Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2010

TẬP TRUYỆN KINH DỊ : AI HÁT GIỮA RỪNG KHUYA II

Ma Không Ðầu

Hôm đó, cách đây chừng khoảng 20 năm, tôi đi về vùng Nam Ðịnh xuống ga Gôi, vào thăm một người bạn cũ.
Lâu ngày mới được bặp nhau, bạn tôi mừng lắm, vội vàng sai vợ con đi giết gà mổ vịt, lại cho người ra chợ đón mua những thứ quà ngon. Tôi gặp lại bạn cũng mừng, hai anh em ngồi uống trà đàm đạo mãi cho tới chiều, không biết mệt.
Lúc ấy, vào khoảng bốn giờ chiều. Trời tháng quy hạ, nóng nực lắm, tuy sắp sang thu mà cũng vẫn oi ả. Tôi đến lúc một giờ chiều, ngồi hàn huyên với bạn đã ba giờ có. Lúc tôi đến, trời còn nắng chang như lửa đốt, nhưng khi vào nhà bạn được hơn một tiếng đồng hồ thì trời bỗng đâu sa sầm mặt lại; mây đen bốn bề rầm rộ kéo đến, rồi sấm chớp nối tiếp nhau xé toạc quãng không gian bằng những tiếng nổ ầm ầm và những luồng quang tuyến sáng xanh chói lọi. Sau cuộc thị uy thị hùng ấy, mưa ở lưng chừng tưới xuống trần ai như thác chảy, nhưng chỉ trong khoảng nửa giờ lại tạnh ráo ngay. Mây đen, tụ lại ít lâu, cũng theo chiều gió tan đi hết. Trời lúc nãy bị vẩn ám, bây giờ quang đãng như không, vài tiếng sấm cuối mùa thỉnh thoảng trổi dậy, nhưng chậm rãi uể oải, không có vẻ hùng tráng như khi mưa chưa nhỏ giọt.
Mặt trời, khói bị che kín sau ức màn mây tối, lại vui vẻ tia ra những luồng ánh sáng đỏ rực và gay gắt; hình như sau mỗi cơn mưa rào, thì ánh nắng càng nồng càng đượm; để cỏ cây mau chóng được khô ráo nhẹ nhàng. Mưa xuống nắng lên là một sự rất thường trong thời tiết, nhưng sự đó không mấy khi xảy ra trong các mùa êm dịu như xuân thu, và trong cụ mấy tháng mùa đông rét mướt. Nó chỉ thường xảy ra giữa mùa hạ, là một mùa hay có giông tố thất thường.

Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2010

Ngải Nàng II


Ngải dùng để ăn nói cũng chính là ngải quyến. Người ta thường dùng ngải này để tạo thuận lợi cho công việc làm ăn. Khi tiếp xúc đối tác, người dùng ngải lấy dầu đã luyện ra xức vào hai chân mày, sau mang tai và… xoa hai bên mép. Khi tiếp xúc, đối tác bỗng thấy người dùng ngải nói năng có duyên, dễ mến. Nhờ vậy, hợp đồng làm ăn buôn bán cũng dễ dàng ký kết hơn.
Thông thường, ngải dùng cho ăn nói chỉ luyện bằng hoa của cây ngải. Sau khi đã chọn những hoa có linh khí, thầy cho vào lọ dầu thơm hoặc dầu dừa và bỏ ra 49 ngày luyện. Dầu ấy được chiết ra vừa đủ để thân chủ sử dụng trong vài lần. Muốn sử dụng thêm, thân chủ lại ôm tiền đến nhờ thầy cấp tiếp.
Thậm chí, sau ba bảy hai mươi mốt ngày, nếu không dùng cũng phải ghé thầy tơm phép trở lại. NHiều người cho rằng đó là những chiêu mà các thầy dùng để moi tiền. Thật ra, ngoài mục đích ấy, việc tơm phép cũng là điều cần thiết. Ngải vốn bạo phát bạo tàn, không đều đặn và bền bỉ như bùa. Người xài ngải cũng biết điều đó để quay lại gặp thầy cho đúng hạn.

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2010

Ngải Nàng



Nghe tên gọi là ngải nàng, chắc mọi người đều đoán được phần nào công dụng của loài cây có tánh linh này. Đó là các loại ngải chủ yếu thuộc họ lan chi, thân hình mềm mại có dáng điệu như lá lúa, lá hẹ, cỏ linh chi, củ ngải thuộc họ này có màu trắng, dáng như củ kiệu nhưng nhỏ hơn tròn hơn và thanh hơn rất nhiều.
Họ ngải nàng rất nhiều dạng vô cùng phong phú: nàng Mơn bông trắng, nàng Mơn bông đỏ, nàng Mơn bông vàng, nàng Mơn bông tím nhạt, nàng Mơn ống, nàng Mọi, nàng Chuyền trơn, nàng chuyền Sọc, nàng Rù, nàng Mách, nàng Quạt, nàng Sắc, nàng Tía, nàng Hẹ, …
Có loại ngải củ tròn to như củ hành gần gũi với họ lan đất nhưng không thuộc loại lan như : ngải Năm Bà, ngải Hậu, ngải Thứ Phi...
Nhiều cây ngải thuộc họ gừng riềng, nhưng giới huyền thuật vẫn gọi là nàng như: nàng Cát, nàng Mén, nàng Xoài, nàng Nghệ ,nàng Thâm ,nàng Lùn ..lá và cây tựa như ngải  hổ vậy, nhưng gọi là nàng vì âm tính nó thể hiện rõ rệt trên lá và thân cây có vẻ nhu mì và mềm mại.
Mỗi loại ngải nàng có một công năng cụ thể khác nhau. Nhưng, đặc tính chung của loại ngải này là dùng để chiêu tài quến khách, phù hợp cho công việc mua bán, giao thiệp tình cảm…(Công năng thứ nhứt)
Tâm lý chung của người đời là thích che dấu. Khi buôn bán ở cửa hàng, ở tiệm, ai cũng ngại lập bàn thờ với những đạo bùa đen đỏ vẽ ngoằn ngoèo. Họ sợ người khác biết mình chơi với thầy bùa, sợ người ta ngại ngùng không dám đến tiệm, sợ đối thủ cạnh tranh ra tay phá khuấy…
Những lo lắng mông lung ấy đã được các thầy giải toả bằng những chậu ngải. Chỉ cần một hai chậu ngải nàng để trước cửa như hoa kiểng, chịu khó tưới nước đều đặn, thắp nhang mỗi tối hoặc mỗi sáng sớm là có thể vận chuyển tài khí đến nhà rồi. Cho nên, phương án trồng ngải cầu tài đa số được mọi người ủng hộ.

Trước đây, phong trào trồng ngải không phổ biến. Nhưng kể từ khi các diễn đàn tâm linh xuất hiện, các bài về ngải được phổ biến thì hầu như các thầy chuyên nghiệp, nghiệp dư cùng những người có máu say mê huyền thuật lập tức ra công sưu tầm ngải nghệ trồng ở nhà với hy vọng được sự phù trợ của loài thảo mộc tánh linh này.
Sự thật, trồng ngải nàng không khó. Nhưng khó ở chỗ làm sao để ngải trổ hoa. Có người mang về nuôi trồng suốt một thời gian dài không có một bông làm thuốc, người khác mới mang về ít bữa đã trổ nụ, đơm hoa kín cả chậu. Cây có hoa mới có sự viên mãn, việc vận chuyển mới thuận lợi, hanh thông.
Tuy nhiên, không phải cứ trổ hoa là tốt. Nếu các nàng ngải chưa được luyện, việc trổ hoa xem như tô điểm cho vườn cây mà thôi. Ngải đã luyện già rồi, mỗi lần trổ hoa là một lần đắc lợi. Hoa của các loại ngải nàng còn được dùng cho công dụng thứ hai – Tình cảm.
Một trong những đề tài muôn thuở của con ngườI chính là tình yêu(Công năng thứ hai).
Dạo qua biết bao trang web, trang blog cá nhân, quanh đi quẩn lại vẫn là những câu chuyện về tình cảm: thất tình, tình phụ, si tình, luyến ái, bẫy tình, lừa tình… Để đạt mục đích thị dục, con người ta dùng đủ mọi phương cách khác nhau từ hữu hình cho đến tâm linh.
Một trong những phương thức cứu cánh khi mọi thứ vật chất đã thất bạI chính là bùa ngải.
NgảI là một hình thức phổ biến nhất được các thầy sử dụng để làm phép yêu cho thân chủ. BởI lẽ, so vớI bùa phép, tính năng của ngảI mạnh hơn nhiều, hiệu quả nhanh hơn khiến cho ngườI sử dụng sớm được thoả mãn hơn.
Trong các loạI ngảI, ngảI nàng Mơn thường sử dụng cho mục đích này nhiều nhất. Sở dĩ các thầy sử dụng nàng Mơn vì một trong các lẽ sau:
-         Không rành về các loạI ngải khác.
-         Biết sử dụng loại khác nhưng hậu quả nặng nề. Mê Tâm ngảI là một ví dụ.
-         Ngải nàng Mơn tánh tình nhu mì hiền hoà, đem đến sự cảm mến tự nhiên cho đối tượng.
Đọc qua các bài khác về ngải, tôi thấy nhiều bạn chỉ dẫn lấy bông ngảI ngâm vào trong dầu để sử dụng. Điều đó không sai, nhưng chỉ đúng … một phần rất nhỏ.
 Không phảI loạI ngảI nào cũng dùng bông làm phép yêu được cả. Thậm chí gặp đúng loại ngải làm phép yêu nhưng phải chọn đúng những bông có dấu hiệu đặc biệt mớI sử dụng được. Trong những bông đã chọn, thầy phảI thả vào trong thau nước lớn và sạch sẽ, nước sử dụng phảI là nước mưa hoặc nước giếng lấy vào lúc 5 giờ sáng. Thầy bắt đầu ngồI đọc chú hộI tổ ngảI và đọc chú luyện phép yêu. Đọc cho đến khi có những bông hoa ngảI tách ra, trôi về phía ngườI thầy. Đó chính là những bông dùng để luyện phép yêu. Những hoa  khác đều bỏ đi.
Cho nên, bạn trẻ ham vui nào đọc những cách hướng dẫn úp úp mở mở trên diễn đàn rồI bắt chước làm thử, mãn đờI cũng không làm được phép yêu.
Chúng ta thử nghĩ xem, luyện ngảI, luyện phép dễ dàng như kể chuyện thì tất cả những ai tham gia diễn đàn đều trở thành thầy ngảI hết rồi. Còn đất đâu cho mấy ông thầy nòi kiếm sống kia chứ !
Khi tôi viết về loạt bài này, có nhiều bạn trẻ gửI mail, vào chat room để xin ngảI, xin chú luyện. Nhân đây tôi cũng xin giảI thích, việc viết bài chẳng qua để thoả chí bình sinh của cá nhân. Tôi chỉ sợ những kiến thức huyền môn dần dần mai một theo thờI gian khiến ngườI đờI sau quan niệm lệch lạc rồI làm sai mà mang hoạ. Vì vậy nên viết lạI vừa đọc chơi cho vui, vừa góp vốn cho những ai có lòng vớI huyền pháp. Chứ bản thân tôi dở dở ương ương, học Phật không xong, làm thầy cũng chán, xứng đáng gì mà chỉ dẫn cho người !
Các bạn trẻ thường viện dẫn huynh A, thầy B đã tận tình chỉ bảo, cho chú, tặng ngải…, tạI sao tôi lại làm ngơ trước tấm lòng thành.
Thật ra chuyện chỉ dẫn qua thư, qua tin nhắn chỉ phù hợp với những huynh đệ đồng môn mà thôi. Còn đối với người chưa biết mặt, chưa biết tâm tính như thế nào đã hướng dẫn tràn lan thì hậu quả sau này ai chịu? 
Xin hỏi có bao nhiêu ngườI dám khẳng định những gì được chỉ dẫn qua tin nhắn là chân truyền, là đúng pháp? Không khéo, có ngườI hằng đêm say sưa đọc chú luyện ngảI mà không biết mình đang đọc chú réo ma chết ngoài đường về nhà làm bầu bạn.
Tôi vốn là kẻ lườI chảy thây, chảy nhớt, lườI bẩm sinh và rất sợ trách nhiệm. Chỉ bảo cho ai điều gì, nhỡ ngườI đó gặp chuyện, làm sao tôi giảI mở được. Hơn nữa, không chỉ dạy thì thôi, đã chỉ dạy thì phảI toàn tâm toàn ý không dấu giếm. Muốn thế phảI làm lễ tổ, truyền pháp, điểm thần… Ôi! hàng loạt rắc rối.
Do vậy, đã không muốn phiền phức thì từ đầu không nên chỉ dẫn cho aiĐồ được gọi là “quý” khi nhiều người biết trân trọng nó. Khi bày bán giữa chợ đời thì chẳng còn gì gọi là quý nữa đâu. Tuỳ theo cảm nhận của từng người mà ta thấy quý hay không. Quý vì các bạn xem trọng huyền pháp, nhưng vẫn có khối người chỉ tin vào đồng tiền và bản thân mình thì họ xem những chuyện ta đang kể như trò gạt gẫm. Bác sĩ Tây Y còn chê bai Đông Y sĩ  cơ mà! Huống chi là những chuyện mơ hồ về cây cỏ…
Tôi không phải thầy ngải, thậm chí ngày xưa tôi không thích ngải. Có nhiều chuyện liên quan đến những loài cây tánh linh này khiến tôi rất “chợn”. Nhưng, về sau này tôi tìm hiểu và nhận ra rằng cái nhìn của mình trước đây thật ấu trĩ. Bùa hay ngải hay Mật pháp hay Tiên gia đều có mặt trái ngược của nó. Đích đến càng cao thì mặt trái ngược càng dữ dội. Luyện bùa hay tu Mật pháp, Tiên gia đều có thể tẩu hoả nhập ma nếu tâm thuật bất chính. Luyện ngải cũng có phản chiêu như vậy. Những chuyện ngải phản chiêu cũng nhiều tình tiết, có lẽ từ từ những lúc rảnh rang cao hứng mới gõ mấy hàng kể lại cho vui. Còn bây giờ, tôi tiếp tục các công năng của 12 nàng ngải.
Công năng thứ ba phải kể đến là giúp ăn nói.
Trong cuộc sống, chúng ta từng nghe kể hoặc chứng kiến những người xung quanh, thậm chí người thân của mình bị lừa gạt lột sạch cả tiền bạc, nữ trang. Chỉ cần tiếp xúc nói chuyện với người lạ một hai câu là bỗng nhiên nghe theo răm rắp. Người kia bảo làm gì cũng làm theo mà không hề suy nghĩ. Mãi đến khi kẻ lạ cao chạy xa bay thì  mới giật mình tỉnh lại. Tiền bạc lúc bấy giờ đã nằm trong túi người khác.
Có nhiều cách lý giải về trường hợp này. Những người tin khoa học cho rằng kẻ lừa gạt đã sử dụng loại thuốc gây mê nồng độ cao. Khi tiếp xúc với con mồi, kẻ gian rút khăn ra phe phẩy, thuốc mê trong khăn làm con mồi nửa mê nửa tỉnh nói gì làm đó…
Thực hư thế nào chẳng rõ vì tôi không phải trong nghề này nên không có lời giải thích đúng đắn.
Nhưng, trong các loại ngải Nàng, có những cây ngải chuyên dùng cho việc thu phục người khác - đó là Mê Tâm ngải. Loại ngải này trước đây tôi có thấy qua nhưng sau này ít gặp. Người luyện ngải này thường phục vụ cho nhu cầu lợi dưỡng cá nhân. Thầy bà dùng ngải này để chiêu dụ đệ tử, đặc biệt là những người giàu có khiến cho những người ấy mê lời thầy như tin lời Thánh phán. Thầy bảo làm gì thì răm rắp làm theo bất chấp lời khuyên can của người thân, bè bạn. Thậm chí bỏ cả công ăn việc làm để theo thầy “hành đạo giúp đời”, thực chất là mang tiền theo để bao thầy ăn chơi trác táng. Nhiều cô gái làng chơi bỏ tiền triệu ra chuộc ngải này để mê hoặc các đại gia lắm tiền của, mê gái gú. Trên diễn đàn, thỉnh thoảng ta vẫn thấy nhiều bài than thở cho hoàn cảnh gia đình bị người thứ ba xen vào làm cho tan nát. Nhiều lúc “người thứ ba” ấy còn xấu xí hơn cả người làm trong nhà, nhưng các ông vẫn say mê bỏ nhà bỏ cửa…
Mê Tâm ngải gần đây được các thầy tận dụng triệt để. Không chỉ vì nó là nguồn lợi dưỡng phong phú cho thầy mà còn tính năng hút hồn người khác, khiến cho đối tượng phải chiều lòn theo ý của thầy.
Ngải Mê Tâm được luyện vào dầu thơm, xức vào người để nói chuyện. Người sử dụng dầu phải biết cách sử dụng, biết thời điểm lấy dầu ra xức để thu phục con mồi….

***
.. Nhưng, cách luyện vào dầu để chài con mồi vẫn còn “nhân đức”. NgườI bị ngải chỉ mê mẩn trong một thờI gian nhất định rồI tỉnh lại. Loại này thường dùng vớI mục đích lừa gạt lấy tiền đốI tượng rồI thôi. Các cô gái làng chơi xức dầu này để lấy lòng khách nhằm  xin tiền “boa” của khách nhiều hơn mà thôi, chưa đáng để lên án nặng nề.
Cách thứ hai mớI là tàn nhẫn.
Luyện ngảI cho vào đồ ăn thức uống.
Cách này làm con mồI ăn phảI tâm thần trở nên lú lẫn, thị phi đen trắng bất phân. Hễ ngườI bỏ ngảI nói gì, lập tức kẻ bị ngảI làm theo như máy. Từ tiền bạc cho đến nhà cửa đất đai, từng thứ, từng món lần lượt độI nón chạy qua túi của ngườI bỏ ngải. Gia đình xào xáo, con ghét cha, vợ hận chồng. Nguy cơ tan vỡ chỉ còn trong tầm tay với.
Thật ra, trong cuộc đờI điên đảo này, không có ngảI xen vào, ta vẫn thấy bi kịch xảy ra nhan nhãn. NgảI nghệ xuất hiện để góp cho cuộc đờI một chút “thi vị” mà thôi.
Công năng của ngảI càng mạnh thì sức luyện càng nhiều. Cho nên, ở thành thị các thầy thường chọn cách thứ nhất. Ở các vùng Trà Vinh, Sóc Trăng, Tân Châu, Hồng Ngự… các thầy Miên thường chọn cách thứ hai.  Vướng phảI mấy thầy này, con mồI chỉ còn nước tan nhà nát cửa.
Nói đi cũng phảI nói lại. Ta không đổ tộI hết cho  thầy bà. NgườI bị ngảI là kẻ vô năng thiểu đức. Nợ nghiệp tiền khiên vớI ngườI bỏ ngảI nên kiếp này mớI gặp nhau mà trả món nợ ngày xưa. Điều quan trọng là ta phảI biết lúc nào ân oán nghiệp báo đến thờI kì viên mãn để mình can thiệp.
Thói thường khi gặp chuyện này, gia đình chạy tứ phương tìm thầy giảI mở. Vậy là tốn thêm một mớ tiền khác cho thầy khác. Nếu gặp thầy dzỏm thì “tiền mất tật mang”. Còn gặp thầy “xịn” thì sao? Kết quả càng tệ hạI hơn.
TạI sao?
Cơ thể ngườI bị ngảI trở thành bãi chiến trường cho hai thầy đấu phép. Thầy gỡ ngảI thất bạI thì ngườI bị ngảI mê lú càng nặng hơn. Dẫu có thắng chăng nữa, ngườI bị ngảI cũng trở nên khờ khạo một thờI gian dài  như ốm nặng vừa mớI khỏi. Vả lạI, nếu nợ nghiệp còn vương, gia đình dẫu gặp thầy hay cũng không thể nào giảI mở hết cho con bệnh  được.
Trên diễn đàn, nhiều bạn trẻ góp nhặt ở đâu vài phương cách giảI trừ ngảI độc, đem ra hướng dẫn mọI người. Ví dụ như cho ăn tỏI sống hay … đạI loạI như thế. Đừng dạI một mà thử, vì sao vậy? TỏI đúng là khắc kỵ vớI ngải. Cũng vì khắc kỵ nên cho ăn vào ngườI ngảI sẽ phản ứng dữ dội có thể sẽ bị lở loét, bị hành hạ vật vã đến điên loạn. Tội nghiệp này ai là người gây ra vậy? Lúc ấy,  sẽ có ngườI viện dẫn tiêu đề của trang web “ tài liệu này chỉ mang tính tham khảo… không chịu trách nhiệm…”.  Nếu là tham khảo, thì đừng chỉ phương pháp, bởI trên đờI có khốI con thiêu thân sẵn sàng lao vào thử lửa …
Than ôi! Nhân sâm cũng có lúc trở thành thuốc độc nếu cho uống nhầm lúc đang đau bụng…
Tốt nhất, dễ thực hiện nhất là cả gia đình dốc lòng yêu thương ngườI bị ngải. Ăn chay, phóng sanh hằng ngày, hằng tuần, hằng tháng vì ngườI bệnh. GửI tên ngườI bệnh vào các tự viện linh thiêng, thành khẩn cầu xin những bậc đạo cao đức trọng chú nguyện cầu an cho họ. Đó là phương pháp ai cũng làm được nhưng… ít ai thèm làm. Vì … nó bình thường đến mức tầm thường, hổng có gì là huyền bí…
NgườI đờI thích động dao động thớt hơn là âm thầm làm công đức.
(Tác Giả :TADN)
Còn nữa

TẬP TRUYỆN KINH DỊ : AI HÁT GIỮA RỪNG KHUYA

Lời Tác Giả:  
Tchya Đái Đức Tuấn

Tôi dụi mắt ngắm kỹ một lần chót nữa. Quả nhiên, cũng như cảnh tượng vừa hiện ra lúc tôi mới đến, tất cả sự vật chung quanh mình tôi cứ tựa hồ chứa đầy một vẻ bí mật thiêng liêng rùng rợn, một vẻ bí mật mà hình ảnh rõ rệt tôi được mục kích càng làm cho dữ dội, nặng nề.
Hiện trạng đương phô bày trên mái đồi kia, trước mắt tôi không xa mấy, dưới ánh nắng vàng đỏ của buổi chiều tà, hiện tượng đó có quả thực là một hiện tượng hay không, hay chỉ là một hình ảnh mơ hồ mà đôi mắt quáng của tôi lầm tưởng là một bức tranh kỳ quặc? Tôi phân vân không biết tự đáp thế nào. Ngắm đi ngắm lại, nhìn rồi lại dụi mắt, dụi mắt xong lại nhìn, tôi hết sức kinh nghiệm để chắc chắn, cho kỳ mối ngờ vực của tôi thành hẳn ra ngờ vực, hoặc biến thành một tín ngưỡng sâu xa. Nhưng... có lẽ nó hóa ra tín ngưỡng mất.
Vì, chỉ cách tôi bảy tám cột đèn, nghĩa là non hai trăm thước, giữa ban ngày, sự lạ lùng hiện ra cho tôi trông thấy vẫn không hề biến đi, mà cũng không thay đổi. Sự ấy thực là một kỳ quan độc nhất vô nhị, một sự tối vô lý mà mình phải tin là thật, nhưng cũng có nghi ngờ là giả dối, mơ hồ. Cứ lấy con mắt hết sức chú ý nhìn, thì sự đó vẫn không trốn tránh tính tò mò hiếu sự của ta; song, hễ khi nào ta dùng đến một vật gì để đi gần lại trường hoạt động của nó, thì nó biến vụt ngay như làn khói bị gió lùa. Hoặc ta tìm cách đi gần chân đồi, còn độ hai ba cột đèn sẽ tới nơi, trông lên thì không thấy gì nữa cả; hoặc ta đưa lên mắt một cặ ống nhòm để phóng đại trường qua sát, phong cảnh càng to ra bao nhiêu thì hình ảnh ta muốn thấy lại mờ đi bấy nhiêu, có khi hóa thành trong như vắt như kính, nghĩa là không có hình sắc nữa.

Bằng cứ chịu khó đứng xa xa mà ngắm nhìn, thì dẫu ngắm chán mắt, sự kỳ quặc kia cũng vẫn hiện ra cho mình trông thấy, hiện ra một cách nửa rõ rệt, nửa mơ hồ, lạ lùng khó tả quá! Nhưng không phải ngày nào, giờ nào, bất cứ lúc nào, ta cũng có hạnh phúc được nhìn nó. Nó chỉ thoát khỏi cõi âm trở về cõi dương một năm có vài kỳ, mỗi lần sự biến thiêng của khí hậu gợi cho nó nỗi nhớ tiếc thời oanh liệt thuở xưa.
Sự biến thiên đó họa hoằn mới xảy ra; ấy là một điều tối không may cho những khách tò mò hiếu sự. Như tôi chẳng hạn. Tôi đã phải dằng lòng gắn sức đợi đến ngót tháng trời được trông thấy hình bóng tôi muốn thấy; nào phải đâu là sự dễ dàng.
Cảnh tượng dị kỳ tôi đã được chứng kiến, nó là hai con ma, hai cái oan hồn uất ức của hai kẻ chịu tử hình, lâu ngày không tiêu đi được nên tụ lại thành bóng, hấp thụ mãi khí thiêng liêng của trời đất, nên mỗi khi bị hoàn cảnh xúc động đến là hiện được lên ngay, hiện lên để diễn lại một tấn trò mà xưa kia, hai oan hồn đó thường diễn những giờ cao hứng.
Phàm giả người ta, trong buổi bình sinh, có một thú gì mình yêu nhất, mê nhất, một thú gì làm then chốt cho tất cả bao nhiêu tính tình dục vọng của mình, một thú gì mình đã biết hưởng và đã đặt trên tất cả những khoái lạc của cuộc đời, thì nhiều lúc, sau khi đã lìa bỏ cõi tục rồi, vẫn còn nhớ tiếc đến thú ấy luôn luôn, chỉ ngong ngóng chờ có dịp hưởng lại là chộp lấy ngay, không bỏ sót.
Cũng bởi cớ đó nên một khi thi nhân đã chết, hồn thi nhân còn muốn ngâm thơ; một khi nhạc công đã chết, hồn nhạc công còn muốn gảy đàn. Câu thơ Ðường của Vương Bột văng vẳng trên dòng sông Lạc, điệu đàn của Sư Quyên véo von trên mặt sông Bộc đó chẳng phải là những chứng cớ rõ ràng cho thuyết ấy hay sao?
Mà nhất là khi kẻ bị thác lại là người mệnh bạc, vì nghiệp chướng mà chết oan, chết yểu, bất đắc kỳ tử hay bị nhục hình, thì một điểm linh hồn bay phiêu diêu trong gầm non nước không tài nàosiêu linh tịnh độ được, cứ mập mờ khi tan khi tụ, bơ vơ trôi dạt, không đâu là bờ bến. Ðiểm linh hồn đó vẫn còn nhớ rõ rệt cuộc sinh hoạt mình trải, vẫn còn đầy dục vọng và tình cảm, nhưng chỉ vì không có xác vật chất nên khó lòng diễn được dục vọng và tình cảm đó mà thôi. Nhiều khi linh hồn còn muốn sống thêm nữa trên cõi thế, bởi chưa dứt hẳn trần duyên, còn muốn vẫy vùng nữa, ganh đua nữa cùng với người đời cùng tranh đấu cho tới cùng. Có linh hồn khi thác bỗng tỉnh ngộ ra, bay lên một cõi thiêng liêng cao sạch để ngao du, tĩnh dưỡng.... Còn như các linh hồn bị nghiệp duyên dục vọng buộc chặt với cuộc sinh hoạt củ loài người, thì chúng thường hay bay vơ vẩn quanh quẩn bên mình ta, trông ta một cách ham muốn thèm thuồng, chỉ đợi có dịp là tất là trở về sống chung với ta, dẫu rằng trong một phút.
Ðó là những chúng sinh.
Mỗi khi có đàn tràng cúng tế, là chúng lần mò cùng đến, để rồi cướp lộc cướp cơm, mỗi khi có kẻ ngồi đồng, hay có kẻ thần hồn bị suy nhược là chúng ám vào người để được cử động quay cuồng cho đắc ý. Lại những cuộc thi hội, thi hương, thì chúng tụ lại họp cả ở cửa trường, để đợi gọi đến thì ùa vào mà báo ân báo oán.
Nói ra không hết được; ta chỉ biết bởi cớ có nhiều âm hồn còn muốn sống nữa, nên khi có xảy ra những chuyện kỳ dị mà, nếu mắt ta chịu khó bỏ hết các thành kiến, nếu ta chịu lưu tâm suy xét đôi chút đến nhẽ huyền vi của máy âm dương, ta sẽ nhận thấy rõ là không có sự gì hoang đường cả. Trên đời chỉ hoàng toàn có sự thực mà thôi, cái gì có thể xảy ra được đều là sự thực cả. Chỉ có một điều là không phải ma nào, oan hồn nào cũng hiện lên được cả. Ma muốn hiện hình tất phải đủ tư cách, phải ở trong những trường hợp không bị ngăn trở mới biến hóa được. Thí dụ như vàng muốn biến thành nước tất pphải nấu lên ngoài ngàn độ, sự biến từ thể nọ sang thể kia không phải bất cứ trường hợp nào cũng xảy ra được.
Cho nên, ma có thể hiện hình được, trước hết cốt phải thiêng, mà muốn thiêng, thì thao như chúng ta biết, phải có một vài điều kiện. Một là chết đúng giờ, hai là chết trẻ, ba là chết một cách thê thảm, bốn là chết oan, năm là được chôn ở đất có mạch hay là hấp thụ được khí thiêng của trời đất.
Phi mấy điều kiện ấy, thì chỉ là một mảnh hồn yếu ớt, phất phưởng, khi tán khi tụ, bay là là vô định trong gầm vô định mà thôi. Mà có được cả mấy điều kiện vừa kể, cũng phải tùy từng tuổi, từng chỗ, từng thời mới hiện lên được...
Cuộc sống ồn ào đã đánh tan âm khí, ma thiêng phải bạt đi xa. Những linh hồn, dù mạnh mẽ đến đâu, cũng khó có lòng hiện lên được, vì khí dương mạnh quá. Có lẽ các ma thiêng đều chạy cả về những chốn đồng rừng xa vắng, ở lẫn lút trên đồi, trên ải, không còn hy vọng gì phảng phất ở những đô thành.
Chả bù với thời thái bình êm ái thuở xưa: đâu đâu âm khí cũng đều vượng cả, muốn rong chơi chỗ nào cũng được, không bị một mãnh lực gì ngăn cản, đánh tan đi. Thuở đó, người âm phủ với người dương gian nào có xa nhau mấy: ông Bồ đã vì sự người với ma hay chung chạ mà viết nên pho truyện Liêu Trai. Ðến thời nay, Liêu Trai đã hóa ra một cuốn truyện hoang đường vô lý! Cho hay ma cũng có thời.
Tôi có lẽ còn được nhiều hạnh phúc hơn Bồ tiên sinh là tôi đã được thấy tận mắt ma hiện hình giữa ban ngày, trong thời đại bây giờ, lại ở một nơi không cách xa đô thành phồn nhiệt mấy. Ðó thực là một sự lạ; và, cũng vì sự lạ đó, tôi mới chép nên câu chuyện này...
(Còn nữa)

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2010

Ly kỳ bảo vật Việt Nam - Bộ biên chung Nhạc lễ triều Nguyễn

Trong hệ thống nhạc cụ thuộc Nhạc lễ triều Nguyễn, hiện nay còn lưu giữ 8 chiếc biên chung ở Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế. Vào tháng 3.2005, 8 chiếc biên chung này đã được lập hồ sơ đề nghị công nhận là Bảo vật Quốc gia.
Bộ Biên chung này nguyên là loại nhạc cụ bằng đồng thuộc “biên chế” của dàn Huyền nhạc (nhạc treo) trong hệ thống đại nhạc (thuộc Nhã nhạc), sử dụng trong những buổi tế lễ trọng đại có tính nghi thức như: lễ Đại triều ở điện Thái Hòa, lễ Tế Giao, lễ Tế Xã Tắc... Sách Đại Nam thực lục của triều Nguyễn có ghi: “...Vua định lại nghị chương về triều hạ, về nhạc cụ cho lễ đại triều ở điện Thái Hòa: Nhã nhạc sử dụng một bộ (nhạc cụ) gồm một chiếc chuông to, một chiếc khánh lớn, một bộ chuông nhỏ gồm mười hai chiếc, một bộ khánh nhỏ gồm mười hai chiếc(...)”. Bộ biên chung hiện nay (còn lại 8 chiếc) là hiện vật biểu trưng sinh động cho Nhạc lễ triều Nguyễn thuộc loại hình Nhã nhạc, đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Một chiếc biên chung - Ảnh: Tư Liệu
8 chiếc chuông còn lại hiện nay ở Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế đều bằng đồng, quai chuông đúc hình 2 con “bồ lao”, giữa thân “bồ lao” có móc để treo chuông lên giá. Chuông được đúc rỗng, độ dày dao động từ 0,8 đến 1cm, thành chuông đúc 5 đường gờ nổi song song tượng trưng cho ngũ hành, 4 đường gờ có đúc nổi 9 nút nhỏ ở mỗi đường để làm điểm để gõ. Ở đây số 9 cũng là một con số có ý nghĩa, mà ngoài ý nghĩa tượng trưng cho mạng thiên tử, nó còn liên quan đến khúc nhạc Thiều cửu thành (trong Kinh Thư)
- tên một khúc nhạc của vua Thuấn, nói đến những điều tốt đẹp, sự thịnh trị của đất nước. Các nút nhỏ cũng là các ký hiệu về “cường độ” của chuông trong lúc trình tấu và “trường độ” về hiệu quả âm thanh.


Bộ biên chung được thiết đặt trong lễ Tế Giao tại Đàn Nam Giao vào đầu thế kỷ XX
Năm 2002 - 2003, trong khi thực hiện hồ sơ Nhã nhạc để trình UNESCO công nhận là Kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, chúng tôi đã từng gặp gỡ, tiếp xúc với các nghệ nhân Nhã nhạc như Trần Kích, Lữ Hữu Thi... để tìm hiểu về cách thức trình tấu loại nhạc cụ biên chung, nhưng tất cả đều không nắm giữ các quy thức, kỹ năng trình tấu loại nhạc cụ này. Hiện nay, cũng không có ai dám khẳng định sẽ trình tấu được bộ biên chung. Đó quả là một điều đáng tiếc. Năm 2004, Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế đã từng phục chế một bộ biên chung gồm 12 chiếc và trưng bày tại Trai Cung, nhưng việc phục chế đó chỉ hướng đến sự hình dung hoàn chỉnh về cơ cấu 12 âm Luật Lã, có nghĩa chỉ mới phục chế được vẻ bên ngoài của nhạc cụ này.


Bộ biên chung do Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế phục chế - Ảnh: Tư Liệu
Trong quá trình triển khai dự án bảo tồn nhã nhạc - âm nhạc cung đình VN giai đoạn 2005 -2009, hồ sơ khoa học về bộ biên chung cũng đã được thực hiện với sự giúp đỡ rất quan trọng của các chuyên gia âm nhạc Hàn Quốc (một nước cũng có các bộ biên chung trong hệ thống Nhã nhạc). Các chuyên gia của Hàn Quốc đã đến Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế để nghiên cứu, đo các thang âm trực tiếp tại 8 chiếc biên chung nhưng kết quả không khả quan. Bởi lẽ, 8 chiếc biên chung này do chịu tác động sự “phong hóa” của thời gian nên âm thanh không còn được như nguyên thủy. Đó cũng là những khó khăn trong việc hướng đến phục chế bộ biên chung và đưa vào sử dụng trong các lễ hội được phục dựng như lễ Tế Giao, Tế Xã Tắc.
Ở điện Thái Hòa (Hoàng Thành, Huế) có 14 bài thơ đề cập đến Lễ nhạc (nhã nhạc) của triều Nguyễn. Đặc biệt, có câu: Lễ nhạc siêu Tam Đại (Lễ nhạc vượt cả thời Tam Đại). Nhiều người biết rằng thời Tam Đại với ba triều vua Trung Quốc ứng với nhà Hạ, Thương, Chu với nhiều truyền thống văn hóa tốt đẹp, bày điển chương lễ nhạc một cách quy củ để khẳng định sự hưng thịnh của triều đại. Nhưng đến triều Nguyễn, các vị vua VN đã tự tin lẫn tự hào để khẳng định sự vượt trội về Lễ nhạc của mình, đó là những niềm tự hào tột bậc của triều đình đối với cơ đồ sự nghiệp, đối với giang sơn xã tắc.
Bộ biên chung đã trở thành một điển chế có tính đại diện, nó xuất hiện trong các lễ triều nghi, phản ánh được sự quy củ trong nghi thức “giao tiếp vĩ mô” mang tầm đại sự thời bấy giờ, là một báu vật ghi đậm dấu ấn văn hóa và tâm linh.

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2010

Tỳ hưu tác dụng và cách sắp đặt

Tác dụng của Tỳ Hưu khác nhau phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: hình dáng, đặc điểm của Tỳ Hưu, màu sắc và chất liệu tạc nên Tỳ Hưu,…và muốn có tác dụng tốt thì nhất thiết phải đặt đúng vị trí và dùng theo đúng bản mệnh của mình

1.Tác dụng của Tỳ Hưu
Con Tỳ Hưu không chỉ mang tiền bạc vào nhà mà còn giúp công danh tấn tới và sự bình an lâu dài. Trước tiên, con Tỳ Hưu là linh vật không có hậu môn, nhưng thỉnh thoảng người bán vẫn đục một lỗ nhỏ ở vị trí hậu môn của vài con Tỳ Hưu và trộn chung vào số những con Tỳ Hưu khác. Họ không chỉ khiếm khuyết ấy cho người mua bao giờ, bởi theo họ đó là duyên của người chọn mua, và đâu phải cứ ai muốn giàu là được giàu. Như vậy nếu người nào mua phải Tỳ Hưu có hậu môn thì dù có làm ăn khá giả nhưng không giữ được của. Còn muốn công danh tấn tới thì người mua phải chọn con Tỳ Hưu có sừng, có cánh, mông nhỏng cao, thuôn. Muốn cầu sức khỏe, bình an thì đó là con Tỳ Hưu có râu, mông thuôn và không có cánh (để sức khỏe và bình an không bay đi mất). Tuyệt nhất và tròn trịa nhất đó là con Tỳ Hưu phải có chòm râu càng dài càng tốt, có cái bụng to và mông tròn căng, có sừng (không cần sừng dài như công danh, nhưng phải có sừng) và có cánh.

Về màu sắc : Tỳ Hưu màu đen thì có tác dụng chiêu tài, phát lộc. Tỳ Hưu màu trắng thì có tác dụng bảo trợ sức khỏe, phát tài phát lộc. Tỳ Hưu màu xanh thì có tác dụng may mắn trong công danh.
Các tác dụng khác: Tỳ Hưu còn có tác dụng trấn nhà để tránh tà khí (nhớ phải là Tỳ Hưu một sừng), ta đặt Tỳ Hưu đã được “khai quang” ở các hướng tốt trong nhà như : Sinh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị. Nhất là hướng “sinh khí”, thì Tỳ Hưu có thể làm cho vận mệnh các thành viên trong gia đình chuyển biến tốt, vận mệnh tốt được nâng cao, đuổi tà khí đi và có tác dụng trấn nhà, vì vậy Tỳ Hưu đã trở thành thần bảo vệ cho gia đình, bảo vệ sự bình yên cho ngôi nhà của bạn.
Tỳ Hưu còn có tác dụng hóa giải “Ngũ hoàng đại sát”. Ngũ hoàng đại sát là một sát tinh trong phong thủy,khi nó vào nhà thì tác dụng của nó thật vô cùng đáng sợ, mang đến những điều bất lợi cho tất cả các thành viên trong gia đình về sức khỏe và tài vận.
2. Cách mang và đặt Tỳ Hưu trong nhà
Muốn Tỳ Hưu có tác dụng tốt và linh nghiệm thì Tỳ Hưu phải được tạc bằng các loại đá quý tự nhiên. Tại sao Tỳ Hưu tạc bằng các loại đá quý tự nhiên thì mới linh? Người Trung Quốc quan niệm rằng chữ Vương có một dấu chấm (.) thành chữ Ngọc, nghĩa là ai dùng ngọc là người vương giả, giàu sang. Do vậy phải tạc bằng ngọc quý thì mới linh nghiệm mà ngọc tự nhiên thì mới quý.
Tỳ Hưu khi đặt, đầu Tỳ Hưu phải hướng ra cửa chính, hoặc hướng ra cửa sổ để chiêu tài khí bốn phương. Tất nhiên khi đặt bất cứ vật khí phong thuỷ nào, điều cần phải nhớ là: Xem ngày giờ tốt để đặt.
Nếu ở phương vị ngũ hoàng đại sát bay đến, ta đặt hai con Tỳ Hưu phía sau cửa chính, đầu Tỳ Hưu hướng về phía trước, thì có thể hóa giải sát khí của ngũ hoàng đại sát.
Nếu đeo hoặc mang Tỳ Hưu trên người thì tối kỵ sờ tay hoặc để người khác sờ tay vào mắt, miệng, lưỡi, răng của Tỳ Hưu. Nếu không Tỳ Hưu sẽ bị mờ mắt, mòn răng và do vậy sẽ mang được ít vàng bạc châu báu đến cho gia chủ. Khi đi ngủ chớ quên tháo Tỳ Hưu ra và cất đi, nhất là không bao giờ đeo trong khi quan hệ vợ chồng.
Một điều tối kỵ nữa là đem co hoặc tặng Tỳ Hưu mà mình đang đặt trong nhà hoặc đang mang trên người, nếu không thì tài lộc của mình sẽ bị chuyển sang người khác.
TS. Phạm Văn Long Sưu tầm

Tỳ hưu và chín con của Rồng



Omani*-Tôi nhớ không lầm đã đọc một bài báo về chín con của Rồng trên Tuổi trẻ chủ nhật ( nay là Tuổi trẻ cuối tuần) nhưng không nhớ được tên tác giả. Tình cờ hôm nay lang thang trên mạng đọc được  bài này nên “cọp” về đây trước là cho anh em thăm nhà  có cái để đọc, sau xem như một tư liệu về phong thủy.
http://www.phongthuy.com.vn/ProductFolder/1169227152.jpg1.Nguồn gốc của Tỳ Hưu
Truyền thuyết về Tỳ Hưu được xuất phát từ chin loại con của Rồng. Rồng sinh ra chín con, là chín loài thần thú nhưng không phải là rồng. Chín loài ấy, có 2 thuyết khác nhau, với thứ tự cũng khác nhau:
Thuyết 1: Tỳ hưu – Nhai xế – Trào phong – Bồ lao – Toan nghê – Bí hí – Bệ ngạn – Phụ hí – Si vẫn.
Thuyết 2: Bí hí – Si vẫn – Bồ lao – Bệ ngạn – Thao thiết – Công phúc – Nhai xế – Toan nghê – Tiêu đồ
Đặc điểm của các loài này được cho là như sau:
1. Tỳ Hưu (Tu Lỳ): Tỳ Hưu đầu như Kỳ Lân, có một sừng, thân của gấu, có cánh trên lưng. Tỳ Hưu một sừng là giống cực kỳ hung dữ, chuyên cắn hút tinh huyết của các loài yêu quái, ma quỷ nên còn gọi là con Tịch Tà. Loại Tỳ Hưu hai sừng là loài chuyên hút vàng bạc, châu báu trong trời đất nên được cho là con vật giữ tài lộc hay còn gọi là Thiên Lộc. Khi đó Tỳ Hưu có đặc điểm miệng to, ngực to, mông to nhưng không có hậu môn (chỉ để hút vào mà không làm mất đi cái gì). Nếu thỉnh một cặp Tỳ Hưu thì con cái là Tỳ, con đực là Hưu.
Tu Lỳ là kiện tác của Tỳ Hưu, với tư thế cuộn tròn, lưỡi cong, răng sắc đón lộc và giữ của. Khi mua Tỳ Hưu rất dễ bị nhầm thành Chó Trời , không hề có tác dụng tốt cho gia chủ.
Tỳ Hưu cũng có đặc điểm là thích âm nhạc, có tài thẩm âm. Vì thế nên Tỳ Hưu thường được khắc trên đầu cây đàn hồ cầm, nguyệt cầm, tì bà.
2. Nhai Xế (Nhai tí): loài mình rồng, đầu chó sói, cương liệt hung dữ, khát máu hiếu sát, thích chém giết chiến trận. Vì thế Nhai Xế được khắc ở thân vũ khí: ngậm lưỡi phủ, lưỡi gươm đao, trên vỏ gươm, chuôi cầm khí giới để thêm phần sát khí.

3. Trào Phong: có thân phượng, có thể hóa thành chim, đặc điểm thích sự nguy hiểm,
nhìn ra vọng rộng. Do đó Trào Phong được tạc ngồi trên nóc nhà, đầu mái nhà nhìn về phía xa.

4. Bồ Lao: thích tiếng động lớn, âm thanh vang dội, vì thế quai chuông khắc hình Bồ Lao hai đầu quay ra hai bên ôm chặt quả chuông.

5. Toan Nghê: hình thù giống sư tử, thích khói lửa, mùi thơm, nuốt khói phun sương. Do đó Toan Nghê được khắc trên các lư hương, đỉnh trầm, ngồi trầm mặc trên đỉnh hay bám hai bên.

6. Bí Hí còn gọi là Quy Phu: giống con rùa, thích mang nặng, có thể cõng được tam sơn ngũ nhạc không bao giờ mỏi. Vì thế Bí Hí cõng bia, trụ đá, nhiều người nhầm với rùa.

7. Bệ Ngạn (Bệ hãn) còn gọi là Hiến chương: như con hổ, thích nghe phán xử, phân định; vì thế Bệ Ngạn được tạc ở công đường, nhà ngục, trên các tấm biển công đường.

8. Phụ Hí: mình dài giống rồng, thích văn chương thanh nhã, lời văn hay chữ tốt. Vì thế Phụ hí tạc trên đỉnh hoặc hai bên thân bia đá.

9. Si Vẫn (Li vẫn, Si vĩ): miệng trơn họng to, rất thích nuốt các vật lớn, lại có thể phun nước làm mưa. Vì thế Si Vẫn được tạc trên nóc nhà để phòng hỏa hoạn, khác với Trào Phong là đầu quay vào trong, nuốt lấy xà nhà hoặc bờ nóc.

10. Thao Thiết: thích ăn uống, càng nhiều đồ ăn càng tốt. Vì thế được khắc trên các vạc lớn, lại tượng trưng cho việc thu lấy tài lộc giống Tì Hưu.

11. Công Phúc (Bát phúc, Bát hạ): thích nước, nên được khắc tạc ở chân cầu, đê đập, cống nước để canh giữ.

12. Tiêu Đồ (Thúc đồ, Phô thủ): đầu giống sư tử, thích sự kín đáo yên tĩnh. Vì thế được tạc ngoài cửa, ngụ ý giữ yên cho ngôi nhà. Đầu Phô Thủ ngậm thêm cái vòng để khách đến dùng nó mà gõ.

2.Tương Truyền về Tỳ Hưu
 Tương truyền, thời vua Minh Thái Tổ  (Trung Quốc) khi lập nghiệp gặp lúc ngân khố cạn kiệt, vua rất lo lắng. Trong giấc mơ vàng, vua thấy có con vật đầu lân mình to, chân to lại có sừng trên đầu xuất hiện ở khu vực phía trước cung điện nuốt nhanh những thỏi vàng ròng sáng chói mang vào trong cung vua.
Theo thầy phong thủy tính toán, khu vực xuất hiện con vật ấy là cung tài và đất ấy là đất linh, như vậy, theo đó giấc mơ đã ứng với việc trời đất muốn giúp nhà vua lập nghiệp lớn. Sau đó vua Minh Thái Tổ cho xây một cổng thành to trên trục Bắc Nam, đường dẫn vào Tử Cấm thành, ngay tại cung tài ấy.
 Con linh vật ấy có mặt giống con lân đực nhưng lại có râu, mình to, mông to như mông bò, đuôi dài, có chùm lông đuôi rậm. Con vật này không ăn thức ăn bình thường mà chỉ ăn vàng, bạc, đặc biệt nó không có hậu môn, do vậy vàng bạc nó ăn vào không bị thoát đi đâu, cho dù no căng bụng.
 Sau khi có linh vật ấy, ngân khố nhà Minh ngày càng đầy.Sau đó, vua cho tạc tượng con linh vật trên bằng ngọc phỉ thúy và đặt trên lầu cao của khu “Tài môn”. Từ đấy, nhà Minh ngày càng mở rộng địa giới và trở thành triều đại giàu có.
 Khi nhà Mãn Thanh lên ngôi vua, họ vẫn rất tin vào sự mầu nhiệm của con vật linh kia và đặt tên cho nó là con Kỳ Hưu hay cũng gọi là Tỳ Hưu. Nhà Thanh cho tạc nhiều tượng con Tỳ Hưu đặt tại cung vua và hoàng hậu. Các cung công chúa, hoàng tử đều không được đặt con Tỳ Hưu. Các quan càng không được dùng cho nhà mình, bởi quan không được giàu hơn vua.
Thời ấy, ai dùng thứ gì giống vua dùng là phạm thượng. Nhưng với sự linh nghiệm của con vật này khiến các quan lại lén lút tạc tượng con Tỳ Hưu đặt trong phòng kín, ngay cung tài nhà mình để “dẫn tiền vào nhà”.
 Muốn tạc tượng phải gọi thợ điêu khắc và thế là thợ điêu khắc cũng tự tạc cho mình một con để trong buồng kín, cầu tài. Cứ thế, các đời sau, con, cháu thợ khắc ngọc cũng biết sự linh nghiệm ấy mà tạc tượng Tỳ Hưu để trong nhà, cầu may.
 Tại sao Tỳ Hưu tạc bằng các loại đá quý tự nhiên thì mới linh? Người Trung Quốc quan niệm rằng chữ Vương có một dấu chấm (.) thành chữ Ngọc, nghĩa là ai dùng ngọc là người vương giả, giàu sang. Do vậy phải tạc bằng ngọc quý thì mới linh nghiệm mà ngọc tự nhiên thì mới quý.
Theo TS. Phạm Văn Long( Sưu tầm)
------------------------------------------------------
*Zen-Bài này tôi post trên trang Omani nay post lại trên trang này thêm tư liệu