Thứ Tư, 13 tháng 1, 2010

TẬP TRUYỆN KINH DỊ : AI HÁT GIỮA RỪNG KHUYA IV

Ngàn Khuya Vắng Tiếng


-  Hai vợ chồng tôi ở đây đã quá một năm mà thực quả chưa bao giờ được cái hân hạnh như anh cả.
Từ khi chúng tôi vừa mới đến, đã nghe các ông cai và các bác phu già nói dông dài về nhiều chuyện đường rừng: Nào dã sử của mấy mươi loài chim lạ, như con “cô ơi”, con “trà toản”, con “tử quy”, con “da da” vân vân, nào sự tích của bao nhiêu loài dị thú, như con “thủ thỉ”, con “rắn lục”, con “sài cứu”, con “vọng nguyệt”, nói thế nào cho hết được; tóm lại phần nhiều những chuyện đó, tuy lý thú, ý vị cả, song không lấy gì làm kỳ dị hãi hùng.
Bản tính tôi chỉ thích nghe những chuyện hãi hùng mà thôi, hóa nên tôi chả để ý đến lời họ nói. Mãi sau này, có một ông cai già mà anh em áo cộc thường gọi “Lão Cai Móm”, vì răng ông ta rụng gần hết - ông ấy thuật tôi nghe một câu chuyện rất kỳ quặc, khủng khiếp. Ðầu tiên tôi không tin, cho là ông ta cố tình bịa đặt, một là để vừa lòng tôi, hai là để dọa vợ tôi cho thú vị. Nhưng, được ít lâu, trong một trường hợp cực kỳ quái gở, tôi suýt nữa bị tán đởm vì sợ hãi rồi từ đó tôi phải tin lời ông Cai già là đúng.

Đa đoan thú chơi cổ ngoạn

Ngay từ thời xa xưa, con người đã biết sáng tạo ra sản phẩm gốm sứ kết hợp từ những nguyện liệu của thiên nhiên bao gồm đất-trời-nước-lửa (càn-khôn-li-khảm), nhờ vậy chúng trường tồn theo thời gian mà không bị tiêu hủy như các sản phẩm làm bằng những vật liệu khác.
Trải bao biến thiên, vật đổi sao dời, những đồ gốm sứ còn lại đến nay đã trở thành một phần di sản vật thể của từng đất nước, qua đó giúp cho người đời sau nghiên cứu từ lịch sử, thơ văn, nghệ thuật đến phong tục, tập quán, ngôn ngữ của các thế hệ cha ông. Và chính những yếu tố đó đã cuốn hút bao nhiêu người đến với việc sưu tầm đồ cổ.
Ở miền Nam, nói đến thú chơi đồ cổ thì không thể không nhắc đến cụ Vương Hồng Sển (1902-1993) người từng tự nhận mình ham thích đồ xưa còn hơn khách hào hoa mê gái đẹp và hơn người đánh bạc mê trò đỏ đen. Vào năm 90 tuổi, đoán rằng sắp đến lúc phải từ giã vĩnh viễn những cổ vật thân thương của mình, cụ Vương có thảo một di ngôn chép thành 5 bản. Ngoài một bản do cụ giữ thì các bản còn lại được ân cần trao cho bốn người bạn mà cụ xem là tri âm tri kỷ. Nay thì hai người trong số ấy cũng đã qua đời, người thứ ba - ông Lâm Võ Hoàng, một chuyên viên kinh tế - vì nhiều lý do đã gác tay rửa kiếm.

Người thứ tư, cho đến nay vẫn còn đeo đẳng cuộc chơi, chính là anh Trần Đình Sơn, tuy sinh sau cụ Vương gần nửa thế kỷ mà lại vinh dự được cụ xem là người bạn vong niên thân thiết

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2010

Các lọai Ngải Nàng: Nàng Chuyền, Nàng Quạt, Nàng Mọi(II)

Còn có tên gọi khác là dây nhện. Có lẽ người ta thầy nàng Chuyền trổ nhánh toả ra như mạng nhện mà đặt thành tên. Ngải nàng Chuyền có lá màu xanh đậm, chuyền sọc có lá xanh nhạt hơn, dài khoảng 15 cm, sống lá hằn sâu đến cuống.
Nàng Chuyền có 2 loại chủ yếu: nàng Chuyền trơn và nàng Chuyền sọc.
*Nàng Chuyền trơn:



*Nàng Chuyền sọc

Điển tích Phật giáo trên đồ sứ ký kiểu

Vào giữa thế kỷ XVI đến gần  cuôi thế kỷ XVIII, các chúa  Nguyễn truyền nối nhau cai trị đất Đàng Trong. Dựa theo truyền thống “Cư trần lạc đạo” thời Lý-Trần, các chúa Nguyễn chu trương “cư Nho mộ Thích” để ổn định tâm lý xã hội đẩy mạnh việc phát triển đất nước ở phương Nam. Vào thời này, đạo Phật được triều đình lẫn quần chúng nhân dân tích cực ủng hộ. Các ngôi chùa được sắc tứ vào thời chúa Nguyễn cho đến nay vẫn còn như: chùa Thiên Mụ (Huế) chùa Tam Thai (Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng) chùa Thập Tháp Di Đà (Bình Định)…
Chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) là người thuần tín Phật giáo, ông quy y Phật, đạo hiệu là Thiên Túng Đạo Nhân. Vì thế khi sáng tác thơ văn, ông thường ghi ba chữ Đạo Nhân thư ở cuối tác phẩm. Và, từ đó các tác phẩm văn học Phật giáo đều được ông đặt ký kiểu trên đồ sứ Trung Quốc, nhiều nhất là vào năm 1701.
Đồ sứ ký kiêu của chúa Nguyễn Phúc Chu chủ yếu là các loại tô, dĩa đựng thức ăn, dụng cụ dùng để uống trà, thường có hiệu đề “Thanh Ngoạn” viết theo lối chữ Triện, với đề tài ký kiểu thường là phong cảnh sơn thủy, chùa tháp cùng các bài thơ vịnh phong cảnh non nước ở xứ Đàng Trong. Những ngôi chùa mà ông đã từng đến chiêm bái và có thơ ca ngợi vẻ đẹp nơi ấy đều là đề tài lớn trong sản phẩm ký kiểu còn tồn tại đến ngày nay.
Chiếc dĩa trà vẽ cảnh chùa Thái Bình ở núi Tam Thai (Ngũ Hành Sơn - H.1).
dokieu-1.gif
H.1
Một sản phẩm ký kiểu khác mang ý nghĩa giáo dục Phật giáo hết sức thiết thực mà các đời chúa Nguyễn đặt ký kiểu nhằm giáo dục trong nhân dân đoàn kết và sẻ chia, đo là chiếc dĩa vẽ tích “Hòa hợp nhị Thánh”, niên đại thế kỷ XVIII (H.2).

dokieu-2.gif
H.2
Theo truyền tích Trung Hoa, vào đời nhà Đường có hai nhà sư tên Hàn Sơn và Thập Đắc là bạn đồng tu  tại chùa Quốc Thanh. Sau một thời gian xa cách, Thập Đắc đi đến Tô Châu tìm Hàn Sơn. Nghe tin bạn đến, Hàn Sơn vội bẻ một cành hoa sen đang nở làm vật đón bạn. Gặp nhau hai người vô cùng hoan hỷ, Hàn Sơn lấy hoa sen phủi bụi trên áo cho Thập Đắc. Thập Đắc mở bình bát mới khất thực được mời Hàn Sơn cùng ăn. Về sau hai người cùng về ẩn tu ở Hàn Sơn tự, thường cứu giúp, hóa độ quần chúng. Do cảm niệm ân đức của Hàn Sơn và Thập Đắc cùng phong thái tự tại giải thoát nên dân gian thường vẽ hình ảnh Hàn Sơn  tay cầm hoa sen, Thập Đắc tay cầm bát cơm ngụ ý sự chia sẻ và hòa hợp. Đến đời Ung Chính nhà Thanh, vua Ung Chính hạ chiếu phong Hàn Sơn là Hòa Thánh, Thập Đắc là Hợp Thánh, cho nên bức họa thường đề là “Hòa hợp nhị Thánh”.
Chiếc dĩa vẽ tích “Huệ Khả cầu an tâm” (H.3) miêu tả Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma đang tọa thiền bên động Thiếu Thất ở Tung Sơn. Trên cầu đá ở ngoài trời sư Huệ Khả đứng quay mặt nhìn vào.
dokieu-3.gif
                                                                           H.4
Chiếc dĩa (H.4) vẽ toàn cảnh biển Tư Hiền (trước kia là Tư Dung - Huế). Tư Hiền là cửa biển quan trọng của vùng Thuận Hóa xưa. Thuở ấy chúa Nguyễn Phúc Chu vân du nơi này thấy cảnh non hữu tình nên cao hứng đọc lại bài thơ Tư Dung vãn của Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ (1572-1634) một công thần của chúa Nguyễn Phúc Chu  nên về sau đặt vẽ ký kiểu toàn cảnh biển Tư Dung và đề thơ Nôm phía sau: “Một bầu riêng rẽ thú yên hà/Nghi ngút hương bay cửa Đại La/Ngày vắng đỉnh đang chuông Bát nhã/Đêm khuya dắng dỏi kệ Di Đà/Nhặt khoan đàn suối ban mưa tạnh/Eo óc cẩm ve thuở ác tà/ Mựa rằng đạo xa hòa nhọc kiếm/Bồ Đề kết quả ở lòng ta”.

dokieu-3a.gif
H.3
Giới sưu tập đồ sứ ký kiểu hẳn đều phải để ý đến chiếc dĩa vẽ cảnh Quốc sư  Pháp Thuận đời Tiền Lê giả làm người chèo đò đón sứ giả nhà Tống là Lý Giác qua sông Sách. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại: Năm 987 niên hiệu Thiên Phúc thứ 8, triều Tống cử sứ giả Lý Giác sang nước ta. Để có người đủ trình độ theo dõi và ứng đối sứ thần, vua Lê mời sư Pháp Thuận giả làm người chèo đò ở sông Sách. Lúc thuyền qua sông, Lý Giác nhìn cảnh sông rất đẹp lại có thêm hai chú ngỗng đang bơi rất thản nhiên nên liền cao hứng ngâm: Nga nga lưỡng nga nga/Ngưỡng diện hướng thiên nha. Ngâm tới đây thì ông lão chèo đò cất giọng ngâm tiếp: Bạch mao phô lục thủy/Hồng trạo bãi thanh ba. Nếu hợp lại bốn câu thì thành một bài thơ tuyệt tác. (Tạm dịch: Song song ngỗng một đôi/Ngửa mặt ngó ven trời/Lông trắng phơi dòng biếc/Sóng xanh chân hồng bơi). Lúc bấy giờ, sứ thần Trung Quốc nghĩ nước Nam thật lắm người tài. Chỉ một lão chèo đò mà kiến thức uyên thâm như thế thì người trị vì há chẳng hơn sao! Liền lui về nước Tống trình báo hoãn binh. Về sau, các chúa Nguyễn thường vẽ ký kiểu trên đồ sứ để lưu truyền về chuyện sư Pháp Thuận và sứ thần Lý Giác (H.5).
dokieu-4.gif
H.5
Ngoài những đồ sứ được ký kiểu ở thơi chúa Nguyễn Phúc Chu, từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX triều Nguyễn cũng xuất hiện nhiều đồ sứ ký kiểu vẽ đề tài Phật giáo. Chiếc dĩa (H.6) hiệu đề “Tân Sửu niên chế” vẽ toàn cảnh chùa Bạch Tự với thơ đề: Đăng đạo bàn hư không/Đăng lãm ấp vô cùng/Lệ cảnh vu thành mãn/Nghiễm nhập họa đồ trung. (Tạm dịch: Bậc đá quanh co đến cõi không/Lên cao mắt thấy thật vô cùng/Khắp nơi cảnh đẹp, thành hoang vắng/Người nhập vào tranh thỏa ước mong).
dokieu-6.gif
H.6
Chiếc dĩa (H.7) vẽ toàn cảnh chùa Thánh Duyên ở núi Thúy Vân,Thừa Thiên- Huế, trên dĩa đề thơ vịnh của vua Thiệu Trị (1804-1847) “Tuệ phong chung độ u lâm hưởng/Không vũ hương la pháp hải lân/Thụ luyến từ đàm phù bịch lạc/Kinh xuyên Tăng kịch tạp hồng trần. (Tạm dịch: Gió thiền chuông điểm rừng sâu dội/Cõi diệu hương đưa biển Pháp nhuần/ Cây vướng mây lành lên cảnh Bụt/Đường xuyên guốc sãi lấm hồng trần).
kieu-7.gif
                                                                          H.7
Hoặc chiếc dĩa (H.8) bên phải vẽ tòa lâu đài ẩn dưới bóng trúc u nhã. Ngoài cổng đề bốn chữ “Phong nguyệt vô biên”. Bên trên vẽ cảnh “Phi Lai tự” và bên cạnh chiếc cầu vẽ một nhà sư và đạo sĩ vái chào nhau. Tương truyền vào đời Tấn (Trung Quốc) có nhà sư Huệ Lý, trong luc du sơn ngoạn thủy thấy phong cảnh nơi đây giống như ngọn núi Linh Thứu bên Thiên Trúc (Ấn Độ). Cho rằng núi này từ Thiên Trúc bay sang Trung Quốc nên sư đặt tên là Linh Thứu sơn rồi lập chùa Phi Lai ở ẩn tu hành.

kieu-8.gif
Xuyên suốt quá trình lịch sử hơn 2.000 năm kể từ khi du nhập Việt Nam, Phật giáo đã để lại nhiều dấu ấn lịch sử, văn hóa trong đời sống dân tộc. Trong đó, đồ sứ ký kiểu các điển tích Phật giáo hiện còn là một trong những di vật quý giá cần được bảo tồn.

GIANG PHONG(Theo Giac Ngo)

Tinh thần - sức mạnh của bùa chú

Tuy bị coi là mê tín dị đoan nhưng bùa chú vẫn tồn tại từ xưa đến nay trong văn hóa các dân tộc. Tại sao vậy? câu hỏi chỉ một, còn cầu trả lời thì không bao giờ hết.
Nhiều dân tộc có bùa chú
Nói chung, bùa chú là dấu hiệu đặc biệt được con người sử dụng cho một mục đích cụ thể cho bản thân hay cho đối tượng có liên hệ với mình.Thực tế, trong sinh hoạt hàng ngày của nhiều dân tộc trên thế giới, kể cả các dân tộc Việt Nam, đều tồn tại bùa chú.
Bùa là một hiện vật cụ thể, chú là một hay vài câu nói có nội dung nhất định được lặp đi lặp lại khi người ta dùng bùa. Dùng bùa chú có hai mục đích: tốt và xấu - tốt cho mình và cho đối tượng của mình còn xấu chỉ riêng cho đối tượng của mình.

Người Việt thường có các loại bùa gần như hình xăm trên người, vẽ trên khăn, trên vải để mang và mặc, làm bằng sáp thơm đặt trong hộp gỗ, tượng phật bằng các chất liệu khác nhau để trong hộp hay đeo trên cổ, vẽ trên miếng chì mỏng, đeo theo người, làm bằng vàng bạc gắn trong người, hy vọng vết thương sẽ được chữa khỏi, viết trên giấy đeo theo người hoặc treo trên tường, khấc trên gỗ đeo trên tường, vẽ vào không khí bằng khói hương…

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2010

TẬP TRUYỆN KINH DỊ : AI HÁT GIỮA RỪNG KHUYA III

Hạt Ðồng Giao

Khi chuyến tàu Hà Nội-Vinh ghé một phú tại ga Ðồng Giao để trút xuống mỗi một một người hành khách và một kiện hàng, thì kim đồng hồ nhà ga chỉ đúng 7 giờ 55 phút. Trời hôm ấy là một vòm trời đen tối; mưa phùn rả rích phủ kín không gian bằng một tấm màn ảm đạm; khí hậu nặng nề ẩm thấp; quang cảnh bốn bề lạnh lùng bí mật, chung quanh nhà ga đều là đồi núi rừng cây, khiến càng tăng thêm vẻ hoang vu rùng rợn.
Chỗ đó, xưa kia là một khu rừng sâu thẳm, ở vào một nơi đồi núi hiểm hóc, chỉ có thể dùng làm sào huyệt cho lũ giặc cỏ ẩn nấp hoặc làm trường mai phục cho hai đạo quân Chúa Nguyễn và Chúa Trịnh khi Bắc Nam xung đột binh đao. Chỗ đó ở chính giữa khoảng giáp giới hai xứ Bắc và Trung Kỳ, nó chia rẽ bờ cõi hai kỳ bằng ba từng núi liền nhau; vì cớ ấy người ta gọi là đèo Tam Ðiệp.

Ai đã từng đi xe lửa từ Thanh Hóa ra Ninh Bình, chắc cũng đã để ý đến một quãng đường sắt gập ghềnh, hiểm trở, có lắm đoạn khúc khuỷu, mỗi lần xe đi qua lại ngửa nghiên lúc lắc, phải nghìm bớt đà lại, làm cho hành khách khó chịu mỗi khi nghe tiếng nghiến kèn kẹt của b’anh xe ép chặt trong máy hãm, giữa khi thân thể thì bị rung chuyển vì con tàu quằn quại, lượn ngùng ngoằng như con rắn uốn éo trên một con đường hẹp hòi, đực ở giữa núi. Ló đầu ra ngoài cửa sổ để nhìn phong cảnh, ta chỉ thấy mặt đá trơ trơ, dựng cao như bức tường, và chung quanh toàn là thứ cây sậy khẳng khiu, mọc ở ven sườn đá.

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2010

Các Lọai Ngải Nàng: Nàng Mơn và Nàng Rù(I)

1.Ngải nàng Mơn
 Được trồng trong chậu, đặt phía trước cửa quán với mục đích chiêu tài, quến khách.
*Nàng Mơn bông đỏ:
Lá của loại bông đỏ thường có màu xanh tươi hơn so với Mơn bông trắng. Cọng lá cũng dẹp hơn, và rộng hơn so với lá hẹ. Nàng Mơn đỏ có hoa màu hồng và hồng đậm. Cánh hoa có loại 6 cánh, 7 cánh và 8 cánh. Trong 3 loại này, chỉ lấy một loại để làm phép mà thôi. Không phải hoa nào cũng có thể lấy để luyện phép đâu. 
Miền Tây Nam bộ còn có tên gọi khác là Tóc tiên. 
*Nàng Mơn bông trắng: loại này có bản lá hẹp hơn và sống lá khuyết sâu hơn ở phần cuống lá. Màu sắc lá cũng không xanh tươi như màu của nàng Mơn bông đỏ.