Thứ Hai, 5 tháng 4, 2010

Đá Corundum và Hematit


1.Đá Corundum.
Công thức : Al2O3- Độ cứng theo thang Mohs : 9.0- Khối lượng riêng : 4.0 g/cm3- Hệ tinh thể ba phương- Ánh thủy tinh.
Corundum là loại đá quý có độ cứng chỉ sau kim cương . Về mặt hóa học corunđum là ôxit nhôm thông thường.
Mầu sắc khác nhau của nó là do các tạp chất chứa crom , sắt , vanađi và nhiều hợp chất khác .Có corundum có hiệu ứng ánh sao (tính ánh sao ) trong thế giới của đồ kim hoàn , corunđum trong suốt có mầu sắc rực rỡ thường có những tên gọi riêng . Corunđum đỏ là rubi , corunđum xanh là xaphia.Corunđum có phẩm chất kim hoàn truyền thống được khai thác ở Mianma Thái Lan , Ấn độ ,Madagaxca …Ngày nay corunđum nhân tạo được sản xuất trên cơ sở công nghiệp .
TÍNH CHẤT CHỮA BỆNH
Cho rằng corundum mầu đỏ có tác động tích cực đến việc điều trị bệnh ở hệ thần kinh cơ quan tạo mắu , cột sống và xương khớp Nó còn giúp điều trị những rối loạn giấc ngủ .Corundum màu lam và xanh da trời có tác dụng làm giảm áp lực ,chữa chứng mất ngủ .Có ý kiến cho rằng , những loại corunđum này rất có ích cho việc điều trị bệnh ở cơ quan thị giác .Các nhà thạch trị liệu học cho rằng , corunđum mầu lam có thể làm dịu chứng đau lưng do bệnh hư xương xụn gây ra .

Bài 4: Ý nghĩa của đá quý và ngày sinh

Ý NGHĨA CỦA ĐÁ QUÝ VÀ NGÀY SINH
1/- GARNET (Ngọc hồng lựu – ngày sinh từ 21/12 đến 20/1): Là loại đá của sức sống và nghị lực. Garnet tượng trưng cho tình yêu chân thật, tin cậy và bất tận. Garnet sẽ mang lại may mắn trong tình yêu, tình bạn và ngăn chặn kẻ thù tấn công bạn.
Màu sắc: đỏ thẳm.

2/- AMETHYST (Thạch anh tím – ngày sinh từ 21/1 đến 20/2): Biểu tương của sự khôn ngoan, sức mạnh và tự tin. Đây là một trong những loại đá tốt nhất cho những ai đang ở trong tình trạng căng thẳng hay bị chứng đau nửa đầu. Ngoài ra nó còn tốt cho những người dễ bị nổi cáu. Amethyst mang đến sự hài hòa và thanh thản trong tâm hồn.
Màu sắc: hoa cà, tím

3/. AQUAMARINE (Ngọc xanh biển – ngày sinh từ 21/2 đến 20/3): Biểu tương của sự hòa bình và yên tĩnh. Người ta tin rằng loại đá này sẽ mang đến sự dễ chịu cho các cặp vợ chồng. Sức mạnh của nó có thể giúp người chồng hay người vợ bày tỏ quan điểm, ý kiến riêng của mình dễ dàng hơn. Nếu mơ về Aquamarine thì có nghĩa là bạn sắp gặp những người bạn mới.
Màu sắc: xanh biển hơi ngả xanh lá hay xanh biển.

Chủ Nhật, 4 tháng 4, 2010

Ngọc Lục Bảo

Công thức : Be3(AL,Cr)2Si6O18- Độ cứng theo thang Mohs : 7.5 – 8.0- Khối lượng riêng : 2.8g/cm3
Hệ tinh sáu phương – Ánh thủy tinh
Ngọc lục bảo là (beril) trong suốt và thuộc loại đá quý hạng nhất . Mầu xanh đặc chưng của nó là hợp chất của crom( ít khi là vanađi ) có ngọc lục bảo ánh phớt vàng do chứa muối sắt .Tên gọi của loại đá này theo tiếng Hylap là “smaragdos” bắt nguồn từ tiếng ba tư “Zumrundi” (có nghĩa là xanh lá cây)
Khoảng 4000 năm trước đây ngọc lục bảo được khai thác ơ giữa biển đỏ và sông Nin . Theo truyền thuyết nữ hoàng Cleopatra đã đến thăm mỏ đá này và mỏ được gọi theo tên của nữ hoàng là Cleopatra.
Những mỏ ngọc lục bảo khác được tim thấy ở các nơi như Ural, Hoa Kỳ và Úc .Ngày nay còn có các mỏ ở Mzambich, Nambia , Na Uy ,Pkistan, Sri lanka và nam phi.

Thứ Bảy, 3 tháng 4, 2010

TỬ THƯ TÂY TẠNG (Phần II)

2.Đại Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe Trong Bardo
 
Bài Giảng của Chošgyam Trungpa, Rinpoche

THÔNG ĐIỆP CỦA CUỐN SÁCH

Dường như có một vấn đề gút mắc cơ bản khi chúng ta đề cập tới chủ đề “Tử thư Tây Tạng”. Nếu đưa ra so sánh về phương diện thần thoại và những hiểu biết về người chết giữa Tử thư Tây Tạng với Tử thư Ai Cập thì chúng ta sẽ bỏ sót một điểm cơ bản đó là quy luật cơ bản của sự chết và sự sanh được tái diễn liên tục trong cuộc sống này. Do đó, chúng ta có thể coi bộ giáo huấn này như là “Sách Tái sanh của người Tây Tạng”. Bộ giáo huấn này không đặt nền tảng trên cái chết theo nghĩa đen, nó được đặt nền trên một quan niệm hoàn toàn khác biệt về cái chết. Nó là một “Quyển sách về Chân Không”. Chân Không chứa đựng cả cái chết lẫn cái sanh ; hư không tạo lập nơi để chúng ta hít thở, cư xử và hành động, nó là môi trường cơ bản cung cấp nguồn cảm hứng cho bộ sách này.

Trước khi Phật giáo du nhập vào, nền văn minh của đạo Bošn ở Tây Tạng đã có sẵn những chỉ dẫn chính xác cách ứng xử với năng lực tinh thần do người chết để lại sau đó, hay có thể nói là các dấu hiệu, thân nhiệt thi thể khi một người chết đi. Dường như cả hai – truyền thống của đạo Bošn và của người Ai Cập – chỉ dựa trên loại kinh nghiệm về cách mà các dấu hiệu của người chết biểu lộ, thay vì đề cập tới tâm thức (thần thức) của người chết. Nhưng cái tạng thức căn bản (basic principle) mà tôi đang cố diễn đạt ngay bây giờ chính là cái bản chất chao đảo, nghiêng ngã giữa sự sáng suốt và u mê hay giữa giác ngộ và mê lầm, cùng với các khả năng xảy ra đối với đủ loại khám phá các ảnh hiện ra trên đường dẫn tới sự sáng suốt hay sự u mê.

Thứ Sáu, 2 tháng 4, 2010

TỬ THƯ TÂY TẠNG (Phần 1)

Guru Rinpoche theo Karma Lingpa 

1.ĐẠI GIẢI THOÁT THÔNG QUA SỰ NGHE TRONG BARDO
Một bản dịch mới, đầy đủ từ tiếng Tây Tạng  với bình giảng bởi Chošgyam Trungpa và Francesca Fremantle
The Tibetan Book of the Dead - The Great Liberation Through Hearing in The Bardo Shambhala, 1975-Việt dịch: Kiến Không - Thiện Tri Thức, 2001
Lời Nói Đầu
Bardo Thoštrošl là một trong một loạt các bộ giáo huấn chỉ dẫn sáu cách giải thoát : giải thoát thông qua sự nghe ; giải thoát thông qua đeo, mặc ; giải thoát thông qua sự thấy ; giải thoát thông qua nhớ tưởng ; giải thoát thông qua nếm vị ; giải thoát thông qua xúc chạm. Bộ giáo huấn này do ngài Padmasambhava chỉ giáo và người vợ (tâm linh) của ngài là Yeshe Tsogyal ghi lại cùng với sadhana (nghi thức hành trì) về hai mạn đà la (mandalas) của bốn mươi hai vị deity bình yên (peaceful) và năm mươi tám vị deity xung nộ (wrathful).

Ngài Padmasambhava đã chôn cất các bộ giáo huấn này trong vùng đồi Gampo ở miền trung Tây Tạng, nơi này về sau đại sư Gampopa xây một tu viện. Nhiều bộ giáo huấn khác cùng với các vật thiêng liêng cũng được chôn cất như vậy ở nhiều nơi khác nhau trên khắp lãnh thổ Tây Tạng ; người ta gọi các bộ giáo huấn đó và các vật thiêng liêng được chôn cất là terma. Ngài Padmasambhava đã truyền oai lực cho hai mươi lăm đại đệ tử để khám phá các nơi chôn cất các terma. Sau này, ngài Karma Lingpa đã tìm ra nơi chôn cất bộ giáo huấn Bardo này, ngài Karma Lingpa là tái sanh của một trong các vị đại đệ tử đó.

Theo tôn chỉ này, giải thoát có nghĩa rằng bất kỳ ai dù là người nghi ngờ hay là người có tâm rộng mở, khi tiếp cận được giáo huấn này sẽ nhận được một chợt thấy thình lình giác ngộ thông qua oai lực trao truyền đã được chứa đựng trong các bảo vật (terma) này.

Ngài Karma Lingpa thuộc truyền thống Nyingma nhưng tất cả học trò của ngài đều thuộc truyền thống Kagyuš. Ngài thực hiện sự trao truyền lần đầu tiên sáu bộ giáo huấn giải thoát này cho ngài Došdušl Dorje, vị Karmapa đời thứ mười ba, đến lượt ngài Došdušl Dorje trao truyền lại cho Gyurme Tenphel, vị Trungpa đời thứ tám. Sự trao truyền vẫn tiếp tục tồn tại trong các tu viện Surmang của dòng Trungpa và từ nơi đó sự trao truyền lan ra trở lại trong truyền thống Nyingma.

Thứ Năm, 1 tháng 4, 2010

Những suy luận trước ngưỡng cửa huyền môn

OZ-Những điều suy luận của TrungDung rất có cơ sở và bổ ích cho những ai có ý định nghiên cứu hoặc đi sâu vào con đường Huyền thuật, nhận thấy đây là một bài viết hay nên OZ xin đăng lại hầu bạn đọc, các bạn có thể tham khảo thêm những phản hồi khác trên trang TGVH.

Lâu rồi không thấy bùa chú xuất hiện trên Thế Giới Vô Hình của chúng ta. Cùng với sự qui ẩn hay chuyển sang sinh hoạt trên các trang blog, web khác của các trưởng lảo, trưởng huynh, những người nhiều năm trong cửa huyền môn, các chử phù, câu chú thuộc nội môn, mật truyền không còn được đưa lên mục Thế Giới Bùa Ngãi nữa. Việc không có phù chú mới để nghiên cứu là may hay rủi cho trang nhà Thế Giới Vô Hình và cho từng thành viên trên diễn đàn, tùy thuộc vào cơ duyên, học thuật và nhận thức của từng người.

Dù không còn các trưởng huynh, trưởng lão đưa các phù chú nội môn để các thành viên nghiên cứu, nhưng việc giao lưu giửa các thành viên cũ, mới chắc chắn vẫn đang được tiếp tục bên ngoài Thế Giới Vô Hình của chúng ta. Và vẫn còn đó những thành viên không ngại khó khăn đưa sách vỡ, tài liệu lên diễn đàn để mọi người nghiên cứu.

Người có cơ duyên với huyền môn thì vẫn tiếp tục sưu tầm tài liệu tự nghiên cứu, hay giao lưu học hỏi với người đi trước, hoặc bái sư học đạo, thâu góp kiến thức mỗi ngày một ít, lâu dần cũng thành nhiều. Người không đủ cơ duyên thì chắc là không học được gì, ngay cả kiến thức cơ bản cũng khó tiếp thu được.

Trong mấy năm gần đây, cùng với việc xuất hiện trang nhà Thế Giới Bùa Ngãi, tiền thân của Thế Giới Vô Hình, rất nhiều web, blog tâm linh đã ra góp mặt với đời.

Bàn bạc trên các web, blog, một số phù chú và những kiến thức cơ bản được viết ra, đàm luận. So với khoảng 3 - 4 năm về trước đã có sự thay đổi trong cái nhìn của nhiều người về thế giới tâm linh, bùa chú, ngãi nghệ. Có thể nói đây là một bước tiến dài so với 3 – 4 năm về trước, ngày mà ai nói đến chuyện bùa chú, ngãi nghệ trên mạng liền bị tẩy chai dữ dội, nói vui theo đời thường là bị ”pháo kích không tiếc đạn”. Việc phản bác, ”pháo kích”, cho đến nay vẫn còn, nhưng có vẽ không còn nặng độ như trước (hết đạn, hay vì đã có cái nhìn đổi mới về vấn đề tâm linh?). Nhờ vậy mà người muốn tìm hiểu về thế giới tâm linh có thể tìm thấy phần nào kiến thức cơ bản khắp nơi trên mạng.

Có điều, những kiến thức có thể gọi là cơ bản về huyền môn, huyền thuật, trùng lập trên các trang nhà, lý do đơn giản là người đọc thấy hay thì mang từ trang nhà này sang trang nhà khác, đôi khi viết rõ ràng nguồn gốc, nhiều lúc quên không ghi nguồn, có lúc hứng chí thêm thắt chút đỉnh, khiến người mới tìm hiểu thế giớ tâm linh có cảm giác người biết về huyền môn rất nhiều, ai cũng rành huyền thuật, và thay gì thu lượm thành kiến thức căn bản cho riêng mình thì… càng thấy mù mờ hơn!

Lại nữa những kiến thức được đưa ra xen nhiều tranh luận, đôi khi đi đến chỗ cải vã gây cấn, làm người đọc khó rút ra được kết luận rõ ràng.

Đá Topa và mã não

1.Đá Topa

Tên gọi : Bắt nguồn từ tên gọi của đảo Topazó ở Biển Đỏ.Tên gọi khác, biến thể : -Topaz hoàng đế (Topa Braxin màu vàng phớt hồng).-Đá hạng nặng (Tên gọi cũ của topa ở vùng Ural).
-Ngọc vàng, hoàng ngọc.
 
Những đặc điểm chính : Topa thường không màu, phớt xanh da trời, xanh hồng, vàng, vàng anh đào và vàng ánh kim. Loại màu vàng với ánh đục mờ đặc trưng gọi là ánh “mắt mèo”. Màu sắc của đá được quy định bởi tạp chất chứa titan, sắt và crom.

Tính chất vật lý
- Độ cứng : 8,0
- Tinh hệ : Trực thoi
- Tỷ trọng : 3,41 – 3,57 g/cm3
- Ánh : Thuỷ tinh