Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2009

Kinh hòang ô nhiễm môi trường ở Trung Quốc(*)


Ngày 14 tháng 10 vừa qua, lễ trao giải hàng năm lần thứ 30 của Quỹ Tưởng niệm W. Eugene Smith được tổ chức tại thành phố New York. Nhà nhiếp ảnh Lư Quảng (Lu Guang 卢广) của Trung Quốc đã được trao khoản tài trợ 30.000 đô la về Nhiếp ảnh Nhân văn cho đề án ảnh tư liệu “Nạn ô nhiễm ở Trung Quốc” của ông.


20091020-lu-guang-22
20091020-lu-guang-00
Nhà nhiếp ảnh tự do Lư Quảng khởi đầu vào năm 1980 là một chàng chụp ảnh nghiệp dư. Ông vốn là công nhân, sau mới có một tiệm ảnh riêng và làm quảng cáo. Tháng 8 năm 1993, ông quay về học sau đại học tại Viện Mỹ thuật và Thiết kế Trung ương ở Bắc Kinh (nay là Viện Mỹ thuật và Thiết kế, Đại học Thanh Hoa). Trong thời gian học, ông nghiên cứu, đi khắp nước và tạo sự nghiệp cho mình, trở thành “con ngựa ô” của giới nhiếp ảnh Bắc Kinh. Các tác phẩm đầy tính nghệ thuật, sáng tạo và sâu sắc của ông thường tập trung vào “các hiện tượng xã hội và con người sống dưới đáy xã hội”, thu hút sự chú ý của giới nhiếp ảnh và truyền thông cả nước. Nhiều tác phẩm đoạt giải của ông tập trung vào những vấn đề xã hội như “đổ xô tìm vàng ở miền Tây”, “gái nghiện”, “hầm lò than nhỏ”, “làng HIV”, “Kênh Lớn”, “xây dựng đường sắt Thanh Hải – Tây Tạng”, vân vân.
1. “Ở chỗ tiếp giáp tỉnh Ninh Hạ và tỉnh Nội Mông, tôi thấy một ống khói cao phun khói vàng che cả trời xanh, những bãi cỏ lớn giờ thành nơi đổ rác công nghiệp; mùi hôi thối không chịu đựng nổi làm người ta phát ho; nước thải công nghiệp trào ra chảy vào Hoàng Hải…”
– Lư Quảng.
20091020-lu-guang-01


2. Chất thải hóa học từ Khu công nghiệp Thái Hưng, tỉnh Giang Tô, đổ bên bờ sông Dương Tử. Ngày 15, tháng 5, 2009.
20091020-lu-guang-02
3. Gia trang họ Phạm ở thị trấn An Dương, tỉnh Hà Nam, chỉ có một bức tường ngăn gia trang này với các lò luyện thép. Dân sống trong ngôi làng bị ô nhiễm nặng nề này ngày ngày chìm trong thứ mưa sắt. Ngày 24, tháng 3, 2008.
20091020-lu-guang-03
4. Chất thải công nghiệp của khu công nghiệp Tiêu Sơn, tỉnh Triết Giang, cuối cùng chảy vào sông Tiền Đường. Ngày 24, tháng 4, 2009.
20091020-lu-guang-04
5. Chất thải của nhà máy sắt thép An Dương, tỉnh Hà Nam, chảy vào sông An Dương. Ngày 25, tháng 3, 2008.
20091020-lu-guang-05
6. Sông hồ trấn Quý Dư, tỉnh Quảng Đông bị ô nhiễm, người dân này đang rửa ở một cái ao bị ô nhiễm nghiêm trọng. Ngày 25, tháng 11, 2005.
20091020-lu-guang-06
7. Khu công nghiệp Thạch Chủy Sơn, tỉnh Ninh Hạ, ống khói cao phun khói và bụi. Cư dân khi ra ngoài phải trùm khăn kín mít để che bụi từ trên trời rơi xuống. Ngày 22, tháng 4, 2006.
20091020-lu-guang-07
8. Ở bờ biển Hoàng Hải, vô số ống dẫn chất thải chôn trên bờ và thậm chí kéo ra tận vùng biển sâu. Ngày 28, tháng 4, 2008.
20091020-lu-guang-08
9. Ở Mã Yên Sơn, dọc theo sông Dương Tử có nhiều xưởng tuyển sắt và nhà máy chế biến nhựa quy mô nhỏ. Phần lớn chất thải đổ vào sông Dương Tử. Ngày 18, tháng 6, 2009.
20091020-lu-guang-09
10. Ở Nội Mông có hai “con rồng đen“ từ nhà máy điện Lạp Tăng Miếu trùm lên các làng lân cận. Ngày 26, tháng 7, 2005.
20091020-lu-guang-10
11. Nhà máy xử lý chất thải khu công nghiệp hóa học thị trấn Thường Thị, tỉnh GiangTô, chịu trách nhiệm thu thập và xử lý chất thải công nghiệp. Tuy nhiên nhà máy chẳng làm gì, ống dẫn chất thải kéo dài 1.500 mét bên dưới sông Dương Tử và đổ chất thải ra ở đó. Ngày 11, tháng 6, 2009.
20091020-lu-guang-11
12. Đất bên sông Dương Tử bị ô nhiễm vì khu công nghiệp hóa học Mã Yên Sơn, tỉnh An Huy. Ngày 26, tháng 6, 2009.
20091020-lu-guang-12
13. Phần lớn nước thải công nghiệp từ khu công nghiệp Lạp Tăng Miếu, Nội Mông, hàng ngày chảy vào Hoàng Hà. Ngày 26, tháng 7, 2005.
20091020-lu-guang-13
14. Phần lớn nước thải công nghiệp từ nhà máy titan Trấn Giang hàng ngày đổ vào sông Dương Tử. Cách chỗ nhà máy nước trấn Đan Dương lấy nước chưa đầy 1.000 mét. Ngày 10, tháng 6, 2009.
20091020-lu-guang-14
15. Nhà máy xử lý nước thải khu công nghiệp hoá học thị trấn Hải Môn, tỉnh Giang Tô, đổ chất thải vào sông Dương Tử. Ngày 5, tháng 6, 2009.
20091020-lu-guang-15
16. Nhà máy sắt thép huyện Thiệp, tỉnh Hà Bắc gây ô nhiễm nghiêm trọng. Quy mô công ty càng phát triển thì cuộc sống của cư dân vùng này càng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngày 18, thảng, 2008.
20091020-lu-guang-16
17. Long Môn thuộc thị trấn Hà Thành, tỉnh Thiểm Tây, phát triển công nghiệp quy mô lớn. Môi trường ở đây bị ô nhiễm hết sức nghiêm trọng. Ngày 8, tháng 4, 2008.
20091020-lu-guang-17
18. Ở khu công nghiệp Tân Hải, tỉnh Giang Tô, có trên 100 nhà máy hóa học. Một số đổ chất thải ra biển, một số thì lưu chất thải bị ô nhiễm nặng trong 5 ‘hồ chứa chất thải tạm thời’. Hàng tháng có hai lần triều cường, chất thải sẽ theo thuỷ triều đổ ra biển. Ngày 20, tháng 6, 2008.
20091020-lu-guang-18
19. Khu công nghiệp hóa học huyện Hồ Khẩu, tỉnh Giang Tây, bên sông Dương Tử. Nhà máy hoá học san lấp trái phép bờ sông Dương Tử để mở rộng quy mô nhà máy.
20091020-lu-guang-19
20. Khu công nghiệp hóa học thị trấn Huyền Hồ, tỉnh An Huy, lắp đặt ống ngầm để đổ chất thải ra sông Dương Tử. Chất thải có đủ màu: đen, xám, đỏ sẫm, hay vàng; mỗi nhà máy hoá học khác nhau cho ra chất thải có màu khác nhau. Ngày 18, tháng 6, 2009.
20091020-lu-guang-20
21. Thiểm Tây là vùng ô nhiễm nhất Trung Quốc. Đây cũng là tỉnh có tỷ lệ trẻ có khuyết tật bẩm sinh cao nhất. Đôi vợ chồng nông dân nhân ái này nhận nuôi 17 trẻ khuyết tật. Ngày 15, tháng 4, 2009.
“Ở một số địa phương Trung Quốc mạng sống của người dân bị đe dọa vì ô nhiễm môi trường. Cư dân bị đủ thứ bệnh tật, có những làng ung thư, ngày càng nhiều những đứa trẻ sinh ra bị khuyết tật, đó là hậu quả của việc hy sinh môi trường vì tìm kiếm lợi ích kinh tế một cách mù quáng.”
– Lư Quảng.
20091020-lu-guang-21
22. Ông cụ chăn cừu bên bờ Hoàng Hà không chịu nổi mùi thối. Ngày 23, tháng 4, 2006.
20091020-lu-guang-22
23. Cậu nhóc 15 tuổi ở Thiên Thủy, tỉnh Cam Túc, học lớp 2 xong thì bỏ học, theo cha mẹ đến khu công nghiệp Hắc Long Quý. Cậu kiếm được 16 tệ mỗi ngày. Ngày 8, tháng 4, 2005.
20091020-lu-guang-23
24. Khu công nghiệp Hắc Long Quý, tỉnh Nội Mông, đôi vợ chồng làm việc ở lò thạch cao vừa về đến nhà. Ngày 22, tháng 3, 2007.
20091020-lu-guang-24
25. Dân thôn Hạ Khang ở thị trấn Lâm Phần, tỉnh Sơn Tây, chịu đựng lâu ngày nước bị ô nhiễm vì chất thải công nghiệp, hơn 50 người bị ung thư, tắc mạch máu não. Ông cụ Wang Baosheng 64 tuổi bị bệnh từ năm 2003, ung nhọt khắp người, không nằm được và ngày ngày gục mặt xuống cạnh giường. Ngày 10, tháng 7, 2005.
20091020-lu-guang-25
26. Hít một lượng lớn bụi vào phổi, người ta phát bệnh sau khi làm việc ở đây 1-2 năm. Hầu hết dân nhập cư là từ vùng nghèo khổ đến. Ngày 10, tháng 4, 2005.
20091020-lu-guang-26
27. Thôn Trương Kiều, thị trấn Vũ Cương, tỉnh Hà Nam, bà Tôn Hiểu Quân, 45 tuổi, từ 4 năm nay không nhúc nhích được chân tay. Chạy thầy chạy thuốc khắp nơi đều vô hiệu. Ngày 7, tháng 4, 2009.
20091020-lu-guang-27
28. Thôn Triệu Trang bên sông Hồng Hà, thị trấn Vũ Cương, tỉnh Hà Nam, ông cụ Zhao Bingkun, 66 tuổi, bị ung thư thực quản từ 2004, sau lần phẫu thuật thứ hai, chi phí điều trị lên đến 200.000 tệ. Ông đang ở giai đoạn cuối, ngày nào cũng sốt, chờ chết. Ngày 7, tháng 4, 2009.
20091020-lu-guang-28
29. Thôn Trương Vu Trang, huyện Tây Bình, tỉnh Hà Nam, bên sông Hồng Hà, vợ ông Cao Vạn Thuận chết vì ung thư. Nay ông sống nghèo khổ. Ngày 3, tháng 4, 2009.
20091020-lu-guang-29
30. Thị trấn Lâm Phần, tỉnh Sơn Tây là nơi bị ô nhiễm trầm trọng. Nông dân làm việc ngoài cánh đồng bông chỉ hai giờ là người đầy tro than. Ngày 24, tháng 9, 2007.
20091020-lu-guang-30
31. Công nhân muối ở Liên Vân Cảng, tỉnh Giang Tô, giận dữ nói: “Khi gió thổi về phía chúng tôi, mùi thối từ các nhà máy hoá học không chịu nổi. Ban đêm thậm chí còn có nhiều khí độc hơn.” Ngày 19, tháng 3, 2009.
20091020-lu-guang-31
32. Người dân Phạm Gia Trang chuẩn bị đơn kiện đầy những dấu lăn tay, đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm. Ngày 19, tháng 3, 2008.
20091020-lu-guang-32
33. Ở tỉnh Sơn Tây có nhiều nhà nuôi dưỡng trẻ từ thiện, giúp trẻ khuyết tật bị cha mẹ bỏ rơi. Ngày 14, tháng 4, 2009.
20091020-lu-guang-33
34. Thôn Lưu Gia Loan bên sông Hồng Hà, thị trấn Vũ Cương, tỉnh Hà Nam, cô bé Yang Xiao 13 tuổi ngã bệnh vào tháng 11 năm 2008, mà không biết bệnh gì. Cô được cứu nhờ tiền quyên góp của dân làng. Thấy cụ trưởng thôn đến thăm cháu mình, người bà quỳ xuống, cầm tay cháu. Ngày 19, tháng 4, 2009.
20091020-lu-guang-34
35. Đứa lớn nhất mới 9 tuổi, không đi học. Đứa bé nhất chưa tới 2 tuổi. Chúng sống trong vùng bị ô nhiễm nghiêm trọng. Tay và mặt chúng bao giờ cũng lấm lem. Ngày 10, tháng 4, 2005.
20091020-lu-guang-35
36. Thôn Mã Trang bên sông Hồng Hà, thị trấn Vũ Cương, tỉnh Hà Nam, Mã Hải Bằng, 58 tuổi, bị ung thư bao tử từ 2006 và không thể ra đồng làm việc được. Ông phải uống thuốc hàng ngày, nếu không sẽ rất đau. Ngày 6, tháng 4, 2009.
20091020-lu-guang-36
37. Hàng năm có nhiều trẻ khuyết tật bị bỏ rơi. Khổng Trinh Lan ở huyện Bì, sống bằng nghề tái chế rác thải, nhận nuôi 25 trẻ bị bỏ rơi. Ngày 14, tháng 4, 2009.
20091020-lu-guang-37
38. Thôn Tuyên Uy, tỉnh Vân Nam, là một làng ung thư. Hàng năm có hơn 20 người chết vì ung thư. Cậu học trò Từ Lệ, 11 tuổi, bị ung thư xương. Ngày 8, tháng 5, 2007.
20091020-lu-guang-38
39. Thôn Cố Tân, huyện Thiệp, tỉnh Hà Bắc, số bệnh nhân ung thư xương hiện có là hơn 50 người; mỗi năm hơn 20 bệnh nhân ung thư chết. Ngày 18, tháng 3, 2008.
20091020-lu-guang-39
40.  Thôn Trương Vu Trang bên sông Hồng Hà, huyện Tây Bình, tỉnh Hà Nam, Chu Tiểu Yến, 22 tuổi bị u dạ dày năm 2007. Tháng 7 năm 2008, chị chết sau khi trải qua điều trị tại bệnh viện. Đứa con gái 4 tuổi cùng với ông đi thăm mộ. Ngày 2, tháng 4, 2009.
20091020-lu-guang-40



----------------------------------------





Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2009

Bài 1. Tìm hiểu về Ngải

Zen-Mấy ngày cuối tuần lại có  dịp đọc lại những bài viết của anh TADN về ngải nghệ thật là thú vị và cũng muốn cùng anh-một người có kiến văn rộng rãi trong lãnh vực huyền thuật chia sẻ phổ biến và bổ khuyết những chỗ người đời còn u minh lẫn lộn về ngải, dẫn đến những điều đáng tiếc. Cũng như anh đã lưu ý bạn đọc không nên tự mình mày mò luyện tập hay làm theo mà phải có minh sư chỉ điểm.
Vì vậy mỗi thứ 7 Zen lại tổng hợp những bài của anh và post lên đây để mọi người thưởng lãm.


--------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tác giả : TADN

Từ xưa đến nay, bùa ngảI vẫn là một đề tài muôn thuở trong lĩnh vực đờI sống tâm linh của con ngườI . Từ phương  Đông sang phương Tây, từ những nước nghèo như các quốc gia ở châu Phi, châu Á cho đến các cường quốc đông tây  như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, không một quốc gia nào lạI không có những tín ngưỡng về bùa ngảI cả.
Bùa chú, có không ít tài liệu.viết về lĩnh vực này. Đa số dừng lạI ở việc nghiên cứu bề mặt của vấn đề là chính.
Tuy vậy, những kiến thức trong các tài liệu đăng tảI phần nào giúp ta hiểu được về lĩnh vực bùa phép, chú thuật.
Nhưng, về ngảI nghệ, hầu như đó vẫn là một bí ẩn trong thế giới tâm linh này. Nếu như ở lĩnh vực bùa chú, ngườI ta có thể nhìn vào lá bùa mà đoán được nguồn gốc xuất xứ và công dụng của lá bùa đó đốI vớI cuộc sống. Nhưng ít có vị thầy nào đoán được nguồn gốc xuất thân của cây ngảI, cũng chưa thấu triệt được hết những tính năng giá trị sử dụng của cây ngảI trong cuộc đời này.

Kiến thức về ngãi của thầy chủ yếu là do ngườI đờI trước để lạI cho đờI sau qua vài câu chú, cách nuôi trồng và tế luyện. MỗI lần truyền lạI cho hậu nhân, các thầy lạI tìm cách bớt lạI chút ít vì sợ trò giỏI hơn thầy. Kết quả bi đát, càng về sau, kiến thức về ngảI càng mai một,dẫn đến thất truyền.
Kẻ bịp bợm hoặc những tay biết chút đỉnh về huyền môn  theo kiểu “ hiểu ít, nói nhiều” nhân cơ hội này lập tức trổ tài ba hoa nhằm mục đích khoe khoang kiến thức nhằm đánh bóng cho tên tuổI của mình hoặc để mưu toan lợI dưỡng cho bản thân.

Lời Mẹ Dạy

Jiun, một vị Thiền sư phái Shingon, vốn là một học giả chữ Phạn thời Tokugawa. Lúc còn là thiền sinh, ngài hay thuyết giảng cho các đồng môn.
Khi hay tin, mẹ ngài liền viết cho ngài một lá thư: "Con ạ, Mẹ không tin rằng khi con hiến mình vào cửa Phật là cốt để trở thành một cuốn tự điển sống. Biện bác, sành sõi, vẽ vang và tự màn chẳng đi đến đâu. Mẹ muốn con hãy dẹp cái trò lên lớp đó đi. Hãy dọn mình tĩnh tu trong một tiểu viện ở chốn thâm sơn cùng cốc. Dành mọi thì giờ cho việc thiền quán, may ra con mới ngộ được chánh đạo.

Thiền sư Muju-Trần Trúc Lâm dịch

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2009

Ý nghĩa và phong tục của Tết Nguyên Đán


Zen-Sắp đến Tết Canh Dần, chúng ta không xa lạ gì  cảnh tết và không khí Tết, Tết Sài Gòn nắng ấm, Tết Hà Nội rét run nhưng ai cũng náo nức vì Tết. Zen đăng lại bài của bác Nhược Thủy bên hoangthantai và sưu tầm trên Internet về phong tục cũng như một số nghi thức của Tết cổ truyền Việt nam.



climbing tiger Nguồn: InterTết Nguyên Đán là tiết lễ đầu tiên của năm bắt đầu từ lúc giao thừa với lễ trừ tịch.
Nguyên 元là bắt đầu, Đán 旦là buổi sớm mai. Tết Nguyên Đán tức là tết bắt đầu năm, mở đầu cho một năm mới với tất cả mọi cảnh vật đều mới mẻ đón xuân sang.
Năm mới đến, những sự may mắn mới cũng đến, và bao nhiêu những điều đen đủi không may của năm củ đều theo năm củ mà hết.
Theo Trung Quốc sử, âm lịch có từ thời nhà Hạ và lấy tên mười hai chi đặt cho mười hai tháng.
Tháng Dần là tháng giêng được chọn là tháng đầu năm và người ta ăn Tết Nguyên Đán vào đầu tháng Dần.
Về sau đến đời nhà Ân, có thay đổi lấy tháng Sửu làm đầu năm, rồi đến đầu nhà Chu sửa lại lấy tháng Tý, Kịp đến đời nhà Tần, Tần Thủy Hoàng lại sửa nữa lấy tháng Hợi, nhưng đến đời vua Hán Vũ Đế, đầu năm lại bắt đầu từ tháng Dần như đời nhà Hạ, và từ đó không có sự thay đổi nữa.
Thực ra Tết Nguyên Đán bắt đầu vào tháng Dần là rất phải, vì lúc đó mùa đông vừa qua, tiết hanh vừa hết, ngày xuân ấm áp tới, đem lại hoa cỏ đua tươi khiến cho con người cũng hầu như biến đổi cả tâm hồn sau một năm làm ăn vất vả.
Người người vui vẻ đón mùa xuân mới, lòng chứa chan hy vọng ở những sự may mắn. Ai cũng vui, nên không ai bảo ai, gặp nhau người ta cầu chúc cho nhau những điều tốt đẹp: Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh.



1.GIAO THỪA. (交承)
Tết Nguyên Đán bắt đầu từ lúc giao thừa.
Lẽ trời đất có thủy khởi phải có tận cùng, một năm đã bắt đầu ắt phải có hết, bắt đầu từ lúc giao thừa, cũng lại kết từ lúc giao thừa.
Giao thừa交承là gì ? Theo “ Hán Việt Từ Điển” của Đào Duy Anh nghĩa là “cũ giao lại, mới tiếp lấy”. Chính vì ý nghĩa ấy, nên hàng năm vào lúc giao tiếp giữa hai năm cũ mới này, có “Lễ Trừ Tịch”.


2.LỄ TRỪ TỊCH. (除夕)
Trừ tịch除夕là giờ phút cuối cùng của năm cũ sắp bắt qua năm mới, giữa giờ Hợi ngày 30 hoặc nếu tháng thiếu, thì ngày 29 tháng chạp năm trước và giờ Tý ngày mồng một tháng giêng  năm sau.
Vào lúc này, dân chúng Việt Nam, tuân theo cổ lễ có làm Lễ Trừ Tịch.
Ý nghĩa của lễ này là đem bỏ đi hết những điều xấu dở cũ kỹ của năm cũ sắp qua để đón những cái mới mẻ tốt đẹp của năm mới sắp tới.


Lễ trừ tịch theo người Tàu, còn là một lễ “khu trừ ma quỷ” (驅除魔鬼). Tục Tàu xưa vào ngày trừ tịch, tức là tối ngày 30 Tết có dùng 120 trẻ con trạc 9, 10 tuổi, mặc áo thâm, đội mũ đỏ, cầm trống vừa đi đường vừa đánh,  để trừ ma quỷ, do đó có danh từ trừ tịch.
Lễ trừ tịch cử hành vào lúc giao thừa nên lễ này còn mang tên lễ giao thừa.


3.CÚNG AI TRONG LỄ GIAO THỪA.
Phan Kế Bính trong Việt Nam Phong Tục viết :-
Tục ta tin rằng mỗi năm có một "Đại Vương  Hành Khiển" (行譴大王) coi việc nhân gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế để tiễn ông củ và đón ông mới.
Cúng tế cốt ở tâm thành, và lễ cúng vào nửa đêm nên đượm vẻ thần bí trang nghiêm. Cựu vương Hành Khiển bàn giao công việc cho tân vương thay đức Ngọc Hoàng để coi sóc nhân gian trong một năm cho đến giờ phút giao thừa năm sau.


Lễ trừ tịch bao hàm một ý nghĩa trọng đại “ tống cựu nghinh tân”, nên lễ được cử hành rất trịnh trọng từ tư gia tới các đình chùa. Những năm về trước, trong giờ phút này, chuông trống đánh vang, pháo nổ luôn không ngớt, truyền từ nhà này sang nhà khác, khắp kẻ chợ, nhà quê.

4.PHẨM VẬT CÚNG  LỄ GIAO THỪA.
Tại các đình, miếu, cũng như tại các tư gia, lễ giao thừa đều có cúng mặn. Các ông Thủ Từ lo ở đình, miếu, còn tại các tư gia do người gia trưởng trù liệu.
Xưa kia người ta cúng giao thừa ở đình, ông Tiên chỉ hoặc Thủ Từ đứng làm chủ lễ, nhưng người ta cũng giao thừa ở thôn ở xóm nữa.
Lễ giao thừa ở các thôn xóm được tổ chức hoặc tại các Văn Chỉ nếu Văn Chỉ Làng xây tại xóm, nếu không thì cũng tổ chức ngay ở tại điểm canh đầu xóm. Ở đây, vị được cử ra làm chủ lễ là vị niên trưởng hoặc vị chức sắc cao nhất trong thôn xóm.


A/-Bàn thờ được thiết lập ở giữa trời.
Một chiếc bàn  hương được kê ra, trên hương án có đỉnh trầm hương hoặc bình hương thấp tỏa khói nghi ngút. Hai bên đỉnh trầm hương có hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến. Lễ vật gồm chiếc thủ lợn hoặc con gà, bánh chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu nước và vàng mã, đôi khi có cỗ mũ của Đại Vương Hành Khiển. Lễ quý hồ thành bất quý hồ đa, nhưng dù nhiều hay ít, lễ vật bao giờ cũng phải gồm có vàng hương, vàng lá hay vàng thoi (giấy tiền vàng bạc) tùy tục địa phương, và nhất là không quên được rượu, vì “vô tửu bất thành lễ”.

B/- Lễ vật được trần thiết trên hương án trước giờ trừ tịch.
Đến giờ phút này, chuông trống vang lên, ông chủ tế ra khấn lễ, rồi dân chúng kế đó lễ theo, với tất cả sự tin tưởng ở vị Tân vương Hành khiển, cầu xin ngài phù hộ độ trì cho được một năm may mắn, bao nhiêu sự không may năm trước sẽ qua hết.
Tại đình làng, cùng với lễ cúng ngoài trời còn lễ Thành Hoàng hoặc vị Phúc Thần tại vị nữa.
Các chùa chiền cũng có cúng lễ giao thừa, nhưng lễ vật là đồ chay, và đồng thời với lễ giao thừa nhà chùa còn cúng Phật, tụng kinh và cúng đức Ông tại chùa.
Ở các tư gia, các gia trưởng thường lập bàn thờ ở giữa sân, hoặc ở trước cửa nhà, trường hợp những người ở thành phố chật chội không có sân, cũng bày một chiếc hương án, hoặc một chiếc bàn kê ra với lễ vật như trên.
Ngày nay trước mọi chuyển biến dồn dập của thời cuộc nước nhà, ở thôn quê, rất ít nơi còn cúng giao thừa ở thôn xóm, ngoài lễ cúng ở đình đền. Và ở các tư gia, tuy người ta vẫn cúng giao thừa với sự thành kính như xưa, nhưng bàn thờ thật là giản tiện. Có khi chỉ là chiếc bàn con với mâm lễ vật, có khi mâm lễ vật đặt trên một chiếc ghế đẩu. Hương thắp lên được cắm vào một chiếc ly đầy gạo hoặc vào một chiếc lọ nhỏ để giữ chân hương! Tình trạng chiến tranh, mọi sự đều sự bị phá họai! Có nhiều gia đình lại quá giản tiện hơn, hương thắp ngay trên mâm lễ, hoặc cắm vào các khe nải chuối dùng làm đồ lễ !


5.ĐẠI VƯƠNG HÀNH KHIỂN VÀ PHÁN QUAN.
Mười hai vị đại vương, mỗi năm một vị cai quản cõi nhân gian là Thập nhị Hành Khiển đại vương , tính theo nhập nhị chi, bắt đầu là năm Tý, cuối cùng là năm Hợi. Hết năm Hợi cũng quay lại năm Tý với Đại vương Hành Khiển mười  hai năm về trước. Các Đại vương này còn được gọi là "Dương Niên Chi Thần"(陽年之神), mỗi vị có trách nhiệm như trên đã nói cai trị thế gian trong toàn niên, xem xét mọi việc hay dỡ của từng người, từng gia đình , từng thôn xã cho đến từng quốc gia để định công luận tội, tâu lên Thượng Đế.
Mỗi Đại vương Hành Khiển đều có một vị Hành Binh (行兵尊神)và một Phán Quan (判官尊神) giúp việc.

Vị Đại vương Hành Khiển lo việc thi hành những mệnh lệnh của Ngọc Hòang Thựơng đế, trình lên Ngọc Hòang những việc đã xảy ra. Còn vị Hành Binh lo giữ an ninh, trật tự địa phương, Phán Quan thì lo việc ghi chép công, tội của mọi người, mọi gia đình , mọi thôn xã, mọi quốc gia.
Trong các vị Hành Khiển Đại Vương , có vị nhân đức, có vị cương trực và cũng có vị khắc nghiệt. Nhiều năm có các loạn thiên thời, lọan đạo binh, nạn thủy tai, hỏa tại… tục tin rằng đó là do các vị Đại Vương Hành Khiển trừng phạt nhân gian vì tội lỗi của mọi người.


6. VĂN KHẤN LỄ GIAO THỪA.
Như trên đã trình bày, lễ giao thừa là lễ tống cựu nghinh tân, tiễn vị Đại Vương Hành Khiển cũ và đón vị mới.
Có lễ nghi phải có văn khấn, cũng như ăn phải có mời.
Dưới đây là mẫu văn khấn giao thừa tại tư gia, văn khấn này chỉ cần thay đổi một vài chữ, khi dùng tại các nơi khác:


“Duy Việt Nam  ………….. (VD:- Kỷ Sửu ) niên, Xuân thiên chính nguyệt, sơ nhất nhật, kim thần đệ tử …………………(tên họ)  sinh quán tại …………… xã,………………….huyện, ………………Tỉnh, hiện  cư trú tại …………..xã
, …………. ……..quận, ………………….. tỉnh, đồng gia quyến đẳng, khể thủ, đồ thủ bách bái.
Cẩn dĩ hương đăng, kim ngân hoa quả, phù lưu thanh chước, thứ phẩm chi nghi, cảm kiền cáo vu.
Vọng bái:
Đương niên đương cảnh …………(VD:- Triệu Vương )  Hành Khiển, (VD:- Tam Thập Lục Phương ) Hành Binh và  (VD:- Khúc Tào ) Phán Quan
vị tiền.
Bản địa Thổ Địa Thần Kỳ vị tiền
Bản cảnh Thành Hoàng  vị tiền
Ngưỡng vọng chứng giám:
Cúc cung cầu khẩn:
Tòan gia đồng niên tự lão chí ấu, tăng phúc tăng thọ, nhân khang vật thịnh, vạn sự hanh thông.
Cẩn cáo.”

 

Lược dịch :-
“Nước Việt Nam, năm Kỷ Sửu  , ngày mồng một tháng giêng,  tiết Xuân.
Đệ tử là ……………………., quê quán làng ………….., huyện ……………… tỉnh ……………………., cư ngụ tại xã …………….., quận / huyện …………., tỉnh …………………….., cùng tòan thể gia đình trăm bái.
Kính cẩn có hương đèn, vàng bạc, hoa quả trầu rượu trà nước thêm mọi phẩm vật dâng lên.

Vọng bái:-
Trước bệ ngọc đức Triệu  Vương Hành Khiển, Tam Thập Lục Phương Hành Binh  tôn thần và Khúc Tào Phán Quan
tại vị ở trước.
Đức Thổ Địa nơi đây tại vị ở trước.
Đức Thành Hòang Bổn Cảnh tại vị ở trước.
Cầu chư vị chứng giám.
Cúi đầu kêu xin:
Chư vị phù hộ toàn gia chúng tôi, từ già đến trẻ, quanh năm được tăng phúc tăng thọ, người an, vật thịnh, vạn sự hanh thông.
Cẩn cáo


Trong khi cúng khấn đức đương niên Đại Vương Hành Khiển, người ta khấn thêm  đức Thổ Thần và đức Thành Hoàng, vì khi đức Đại Vương Hành Khiển, đại diện của Ngọc Hoàng Thượng đế đã giáng lâm, Thổ Thần và Thành Hoàng có nhiệm vụ nghênh tiếp và do đó cùng được phối hưởng lễ vật.
Trong bài khấn trên, nếu khi làm lễ tại làng tại thôn, chỉ cần thay đổi mấy chữ:
“Kim thần đệ tử ………………… (cá nhân) ”.
Thành :-
“Kim chúng thần đệ tử, toàn dân …………….. Xã / Thôn ”

và ở chỗ cầu xin cũng đổi mấy chữ:-
“ Toàn gia đồng niên tự lão chí ấu”
Thành :
“ Toàn xã / thôn  đồng niên tự lão chí ấu”

là được.

7.- MƯỜI HAI VỊ  HÀNH KHIỂN , HÀNH BINH, PHÁN QUAN :

NĂM


HÀNH KHIỂN


HÀNH BINH


PHÁN QUAN





Chu Vương


Thiên  Ôn


Lý  Tào


SỬU


Triệu   Vương


Tam Thập
Lục Phương



Khúc  Tào


DẦN


Ngụy   Vương


Mộc   Tinh


Tiêu   Tào


MÃO


Trịnh   Vương


Thạch   Tinh


Liêu   Tào


THÌN


Sở   Vương


Hỏa   Tinh


Biểu   Tào


TỴ


Ngô   Vương


Thiên   Hải


Hứa   Tào


NGỌ


Tần   Vương


Thiên   Hao


Nhân   Tào


MÙI


Tống   Vương


Ngũ   Đạo


Lâm   Tào


THÂN


Tề   Vương


Ngũ   Miếu


Tống   Tào


DẬU


Lỗ   Vương


Ngũ   Nhạc


Cựu   Tào


TUẤT


Việt   Vương


Thiên   Bá


Thành   Tào


HỢI


Lưu   Vương


Ngũ   Ôn


Nguyễn   Tào



*Ghi chú:- Bảng nầy dựa theo “Tam Mệnh Thông Hội” (三命通會), có một số sách chữ Việt do sai sót về chính tả hoặc không nắm vững nội dung nên viết sai (Chú ý:- Tần vương chứ không phải Tấn vương, Liêu Tào chứ không phải Liễu Tào , Lục Phương chứ không phải Lục Thương)

8.CÂU ĐỐI TẾT

Câu đối Tết là một trong những thể loại văn chương phổ biến nhất được làm vào dịp Tết để mừng xuân, mừng năm mới và cũng là để trang trí cho đẹp nhà đẹp cảnh xuân. Ngày xưa, Tết thiếu gì thì thiếu còn “thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ” là không thể thiếu.
 

Câu đối là một sáng tác văn học, thuộc thể loại văn biền ngẫu gồm hai vế đối nhau, nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội.

Câu đối còn thể hiện tài trí thông minh, nhanh nhậy. thể hiện phong cách tài tử trong việc đối đáp ứng xử. Câu đối không dài, không nhiều chữ nghĩa như những bài văn bài thơ, tuy chỉ có hai vế nhưng nó vẫn thể hiện được những ý tưởng mhững quan điểm một cách rõ ràng, cô đọng và súc tích. Ngôn từ của câu đối được cân nhắc chọn lọc, âm điệu nhịp nhàng, kết cấu chặt chẽ, nhiều câu tài tình đến mức người đọc người nghe cảm thấy kỳ thú một cách bất ngờ khi nó bật ra ý tưởng mới lạ. “Văn hay chẳng lọ ngắn dài”.

Những câu đối trí tuệ tài hoa biểu lộ được những quan điểm tư tưởng đúng dắn thường được lưu truyền rộng rãi cũng giống như những câu ca dao, câu thơ hay sẽ mãi mãi trường tồn. Tóm lại câu đối không chỉ là thể loại văn học mà còn là một thể loại văn học đặc biệt và là một nét đẹp của phong tục cổ truyền của bản sắc văn hóa dân tộc.

Có thể cho rằng câu đối Việt Nam được bắt nguồn từ thực tế đời sống xã hội, bắt nguồn từ cách nói đối ngẫu tự nhiên của ngôn ngữ dân tộc. Từ những câu thành ngữ, tục ngữ ca dao trong văn học dân gian đến những câu nói quen miệng hàng ngày cũng thường hình thành những vế đối ứng tự nhiên.


Những ngày giáp tết ở những nơi phố đông, những phiên chợ thường có những ông đồ ngồi viết câu đối thuê, như nhà thơ Vũ Đình Liên đã viết:

"Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua..."

Phần lớn câu đối tết của các nhà nho tự làm là những câu đối tức cảnh ngẫu hứng, những câu vịnh cảnh tết, cảnh nhà, cảnh mình nhưng cũng có nhiều câu chính luận thời đàm. Nhiều người nghĩ đến tình thế xã hội, nghĩ đến cuộc sống khó khăn nên đã viết những câu đối tết như:

"Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo
Nhân tình đã bạc lại bôi vôi"

"Tối ba mươi công nợ rối Canh Tân những ước mười năm dồn lại một
Sáng mồng một rượu chè say Quý Tỵ lại mong ba bữa hóa ra mười"

"Duyên với văn chương nên treo chữ;
Nợ cùng trời đất phải trồng nêu"

"Đuột trời ngất nghểu một cây nêu tối bữa ba mươi ri cũng tết;
Vang đất đì đùng ba tiếng pháo rạng ngày mồng một rứa là xuân"

"Mua pháo đốt chơi để anh em nghe có tiếng
Giật nêu đóng lại cho làng nước biết không xiêu"

Câu đối thờ viết trên giấy đỏ dán ở cột, ở cửa nhà nội dung thường bày tỏ lòng biết ơn của cháu con đối với tiên tổ:

"Tuế hữu tứ thời xuân tại thủ
Nhân ư bách hạnh hiếu vi tiên"

(Năm có bốn mùa, mở đầu bằng mùa xuân;
Người ta có trăm tính nhưng tính hiếu thảo là cần trước hết)

Ở làng trang Đông Hồ câu đối trên đã được cải biên chút ít và đưa vào bộ tranh chủ treo ở bàn thờ gia tiên, hai bên là chữ Phúc, chữ Thọ và đôi câu đối:

"Từ thời xuân tại thủ
Ngũ phúc thọ vi tiên"

Những chữ Hán được trang trí cách điệu: một bên là con rồng, một bên là con phượng trên nền giấy điểm xuyết hoa, lá, chim muông.

Những câu đối này thường kèm theo mấy chữ đại tự cũng viết trên giấy đỏ treo thành bức hoành: "Ấm hà tư nguyên" (Uống nước sông nhớ đến nguồn); "Ðức lưu quang" (Ðức chan hòa ánh sáng).

Dịp Tết còn có các câu đối tức cảnh xuân của các bậc văn hay chữ tốt, cũng được viết trên giấy đỏ treo ở cổng.

Vậy tục treo câu đối Tết có từ bao giờ? Sách xưa có kể phong tục của người dân Bách Việt, trong ngày Tết Nguyên Đán theo bùa gỗ có hình hai vị thần Thần Ðồ và Uất Lũy treo hai bên cửa ngõ. Ðó là hai vị thần sống dưới gốc đào lớn dưới núi Ðộ Sóc chuyên cai quản đàn quỷ, hễ quỷ nào "phá rào" đi làm hại dân thì thần hóa phép trừ đi. Sau này việc treo bùa gỗ "Ðào phù" được thay bằng câu đối hai bên cửa.

Ðời sống khấm khá dần, mỗi người, tùy hoàn cảnh, gửi gắm vào câu đối những ý tứ, những niềm vui cùng ước vọng vào một năm mới đang đến. Vào thế kỷ 15, thú chơi câu đối Tết đã trở nên phổ biến, khắp Kinh kỳ, từ dinh thự của quan lại tới các tư gia, đâu đâu cũng treo câu đối Tết. Lại có cả cấu đối nói về nghề nghiệp dán ở cửa hàng, cửa hiệu. Tương truyền, vào một năm, sắp tới giao thừa, vua Lê Thánh Tông ra phố phường xem dân ăn tết. Thấy một nhà không treo câu đối, vua vào hỏi, biết đó là nhà một người thợ nhuộm vợ góa, con trai đi vắng, vua bèn lấy giấy bút và viết.

"Thiên hạ thanh hoàng giai ngã thủ;
Triều đình chu tử tổng ngõ gia

(Xanh vàng thiên hạ đều tay tớ
Ðỏ tía triều đình tự cửa ta)

Cùng với chữ Hán, nhiều danh sĩ nước ta còn viết câu đối Tết bằng chữ Nôm. Ðầu thế kỷ 20, Nguyễn Khuyến (1835-1909) đã sử dụng tài tình chữ viết của dân tộc, đưa cả ca dao, tục ngữ, thành ngữ vào câu đối. Trong 67 câu đối hiện còn của cụ thì 47 câu đối Nôm. Ðây là cảnh Tết của một nhà nghèo mà lòng vân phơi phới sắc xuân khi giao thừa sắp đến:

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa
Sáng mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà"


Hiểu rõ vần xoay của tạo hóa, cụ ước ao:

"Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm cái
Tết ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa xuân"


( Tổng hợp từ nhiều nguồn, nội dung chính lấy ở   tác phẩm : Nếp cũ – Tín ngưỡng Việt Nam , Quyển hạ--Tác giả : Toan Ánh, có điều chỉnh, bổ sung danh sách Hành Khiển, Hành Binh, Phán Quan—Nhược Thủy)












Kiến trúc ngôi nhà đón cát khí từ thiên nhiên

Phong thủy học cho rằng, mọi vật trên trái đất đều tàng chứa khí. Cảnh núi sông tươi đẹp phản ánh sinh khí tràn đầy. Nơi gò tàn vách đổ thì tử khí ứ lại. ở khu vực có núi sâu đầy cảnh sắc, khí lưu thông suốt; còn khu vực núi gò hoang phế, dòng lưu động của khí bị cản trở thì khí đọng không lưu thông sẽ tác động không tốt cho nơi ở.


Từ đây phong thủy học chỉ ra rằng, khi tạo dựng ngôi nhà cần thu được cát khí( khí tốt) từ cảnh trí thiên nhiên sao cho khí từ vũ trụ chiếu xuống được lưu thông đồng nhập với ngôi nhà. Ngôi nhà nằm trong cảnh trí thiên nhiên đẹp, sẽ có nhiều sinh khí, người ở an bình làm ăn hưng vượng; nếu là nơi kinh doanh khách hàng sẽ ra vào tấp nập, lãi lớn…Song để có cái lợi đó, thì phải có kiến trúc ngôi nhà hài hoà với cảnh trí thiên nhiên, tiếp nhận đươc sinh khí của vũ trụ.



Kiến trúc phong thủy ngôi nhà không thuận với khí thiên nhiên khu vực, sẽ làm nhiễu loạn và ngăn trở lưu thông khí tự nhiên của vũ trụ, biến khí vũ trụ thành sát khí. Ngôi nhà bị sát khí bao vây rất bất lợi cho sự sống người ở hoặc cho việc làm ăn, kinh doanh…







Quan sát ngoại hình hay ngoại cảnh một ngôi nhà có hài hoà với cảnh trí hay khí thiên nhiên hay không, phong thủy học đưa ra phương pháp đơn giản là quan sát nó vào lúc sáng sớm hay khi chiều tà, ráng chiều; nhìn


ngoại cảnh hình khối ngôi nhà có ánh lên không trung sắc mầu gây được cảm súc lòng người hay có chất thơ hoặc như một bức họa tuyệt tác, độc đáo hay không. Nếu như vậy thì ngôi nhà đã đạt tới sự hài hoà đẹp nhất với sinh khí và cảnh trí thiên nhiên, nó sẽ mang lại mọi điều tốt lành cho người ở. ở một quy mô lớn, tạo hình kiến trúc một toà nhà hài hoà với cảnh trí thiên nhiên tiếp thụ được sức mạnh của khí và làm cho khí lưu thông nhịp nhàng, cũng tạo ra quyền uy và sức mạnh lan toả rộng khắp.


Đó là trường hợp của điện Cremlin ở thủ đô Matxcơva ( Liên Xô cũ ), được xây dựng từ năm 1147. Thành tường điện xây dựng theo hình răng cưa, bốn bên cung điện đều có vọng lâu to nhỏ, hình dáng khác nhau, đều sơn mầu đỏ tía, màu của sao tử vi. Bên ngoài cửa phía Đông thành là Hồng Trường, chỗ đi vào Hồng Trường ở phía Bắc có nhà Bảo tàng Cách mạng cũng sơn mầu đỏ tía.


Theo phong thủy học, điện Cremlin như vậy là điện có mầu sắc tượng trưng cho sao Tử Vi trên trời, là trung tâm của Thái Cực tinh – điểm bất động của Vũ trụ, tất cả các sao trên trời đều xoay quanh sao Tử Vi. Lầu chính của điện Cremlin là tháp nhọn cao vút lên trời có dáng siêu nhiên thoát tục cũng mầu đỏ tía, phía trên gắn ngôi sao 5 cánh mạ bằng vàng toả sáng lấp lánh. Phong thuỷ học coi đây là trung tâm phát xạ toàn thành phố Matxcơva. Vùng ngọai ô thành phố Matxcova có mấy trăm nhà thờ, phíâ trên nóc cao vút có gắn giá chữ thập từ bốn phương tám hướng đều hướng về ngôi sao năm cánh của Cremlin. Tia sáng của ngôi sao 5 cánh phóng ra từ đỉnh tháp cao vút tượng trưng cho một loại ý thức tinh thần mạnh mẽ, cho một chủ nghĩa, một tư tưởng được truyền bá và lan rộng khắp trên toàn cầu.


Cái sức mạnh ý thức tinh thần này, trước cách mạng Tháng Mười Nga(1917) là tinh thần của Đạo Cơ đốc, nơi đây Đại giáo chủ Nga tập trung cả thần quyền và quân quyền của Đế quốc Nga Sa Hoàng. Từ điện Cremlin tỏa đi mấy đường phố lớn cũng là đường trục. Trục chính là tuyến đường sắt có 12 đường tạo thành bộ xương khung của thành phố. Matxcơva mỗi khi đêm về, hàng vạn ngôi sao láp lánh trên bầu trời thành phố và các vùng ngoại ô, tạo thành một vũ trụ trần gian có hàng triệu ngôi sao mà trung tâm của nó là sao Tử Vi Bắc Cực- đó là ngôi sao 5 cánh trên điện Cremlin dưới đất, đã tạo ra tất cả tình cảm và hình thái ý thức mãnh liệt thần bí dung hợp vào kiến trúc cảnh quan của Mátxcơva. Mátxcơva đã gần một thế kỷ là trung tâm của Cách mạng Vô sản toàn Thế giới, được các Đảng Cộng sản và hàng triệu triệu nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới ngưỡng mộ hướng về đây, về Nhà nước Công nông đầu tiên trên Thế giới, về nơi đã đánh tan và và tiêu diệt chủ nghĩa Phát xít Đức (1945).


Năm 1991 Liên Xô tan rã, phong thủy học cho rằng có liên quan đến phong thủy các tuyến đường và ga xe điện ngầm của thành phố không tốt. Một ngôi nhà, một khối kiến trúc hài hoà với cảnh trí thiên nhiên đối với người bình thường cũng như các nhà kinh doanh… luôn coi trọng thiên thời địa lợi. Lợi dụng cái đẹp của trời đất qua ngôi nhà, qua một khối kiến trúc nhằm mục đích tạo ra an bình, phát vượng và tài lộc vào đầy nhà. Kiến trúc ngôi nhà, một quần thể kiến trúc như qua ví dụ về thành phố Matxcơva về một ý nghĩa nào đó là kiến trúc tạo dáng, tạo ra mầu sắc…, nếu không chỉ là một đống vật liệu xây dựng mà thôi.


Về kiến trúc tạo mầu sắc, phong thủy học dựa theo học thuyết Ngũ hành của Dịch học. Dịch học cũng như phong thủy học cho rằng, vạn vật trong vũ trụ này chỉ có 5 thuộc tính là: Kim, Mộc Thủy, Hoả, Thổ. Năm thuộc tính này là riêng biệt độc lập với nhau, không có sự thay đổi và bất biến. Ví dụ như người mệnh Thổ suốt đời là tính thổ, người mệnh Kim suốt đời tính kim…Song nếu khi có sự liên kết giữa các đối tượng với nhau thì các thuộc tính này có thể làm cho nhau phát triển (sinh), cũng có thể làm hại nhau, cản trở nhau (khắc), hoặc không có ảnh hưởng gì với nhau ( tương đồng ). Lợi dụng tính chất này mà người xưa chọn vợ gả chồng, chọn đối tác kinh doanh…


Nếu một cấu trúc được liên kết với nhau nhằm mục tiêu phát triển, đương nhiên tính ngũ hành các thành phần của cấu trúc phải là tương sinh. Dịch học và phong thủy cho ngũ hành cũng phản ánh ra màu sắc, như Mộc là xanh, Thủy là đen, Kim là trắng,Thổ là vàng, Hoả là đỏ …Màu xanh ứng với mùa xuân ôn hoà, là sắc củâ lộc cây mới nhú; màu đỏ ứng với mùa hè, là sắc lửa đang cháy; màu vàng ứng với sắc của đất; màu trắng ứng với mùa thu mát mẻ, là sự sáng sủa; màu đen ứng với mùa đông lạnh lẽo, là nước, là sắc của vực sâu…


Trong văn hoá Trung Hoa cổ xưa, màu sắc theo ngũ hành còn có ý nghĩa đặc biệt như màu xanh là cái gì đó vĩnh cửu, hoà bình; màu đỏ là hạnh phúc, vui mừng; màu vàng chỉ sự giầu có, màu của đế vương; màu trắng chỉ sự bi thương, bình thường, thanh khiết; màu đen là sự phá hoại, trầm ẩn.


Với ý nghĩa này, trong kiến trúc Trung Hoa, Việt Nam xưa rất thận trọng việc chọn màu sắc. Như mong muốn giàu sang thì trong thiết kế xây dựng dùng màu đỏ; muốn bình an, hoà bình và sự vững bền dùng màu xanh. Màu vàng cho vua chúa sử dụng, dân gian không được lạm dụng. Màu đen hoặc màu trắng ít dùng. Bởi vậy các kiến trúc cổ thường dùng nhiều màu đỏ, khi dùng màu cho cột kèo trong nhà thường dùng 3 màu xanh, lục lam. Yêu cầu ngoại cảnh của ngôi nhà hay một khối kiến trúc không chỉ dùng màu sắc hợp với sự an bình, thịnh vượng và phát triển, mà còn tạo ra sự hài hoà nếu không sẽ ảnh hưởng đến người ở.


Theo lý luận của phong thủy, màu sắc không đúng, sắc màu không hài hoà đều tạo ra sát khí cho ngôi nhà, cho khối kiến trúc. Như ngôi nhà kiến trúc kiểu sân vườn lợp ngói, kiêng tường màu trắng ngói xanh vì rất hung. Màu sắc của trần nhà phải nhạt hơn so với nền nhà và 4 bức tường xung quanh; trong nhà màu sắc không nhạt quá…,nếu quá nhạt phải dùng đồ vật kê trong phòng mầu xẫm để điều chỉnh. Về hình dạng ngôi nhà hay khối kiến trúc, phong thuỷ học chia thành 5 dáng hình: Kim, Mộc Thuỷ, Hoả, Thổ.


Dáng nhà Kim thì khi quan sát có cảm nhận ngay sự sáng sủa; các tường vách nghiêm chỉnh, đường nét rất khoát, kiến trúc lối tứ diễu( bốn bên là hiên hoặc ban công nhìn thấy nhau). Dáng Mộc là nóc nhà cao nhô lên, tường lượn sóng, bốn mái hiên cùng chiều.


Dáng Thủy dáng vẻ nghiêm chỉnh nhưng tinh khiết. Dáng Hoả nóc nhà không nhọn. Dáng Thổ các căn phòng vuông vức nghiêm chỉnh, bốn mái hiên bằng nhau, tường không lồi lõm. Nếu như ngôi nhà dáng kim mà một bên khô cạn (cứng nhắc), dáng Mộc mà cất đầu lên, dáng Thủy trông xiêu vẹo, dáng Hoả mà thon nhọn, dáng Thổ trông như rũ xuớng đều có sát khí là không tốt cho người ở.


Nhà ở thời cổ theo phong thủy chủ yếu nhấn mạnh tính ngay ngắn và đối xứng, mọi cái đều vuông vắn, nghiêm chỉnh, có đường trục, có điểm trung tâm, gây cảm giác trang nghiêm và thoáng đãng cho người ở, cho người quan sát.


Dáng kiến trúc ngôi nhà cũng có quan hệ lành dữ với người ở. Phong thủy học đã đưa ra những chuẩn thức kiến trúc ngôi nhà thành câu quyết như: nhà kiểu chữ kim đầu bằng, phú qúy nhân đinh đều hanh thông; nhà kiểu chữ bát, mồ côi, nghèo khổ, nhiều bệnh tật; nhà kiểu chữ hoả bị đàm hoả, bế kinh; nhà kiểu cái quạt, vất vả lênh đênh; trong nhà xà nhỏ cột to, đầy tớ khinh chủ; xà to cột nhỏ thường bị người đời áp đảo; hạ bích( tường sau) tiếp với nhà nhỏ mua ruộng tích ngũ cốc; nhìn từ xa nhà như ở dưới hồ,goá vợ goá chồng, nhân khẩu hiếm; nhà trước cao nhà sau thấp, hại con xung khắc vợ; nhà sau cao nhà trước thấp, già trẻ đều mê muội; giữa nhà cao trước nhà thấp, vợ chồng bất hòa; giữa cao trái thấp, hay bị chuyện thị phi; chân tường rơi lả tả, sa sút và tai hoạ…


Phong thủy học cũng cho rằng, những hình dáng kiến trúc đặc biệt của ngôi nhà cũng gây bất lợi cho người ở như: nhà xây dẹt cao thuỗn, làm ăn gặp nhiều trở ngại; nhà hình tròn chỉ để kinh doanh chứ không để ở; hai đầu trước sau nhà cao, giữa thấp rất khó ở; nhà trên nóc bán mái là hiện tượng suy sụp không lành cho chủ nhân; bên cạnh tháp cao hoặc mái nhà cao nhọn chót vót thì tai họa khó tránh, sống dễ sợ…


Phong thủy học rất quan tâm đến cửa trong ngôi nhà, cho đây là nơi thu nhận và lưu thông thiên khí; cho rằng chiều cao chiều rộng của cửa phải cân xứng với ngôi nhà. Nhà nhỏ cửa lớn không tốt,nhà to cửa thấp là mạt vận. Nhà ở hoặc cửa hàng đã có cửa chính và cửa hậu mà còn mở thêm cửa bên cạnh để ra vào là thoát khí, không lợi. Trong nhà mở cửa hướng đông rất lành, hướng bắc rất dữ; nếu nhà quay hướng tây, mở cửa sổ hướng nam tăng lành giảm dữ.


Trong kiến trúc nhà của dân gian còn có dáng cửa vòm. Cửa vòm có hai loại: loại ngoài nhà và loại trong nhà.


Phong thuỷ cho rằng,cửa vòm ngoài nhà phải to hơn củâ vòm trong nhà và không được gần nhà; nếu là cửa cổng phải có tường nối liền nhà, không được đứng độc lập. Cửa vòm chỉ là chi tiết trang trí, không phải là cửa có cánh để đóng mở. Đối với phòng khách, cửa vòm chỉ có thể ở phía sau, phía trước không nên làm. Cửa vòm chỉ hợp với khuôn viên căn nhà hình vuông và rộng. Ngôi nhà xây dựng trên mặt bằng hình vuông, bốn phía tường vuông vức là lý tưởng nhất để tiếp thụ sinh khí từ vũ trụ, từ đó sẽ làm cho cuộc sống cho toàn gia tốt đẹp và phát triển. Nếu chiều sâu nhà dài hơn mặt tiền thì phúc trạch dài lâu; mặt tiền dài hơn chiều sâu thì không có lợi cho sự ở.


Trên đây là một số quan niệm của phong thủy về kiến trúc ngôi nhà sao cho tạo được khí lành cho người ở, chỉ có giá trị tham khảo với bạn đọc khi tìm hiểu về vũ trụ quan của người Trung Hoa cổ xưa.


Quảng Tuệ(dienbatn blog)

Thứ Tư, 2 tháng 12, 2009

20 bức tranh ánh sáng ngoạn mục



Light Painting được gọi là "vẽ tranh bằng ánh sáng" bởi người ta sử dụng các thiết bị như đèn pin, đuốc, đèn LED... để sáng tạo nên hình thù tưởng tượng trong bóng tối và chụp lại bằng camera có thời gian phơi sáng dài. 


Ảnh: Brentbat.

Ảnh: Sebastien.b.

Ảnh: Purplemattfish.





Ảnh: Rafoto.

Ảnh: Tom Paton.

Ảnh: duane.schoon.

Ảnh: Artwork_rebel.

Ảnh: BURИBLUE.

Ảnh: Conekt.

Ảnh: Mikeleary83.
Châu An (Nguồn: Digital-photography-school/Flickr)

Một Cốc Trà

Nan-In, một thiền sư Nhật vào thời Minh - Trị (1868- 1912), tiếp một vị giáo sư đại học đến tham vấn về Thiền. Nan-In đãi trà. Ngài chế một cốc đầy và vẫn tiếp tục rót. Vị giáo sư nhìn cốc nước tràn cho đến khi không nhịn được, bèn lên tiếng: "Nó đã đầy tràn rồi, không thêm được nữa đâu!"


"Thì cũng như chiếc cốc này" Nan-In thong thả nói, "ông đã mang đầy tư kiến và thành kiến. Làm sao tôi có thể chỉ cho ông về Thiền nếu ông không cạn cốc của ông?"


Thiền sư Muju
-------------------------------------------------------------------------------------------------


Trích trong 101 Câu Chuyện Thiền (101 Zen Stories): đã được ấn hành lần đầu vào năm 1939 bởi Rider and Company, Luân Ðôn, và David McKay Company, Philadelphia. Những mẫu chuyện này đã được chuyển sang Anh ngữ từ một cuốn sách gọi là Shaseki-shu (Collection of Stone and Sand: Góp nhặt Cát Ðá), viết vào cuối thế kỷ 13 bởi một Thiền sư Nhật tên là Muju (Vô Trú), và những giai thoại của các vị Thiền tăng lượm lặt từ nhiều sách đã ấn hành tại Nhật vào khoảng đầu thế kỷ 20. Những câu chuyện này kể lại sự chứng ngộ của các vị Thiền sư Trung hoa và Nhật bản. Các ngài đã giảng dạy Thiền hơn 500 năm qua-Theo Thư viện hoa sen.