức hoàn lại
• Sau một giai đoạn giá chuyển động theo xu thế của thị trường thì thông thường giá sẽ hoàn lại một chút trước khi quay trở lại chuyển động theo xu thế cũ.
• Mức hoàn lại trung bình thường gặp nhất là 50%, ít nhất là 1/3 mức tăng (hay giảm) trong xu thế trước đó và không vượt quá 2/3 mức tăng (hay giảm) trước đó đạt được. Nếu mức hoàn lại lớn hơn àkhả năng sẽ xảy ra sự đảo chiều.
- Khung giao dịch
• Khung giao dịch là một dải nằm ngang trên đồ thị gồm các dao động của giá trong một giai đoạn. Phản ánh thời kỳ mà áp lực cung cầu tương đối cân bằng, đôi khi còn được gọi là thời kỳ không có xu thế. Hầu hết các công cụ đều được tạo ra để có thể áp dụng vào các thị trường có xu thế tăng hoặc giảm rõ rệt còn khi thị trường không có xu thế rõ rệt thì các công cụ này nhìn chung hoạt động kém hiệu quả, thậm chí là không thể áp dụng. Đây cũng chính là thời kỳ gây khó chịu nhất cho những người đi theo PTKT và gây ra nhiều lỗ nhất. Nhà đầu tư luôn phải đối mặt với một trong ba quyết định là mua, bán hay đứng ngoài không tham gia vào thị trường và thông thường thì quyết định không tham gia vào thị trường giai đoạn này luôn là quyết định sáng suốt nhất.
• Cũng giống như kênh, khung giao dịch cũng có các đường biên bên trên và bên dưới, đây chính là các đường kháng cự và hỗ trợ của khung. “Sự phá vỡ” (break out) ra ngoài khung à dấu hiệu quan trọng để tiến hành các giao dịch.
• Lưu ý, giá cũng thường dao động vượt ra ngoài khung nhưng chỉ với một mức nhỏ, sau đó quay trở lại bên trong khung nếu không có những lý do liên quan đến những yếu tố tài chính cơ bản hay có sự xuất hiện khối lượng giao dịch lớn duy trì sự vượt ra ấy.
• Không nên đi theo ngay những “breakout” mới xuất hiện mà nên chờ thêm một dao động tiếp theo xác nhận “breakout” này cho dù có thể chậm lại một chút nhưng sẽ tránh được rất nhiều dấu hiệu sai và những khoản lỗ.
- Hỗ trợ và kháng cự
- Giúp nhà đầu tư có thêm những cơ sở trong việc chọn các loại cổ phiếu để giao dịch, dự đoán các biến động tiềm năng và chỉ ra những thời điểm mà thị trường có thể gây ra bất lợi cho vị thế của nhà đầu tư.
- Có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu phân tích các hình mẫu kỹ thuật và giúp người nghiên cứu hiểu bản chất và các ứng dụng của các hình mẫu đó.
- Mức hỗ trợ là mức giá tại đó có một lực lượng mua vào hay khả năng mua với khối lượng đủ để làm ngưng lại xu thế giảm của giá. Một mức hỗ trợ phổ biến được xác định dựa trên các đáy trước đó.
- Mức kháng cự là mức giá tại đó một lượng cung đủ lớn làm giá không tăng nữa trong một xu hướng giá lên và giá có thể chuyển động ngược lại đi xuống. Một mức kháng cự phổ biến được xác định dựa trên các đỉnh trước đó.
- Điều đáng chú ý là tại bất kỳ mức giá nào xuất hiện mức khối lượng giao dịch lớn thường đều trở thành điểm đảo chiều đối với xu thế hiện tại của thị trường và mọi điểm đảo chiều đều có xu hướng lặp đi lặp lại thường xuyên và hoàn toàn mang tính tự nhiên.
- Hai đường biên của kênh xu hướng cũng đóng vai trò như là đường hỗ trợ và đường kháng cự.
- Mức hỗ trợ và mức kháng cự không nhất thiết là một điểm cụ thể mà có thể là một vùng giá xoay quanh gần mức giá quan trọng.
- Khi vùng kháng cự (hay hỗ trợ) bị phá vỡ, nó sẽ trở thành vùng hỗ trợ (hay kháng cự).
- Vùng hỗ trợ khi bị xuyên thủng sẽ cho dấu hiệu sức cung đã thắng sức cầu, xuất hiện sự sẵn sàng bán ra mới và sự khích lệ rất kém để mua vào vì giảm kỳ vọng. Khi vùng hỗ trợ bị phá vỡ, vùng hỗ trợ khác sẽ được thiết lập ở mức giá thấp hơn. Vùng kháng cự thì ngược lại.
- Khối lượng giao dịch (KLGD)
- Khi giá tăng + KLGD tăng à rất có thể giá sẽ được đẩy cao hơn nữa.
- Khi giá tăng + KLGD giảm à rất có thể giá sẽ giảm lại.
- Khi giá giảm + KLGD tăng à rất có thể giá sẽ tiếp tục rơi thấp hơn.
- Khi giá giảm + KLGD giảm à rất có thể giá sẽ tăng trở lại ở mức cao hơn.
- Sự tăng vọt của KLGD, thường cho dấu hiệu một sự thay đổi lớn sẽ xảy ra.
- Hàng ngày sự thay đổi về KLGD thường không quan trọng lắm chỉ khi có sự thay đổi kéo dài (3-5 ngày hay nhiều hơn) thường dự báo trước sự thay đổi về giá.
- Giả định:
• Những biến động thị trường với mọi xu hướng đều có thể được dự đoán trước trên cơ sở biến động giá trên các biểu đồ.
• Phần lớn các chứng khoán tuân theo xu hướng cơ bản của thị trường.
• Xu hướng cơ bản của thị trường được hiểu là “chỉ số giá bình quân” - phản ánh xu thế chung của một số cổ phiếu đại diện cho thị trường.
• Những biến động thị trường với mọi xu hướng đều có thể được dự đoán trước trên cơ sở biến động giá trên các biểu đồ.
• Phần lớn các chứng khoán tuân theo xu hướng cơ bản của thị trường.
• Xu hướng cơ bản của thị trường được hiểu là “chỉ số giá bình quân” - phản ánh xu thế chung của một số cổ phiếu đại diện cho thị trường.
- 6 nguyên lý cơ bản:
• NGUYÊN LÝ 1: Giá phản ánh tất cả hành động thị trường
Phản ánh mọi thông tin: các yếu tố về kinh tế - chính trị, các yếu tâm lý,khả năng tăng trưởng lợi nhuận của công ty ... Thậm chí cả những thiên tai hay thảm họa không dự tính được thì ngay khi xảy ra chúng đã được thị trường phản ánh ngay vào giá của các loại chứng khoán.
Tất cả kiến thức của tất cả những người tham gia vào thị trường (nhà giao dịch, nhà đầu tư, nhà quản trị danh mục…).
• NGUYÊN LÝ 2: Thị trường có 3 sự chuyển dịch
Sự dịch chuyển chính: xu hướng giá lên (gồm các đỉnh và đáy cao hơn liên tục ) hoặc xu hướng giá xuống (gồm các đỉnh và đáy thấp hơn liên tục ) kéo dài trong một khoảng thời gian từ một đến vài năm.
Sự dịch chuyển thứ cấp: Là sự sụt giảm quan trọng trong thị trường giá lên hoặc một sự tăng giá quan trọng trong thị trường giá xuống. Khoảng thời gian dịch chuyển nhìn chung thoái lùi từ 33% - 66% (1/3 đến 2/3) và kéo dài từ 3 tuần đến nhiều tháng, thông thường 3 tháng.
Những sự dịch chuyển nhỏ: Nó chỉ quan trọng trong việc hình thành nên một phần của sự dịch chuyển chính cũng như dịch chuyển thứ cấp và thường kéo dài từ khoảng một ngày cho đến ba tuần.
• NGUYÊN LÝ 3: Mỗi xu hướng chính bao gồm ba giai đoạn riêng biệt
Trong thị trường giá lên có 3 giai đoạn:
Giai đoạn tích lũy: thể hiện việc mua có hiểu biết của các nhà đầu tư tinh thông. Nếu xu hướng trước đó là xu hướng giảm, thì tại điểm này những nhà đầu tư tinh thông nhận ra rằng thị trường đã tiêu hóa toàn bộ thông tin xấu.
Giai đoạn tham gia công chúng:xảy ra khi các mức giá bắt đầu gia tăng một cách nhanh chóng và những tin tức kinh doanh được cải thiện.
Giai đoạn phân phối: khi những tin tức kinh tế trở nên tốt hơn và sự hấp dẫn từ lợi nhuận kinh doanh CK đã thu hút sự tham gia công chúng tạo ra một cơn sốt mua CK một cách điên rồ, nhưng lúc này đã có một số nhà đầu tư mua ở giai đoạn tích lũy ban đầu bán ra nhằm chốt lợi nhuận.
Trong thị trường giá xuống có 3 giai đoạn:
Giai đoạn phân phối: những nhà đầu tư có tầm nhìn xa muốn nhanh chóng thoát khỏi thị trường. KLGD vẫn rất cao, xuất hiện những dấu hiệu của xu hướng giảm; công chúng vẫn rất “năng động”, bắt đầu có dấu hiệu lo lắng và không còn nhiều kỳ vọng kiếm lợi nhuận.
Giai đoạn hoảng loạn: Số lượng người mua giảm dần và những người bán bắt đầu trở lên vội vã bán đi những CP mình đang nắm giữ. Xu thế giảm bắt đầu tăng mạnh, đồ thị giá gần như dốc thẳng xuống và KLGD đạt đến mức đỉnh điểm. Sự sụt giảm thường xảy ra rất trầm trọng thậm chí là thái quá. Sau giai đoạn hỗn loạn có thể có giai đoạn hồi phục hoặc dao động ngang thể hiện tâm lý chán nản của một bộ phận nhà đầu tư, họ cũng chính là những người đã cố gắng nắm giữ cổ phiếu qua thời kỳ hỗn loạn trước đó hoặc cũng có thể là những người đã mua cổ phiếu trong thời kỳ đó bởi vì lúc đó giá của cổ phiếu rõ ràng là rẻ hơn rất nhiều so với trước đó vài tháng. Thông tin về các doanh nghiệp ngày càng xấu đi. Kết thúc giai đoạn này mới bước vào thời kỳ thứ ba.
Giai đoạn bán bắt buộc: xu thế đi xuống trên thị trường đã yếu dần, nhưng lại được duy trì bởi những lệnh bán nhiều và liên tục thể hiện “nỗi buồn” và sự lo lắng của những nhà đầu tư đang rất cần tiền cho những nhu cầu riêng của họ. Các cổ phiếu đều giảm đến mức thấp nhất, thậm chí gần như mất hoàn toàn giá trị. Những cổ phiếu có chất lượng cao hầu như không được giao dịch vì những người sở hữu chúng đều muốn nắm giữ đến cùng. Ở giai đoạn cuối của thị trường giá xuống, cả thị trường chỉ tập trung vào giao dịch một số loại cổ phiếu. Thị trường giá xuống kết thúc với những tin xấu về các doanh nghiệp, về thị trường ở mức có thể coi là tồi tệ nhất đã thể hiện ra và có thể đến.
• NGUYÊN LÝ 4: Các mối quan hệ giá và khối lượng tạo ra nền tảng cơ bản
Với thị trường giá tăng, khối lượng giao dịch sẽ tăng nếu giá tăng, và sẽ thu lại nếu giá giảm;
Với thị trường giá giảm, giá trị giao dịch sẽ tăng nếu giá giảm và ít khi giá có dấu hiệu phục hồi.
Dựa trên những phân tích về giá mới có thể đưa ra được những dấu hiệu mang tính quyết định về xu thế thị trường, còn khối lượng giao dịch chỉ có thể cung cấp thêm những chứng cứ phụ để giải thích rõ hơn biến động của thị trường và sử dụng vào những tình huống khi dấu hiệu chính tỏ ra còn nhiều nghi ngờ.
• NGUYÊN LÝ 5: Hành động giá xác định xu thế
Một xu thế vẫn đang tiếp tục cho đến khi có một dấu hiệu thực sự về sự đảo chiều của xu thế đó được xác định.
Xu thế tăng giá vẫn còn tồn tại khi sự tăng giá liên tiếp tạo ra các đỉnh cao hơn và sự giảm giá xen vào tạo thành các đáy cao hơn.
Xu thế giảm giá vẫn còn tồn tại khi sự giảm giá liên tiếp tạo ra các đáy thấp hơn và sự tăng giá xen vào tạo thành các đỉnh thấp hơn.
Bull Market không thể lên giá mãi và Bear Market thì sớm muộn cũng đạt đến đáy của nó.
Khi đã có những dấu hiệu về sự thay đổi của xu thế thị trường thì sự thay đổi đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
• NGUYÊN LÝ 6: Hai đường chỉ số bình quân của thị trường phải cùng xác nhận xu thế của thị trường
Trong một nền kinh tế khi ngành công nghiệp phát triển thì ngành giao thông vận tải cũng phát triển theo nên 2 chỉ số bình quân ngành công nghiệp và bình quân ngành giao thông vận tải sẽ củng cố lẫn nhau.
Chỉ số bình quân ngành công nghiệp: là trung bình giá của 20 cổ phiếu công nghiệp của Mỹ.
Chỉ số bình quân ngành giao thông vận tải: là trung bình giá của 12 cổ phiếu ngành giao thông vận tải Mỹ.
- Những hạn chế:
• Lý thuyết Dow có độ trễ
• Không phải là luôn đúng
• Thường làm cho nhà đầu tư phải băn khoăn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét