Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ năng đầu tư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ năng đầu tư. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 5 tháng 12, 2011

10 lời khuyên đầu tư hay nhất của các tỷ phú

Donald Trump khuyên bạn cảnh giác trước những điểm mù, còn theo Joe Jamail thì tốt nhất đừng đầu tư vào đâu cả. 


1. Eli Broad
 
Broad khởi nghiệp với việc xây nhà, và hiện giờ thì ông mua bán các công ty bảo hiểm. Đáng chú ý trong sự nghiệp của ông là việc thành lập công ty bảo hiểm Sun Life, và năm 1999 ông đã bán lại công ty này cho AIG với giá 18 tỷ USD. Ông có một bộ sưu tập tranh ấn tượng và một quỹ từ thiện mang tên The Broad Foundation – quỹ này đang quản lý số tài sản trị giá 2,1 tỷ USD. 



Lời khuyên hay nhất của ông: Đừng đem trang trại của bạn ra đánh cược.
 
Ông sẽ đầu tư hàng triệu USD vào đâu: Những công ty tiêu dùng đa quốc gia chất lượng cao như Procter & Gamble, Coca-Cola, Kraft Food và Johnson & Johnson.”

Tin ngoài lề: Ông cho rằng đồng đôla vẫn mạnh còn đồng euro sẽ rớt thê thảm vào năm 2012. Với các quỹ phòng vệ rủi ro, ông thích các quỹ và các nhà quản lý có tầm nhìn dài hạn tốt như Seth Klarman.

2. Patrick Soon-Shiong

Soon-Shiong là người đầu tiên thực hiện thành công cấy ghép tuyến tụy tại trường Y học UCLA năm 1991. Sau khi rời trường, ông đồng thành lập Vivo RX Pharmaceuticals và cùng phát minh ra thuốc điều trị ung thư vú Abraxane. Hiện ông có cổ phần ở hơn 30 công ty và một ít cổ phiếu tại LA Lakers – đây là khoản đầu tư mà theo ông là lãi hơn vàng.



Lời khuyên hay nhất của ông: Đầu tư vào chính mình và vào những người bạn tin tưởng.
 
Ông sẽ đầu tư hàng triệu USD vào đâu: Điều quan trọng nhất vào lúc này là đừng để mất tiền.

Tin ngoài lề: Vàng vừa là bong bóng vừa là điều bí ẩn, nhưng không phải một cơ hội.

3. Peter Hargreaves

Hargreaves có 32,2% cổ phần tại hãng môi giới bán lẻ lớn nhất nước Anh, hãng Hargreaves Landsown do ông đồng sáng lập năm 1981. Hiện ông đang quản lý 388.000 khách hàng và 35,7 tỷ USD.


Ông sẽ làm gì với 1 triệu USD: Một nửa vào đồng curon Na-Uy, 1 nửa vào đô Sing.

Vậy còn các khoản đầu tư có thu nhập cố định: Hargreaves thích trái phiếu của Đức khi đồng euro rớt thảm trong cuộc chơi tiền tệ.

Tin ngoài lề:Hargreaves còn là một người làm vườn đầy say mê.

4. Randall J. Kirk

Quỹ đầu tư mạo hiểm của Kirk mang tên Third Security đầu tư phần lớn vào các công ty công nghệ sinh học. Năm 2007 ông đạt được thỏa thuận trị giá nhất trong sự nghiệp khi bán New River Pharmaceuticals với giá 2,6 tỷ USD – ông được bỏ túi 1,2 tỷ USD từ thỏa thuận đó. Kể từ đó ông vẫn làm ăn rất khá. Hiện ông có nhà riêng tại California, Connecticut, Virginia và Florida. Khi không làm việc, ông tới phòng thu của mình để soạn nhạc điện tử. 



Lời khuyên hay nhất của ông: “Thỏa thuận tốt cũng giống như điểm dừng xe buýt, góc phố nào cũng có một chiếc.” Đây là câu nói của Red Robertson, người đã đầu tư vào thỏa thuận đầu tiên của ông. Câu nói này không thể hiện sự hứng thú đối với thỏa thuận của tôi, mà với nỗ lực của tôi nhiều hơn. Đó là một nhà đầu tư quan tâm đến những người đứng sau một thương vụ hơn cả bản thân thương vụ đó.

5. Mikhail Prokhorov

Prokhorov sở hữu đội bóng rổ New Jersey Nets và một lối sống xa hoa. Ông bắt đầu bằng việc bán 25% cổ phần tại OAO GMK Norilsk Nickel, hãng sản xuất nickel lớn nhất thế giới. Ông nhận được 5 tỷ USD và 17% cổ phần của công ty sản xuất nhôm United Co. Russia sau vụ mua bán này.


Lời khuyên hay nhất của ông: Hãy đứng thẳng lung và đừng sốt ruột – một câu tục ngữ Nga. 
 
Ba chỉ báo kinh tế ảnh hưởng đến sự đầu tư của ông: Dữ liệu của viện kinh tế Đức IFO về kỳ vọng kinh doanh là tốt nhất cho lĩnh vực sản xuất toàn cầu. Dữ liệu của tổ chức Conference Board (Mỹ) là thước đo tốt nhất cho niềm tin tiêu dùng của người Mỹ. Chỉ số PMI sản xuất của Trung Quốc rất chuẩn cho sự tăng trưởng và xuất khẩu tại Trung Quốc. Còn ở các thị trường mới nổi, chỉ số lạm phát, thâm hụt ngân sách, chỉ số tăng trưởng sản xuất và doanh thu bán lẻ là các thước đo quan trọng.”

Tin ngoài lề: Quản lý tài chính mà Prokhorov tin tưởng giao phó toàn bộ danh mục đầu tư của mình là… “Mikhail Prokhorov… Tôi tự tay ký tất cả các tờ séc của mình”.

6. Menin Teixeira de Souza

Teixeira de Souza kiếm tiền từ việc xây nhà cho những người Brazil thu nhập thấp, thành lập tập đoàn xây dựng lớn thứ 5 (về doanh thu) tại Brazil mang tên MRV Engenharia & Participacoes SA hồi những năm 1970. Ông hiện vẫn sở hữu 32% cổ phần của công ty này và đang sống tại Belo Horizonte, Brazil.


Lời khuyên hay nhất của ông: Tốt nhất bạn nên mua trái phiếu C-bond của Brazil khi chúng được giao dịch dưới mức 40 cent.

Ông sẽ đầu tư một triệu USD vào đâu: Trái phiếu hạng đầu tư Brazil.

Tin ngoài lề:Các chỉ số kinh tế ảnh hưởng đến sự đầu tư của ông nhất là S&P 500 và tỷ giá hối đoái thực tế so với đồng USD.

7. John Paul DeJoria

Năm 1980, DeJoria đầu tư vào công ty chăm sóc tóc tên Paul Mitchell của người bạn. Hiện giờ doanh thu hàng năm của công ty này vào khoảng 1 tỷ USD. DeJoria đã rất thông minh lấy tiền từ khoản đầu tư đó để đồng sáng lập thương hiệu rượu tequila Patron.


Lời khuyên hay nhất của ông: Hãy tìm cách mua được quyền chọn bán.

Ông sẽ đầu tư một triệu USD vào đâu: 25% vào vàng, 25% vào bạc, 25% vào các cổ phiếu blue-chip có cổ tức trên NYSE và 25% vào các cổ phiếu blue-chip có cổ tức tại châu Á và châu Âu.”

Tin ngoài lề:Thẩm mỹ viện là chỉ số kinh tế tốt nhất. Thông thường, khách hàng sẽ tới đó 6 tuần 1 lần, khi kinh tế đi xuống họ giảm xuống 8 tuần 1 lần. Khi kinh tế hồi phục trở lại, mọi thứ sẽ trở về như cũ.

8. Donald Trump

Mọi người đều biết về tỷ phú này: từ bất động sản đến TV, ông định biến họ “Donald” của mình thành một thương hiệu đồng nghĩa với “kinh doanh mọi thứ”. 


Lời khuyên hay nhất? “Bố tôi, ông Fred C. Trump, bảo tôi phải biết tường tận nhất có thể về những gì tôi đang làm. Ông đặt niềm tin ở những nơi ông có thẻ quan sát thấu đáo và cảnh giác trước những điểm mù.”
 
Ông sẽ đầu tư một triệu USD vào đâu: Cổ phần, trái phiếu doanh nghiệp, và nếu bạn biết rõ mình đang làm gì, hãy mua lại những ngôi nhà bị ngân hàng tịch thu và yêu cầu được cấp vốn dài hạn với mức lãi suất tốt.

Tin ngoài lề:Khoản đầu tư tốt nhất của tỷ phú Trump là mua lại tòa nhà số 40 Wall Street, còn khoản đầu tư tệ nhất là một chiếc du thuyền.
9. Alisher Usmanov

Usmanov là đầu sỏ trong các đầu sỏ chính trị Nga. Ông điều hành Gazprominvestholding, một công ty đầu tư của hãng dầu khí độc quyền của nhà nước. Ông có 45% cổ phần trong Mettalloinvest, hãng khai thác quặng sắt lớn nhất nước Nga.



Khi mua cổ phiếu: “Trước tiên tôi tin vào chính bản năng của mình, vào kinh nghiệm mà tôi có được sau nhiều năm và vào cảm giác về thời điểm chính xác nên mua cổ phiếu là lúc nào. Trực giác – đó là cách mọi người vẫn gọi.”
 
Về tiền tệ:“Nếu các lãnh đạo châu Âu không có một quyết định rõ ràng về việc thoát khỏi khủng hoảng thế nào, thì khả năng rất cao chúng ta sẽ được chứng kiến nhiều quốc gia thành viên phá sản. Đồng euro sẽ bị tổn hại nhiều nhất. Tuy nhiên bản thân điều này lại không hoàn toàn xấu đối với nền kinh tế châu Âu, khi những trụ cột như nước Đức sẽ nhận được sự ủng hộ đối với việc xuất khẩu.”

Tin ngoài lề:Ông là một nhà đầu tư tại Groupon và Facebook. Ông cũng sở hữu 29% cổ phần tại đội bóng Arsenal cùng một thành viên khác.

10. Joe Jamail

Mọi người gọi Jamail là “Vua gây sự”. Sở dĩ có cái tên này vì ông từng đại diện cho Penzoil trong một vụ kiện chống lại Texaco năm 1985. Chỉ riêng phiên tòa sơ thẩm đã mang lại cho ông 335 triệu USD. Giờ đây, ở tuổi 86, ông tham gia vào các vụ kiện liên quan đến thương tích cá nhân và các hành động phi pháp. Trong quãng đời sự nghiệp của mình, ông kiếm được khoảng 13 tỷ USD.


Lời khuyên đầu tư hay nhất của ông:“Bố tôi bảo rằng: ‘Đừng mua bất cứ thứ cổ phiếu đáng nguyền rủa nào, hiểu không?’ Ông có một chuỗi cửa hàng tạp phẩm. Ông thích tiền mặt.”
 
Dù vậy, nếu có mua cổ phiếu thì…“Tôi thường không đầu tư nhiều vào trị trường một cách trực tiếp. Tôi luôn nhìn vào tỷ suất lợi nhuận thay vì nhìn vào thu nhập, bởi tiền thì tôi có quá thừa từ văn phòng luật của mình rồi. Hầu hết tôi đầu tư vào trái phiếu.”

Tin ngoài lề: Khoản đầu tư tốt nhất của ông là một tấm bằng luật sư, và tệ nhất là cổ phiếu của hãng hàng không. Lời khuyên của ông lúc này là: Nếu bạn có 1 triệu USD, thì tốt nhất hãy giấu nó dưới gầm giường.
 
Theo TTVN/BusinessInsider

Xem thêm:

Khoa học làm giàu

Kiên định và thành công!

9 điểm khác biệt của người thành đạt 

Đặc điểm của những người thành đạt (P.3)

Người Thành Công vs. Kẻ Thất Bại (P.3)

Người Thành Công vs. Kẻ Thất Bại (P.2)

Người Thành Công vs. Kẻ Thất Bại (P.1)

Học cách nghĩ của các thiên tài

Napoleon Hill: Người thành công, kẻ thất bại ... Tại sao?

Rất thành công và thành công là cả một sự khác biệt lớn (Phần cuối)

Cách tư duy của những người thành đạt

 

Bạn có thể xem thêm nếu bạn muốn:

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2011

Nguyên tắc quản lý tiền bạc - Money management

Mọi người luôn luôn tìm đến Las Vegas để đánh bạc với hy vọng sẽ kiếm được món lời to nhất, và thực tế là nhiều người đã chiến thắng.
 
Như vậy có một câu hỏi đặt ra là làm thế nào các sòng bạc có thể kiếm được tiền nếu có quá nhiều người thắng được những số tiền lớn như vậy?

Phần này là một trong những phần quan trọng nhất mà bạn sẽ được học về giao dịch ngoại hối.

Tại sao nó lại quan trọng? Ồ, chúng ta đang ở trong một thời điểm giao dịch sôi động nhất để có thể kiếm được tiền, và để kiếm được tiền, chúng ta phải học được cách làm thế nào để quản lý được nó. Thật trớ trêu, đây là một trong những phần mà người ta thường hay bỏ sót nhất trong quá trình giao dịch. Nhiều nhà giao dịch chỉ lo tham gia ngay vào giao dịch mà không chú ý đến quy mô tài khoản của họ. Họ chỉ nghĩ đơn giản là họ có thể thua tiền trong một giao dịch và họ đã vấp phải một nút thắt rất quan trọng. Đây là giới hạn đối với các nhà đầu tư…nó được gọi là GAMBLING (Trò cờ bạc ăn tiền)!

Khi bạn giao dịch mà không có nguyên tắc để quản lý tiền bạc, bạn đang tham gia vào một trò đánh bạc ăn tiền trên thực tế. Bạn không xem xét việc đầu tư dài hạn của mình. Thay vì vậy bạn chỉ tìm kiếm cái gọi là “món lời to nhất”. Các nguyên tắc quản lý tiền bạc không chỉ bảo vệ cho chúng ta mà sau cùng chúng còn đem đến cho chúng ta khả năng sinh lợi. Nếu bạn không tin tôi, bạn nghĩ rằng “trò cờ bạc ăn tiền” chỉ là một cách để làm giàu, vậy thì sau đây bạn hãy xem qua ví dụ này:

Mọi người luôn luôn tìm đến Las Vegas để đánh bạc với hy vọng sẽ kiếm được món lời to nhất, và thật tế là nhiều người đã chiến thắng. Như vậy có một câu hỏi đặt ra là làm thế nào các sòng bạc có thể kiếm được tiền nếu có quá nhiều người thắng được những số tiền lớn như vậy? Câu trả lời là trong khi mọi người nghĩ là mình thắng được một số tiền lớn, nhưng kết quả là các sòng bạc vẫn có lời bởi vì họ đã thu được những số tiền từ những người thua cuộc. Đó là những nơi mà cụm từ “nhà cái luôn chiến thắng” xuất hiện.

Sự thật là những sòng bạc đó chỉ là những nhà thống kê rất giàu có. Họ biết rằng kết quả sau cùng, họ sẽ là những người chiến thắng chứ không phải người chơi. Thậm chí nếu Joe Schmoe thắng được 100.000$ bằng máy đánh bạc, các sòng bạc đều hiểu rằng sẽ có hơn 100 người thua 1.000$ và số tiền lãi sẽ quay trở về túi của họ.

Đây là một ví dụ cơ bản về việc các nhà thống kê làm cách nào kiếm được tiền từ những người chơi. Thậm chí cả hai số tiền bị thua, các sòng bạc trong trường hợp này, sẽ biết làm cách nào để điều chỉnh lại tổn thất của họ. Thực chất, đây là việc làm cách nào để quản lý tiền bạc. Nếu bạn học được cách điều chỉnh được tổn thất, bạn sẽ có cơ hội kiếm được lợi nhuận.

Bạn muốn trở thành một nhà thống kê giàu có…thì Đừng để mình trở thành một con bạc bởi vì kết quả cuối cùng mà bạn mong muốn là “luôn luôn là người thắng cuộc”.

Như vậy làm cách nào để trở thành một nhà thống kê giàu có thay vì làm một kẻ thua cuộc?

Mức chấp nhận lỗ (drawdown) và mức chấp nhận lỗ tối đa?

Như vậy chúng ta hiểu rằng việc quản lý tiền sau cùng sẽ đem lại cho chúng ta tiền, nhưng bây giờ tôi muốn chỉ cho bạn mặt khác của vấn đề này. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu bạn không có các nguyên tắc để quản lý tiền bạc? Hãy xem ví dụ sau:

Bây giờ chúng ta sẽ giả sử bạn có 100.000$ và bạn đã thua mất 50.000$. Vậy bạn đã thua mất bao nhiêu phần trăm trong tổng số tài khoản của mình? Câu trả lời là 50%. Quá đơn giản phải không. Bây giờ chúng tôi sẽ hỏi bạn là bạn sẽ thu lại được bao nhiêu phần trăm của 50.000 $ để có lại đủ 100.000 $? Không phải 50%, mà là bạn phải kiếm về 100% của 50.000 $ mới thu lại được 100.000 $ . Đây gọi là drawdown. Theo ví dụ này, chúng ta đã có một drawdown 50%.

Có một điểm trong thí dụ trên đó là rất dễ thua lỗ và rất khó khăn để thu lại được. Tôi biết bạn đang tự nói với mình, “Tôi sẽ không để bị thiệt hại 50% tài khoản của mình trong một giao dịch”. Ồ, tất nhiên tôi cũng sẽ không hy vọng thế.

Tuy nhiên, chuyện gì sẽ xảy ra nếu bạn bị tổn thất trong 3, 4 hoặc thậm chí 10 giao dịch một lần? Điều đó không thể xảy ra cho bạn, đúng không? Bạn có một hệ thống giao dịch đã chiến thắng với tỉ lệ 70%. Do đó sẽ không có chuyện bạn có thể bị tổn thất trong cả 10 giao dịch!!! Ồ, trong khi bạn có một hệ thống giao dịch thật tốt, hãy nhìn vào ví dụ sau:

Trong giao dịch, chúng ta luôn tìm kiếm lợi nhuận. Đó chính là nguyên nhân tại sao các nhà giao dịch phát triển được hệ thống giao dịch của họ. Một hệ thống giao dịch với 70% khả năng sinh lợi nghe như chúng ta đang có một lợi nhuận quá tốt. Nhưng chỉ vì hệ thống giao dịch của bạn chỉ có 70% khả năng sinh lợi, có nghĩa là cứ mỗi 100 giao dịch bạn thực hiện, bạn sẽ thắng được 7 trong 10 giao dịch?

Chưa chắc! Làm sao bạn biết được 70 giao dịch nào trong tổng số 100 giao dịch sẽ thắng? Câu trả lời là bạn không biết. Bạn có thể thiệt hại trong 30 giao dịch đầu và chiến thắng 70 giao dịch sau. Điều đó cũng chỉ đem đến cho bạn 70% khả năng snh lợi, nhưng bạn phải tự hỏi, “Liệu bạn có còn tiếp tục nếu bạn đã bị thiệt hại trong 30 giao dịch đầu tiên?”

Đây là lý do tại sao việc quản lý tiền bạc lại quan trọng như vậy. Không có gì xảy ra cho hệ thống giao dịch của bạn, nhưng rốt cuộc bạn vẫn sẽ bị thua. Thậm chí đối với những người chơi bạc nghề nhất mà họ xem đó là cách kiếm sống của mình cũng có những lúc gặp vận thua tồi tệ, và họ vẫn còn khả năng kết thúc với thắng lợi.

Nguyên nhân đó là những người đánh bạc giỏi áp dụng phương thức quản lý tiền bạc cho mình bởi vì họ biết rằng họ không thể thắng mãi trong mỗi lần chơi. Thay vào đó, họ chỉ liều lĩnh một phần trăm nhỏ trong tổng số tiền của mình để họ vẫn có thể tiếp tục tồn tại sau những trận thua đó.

Đó là những gì bạn phải làm khi là một nhà giao dịch. Chỉ khi rủi ro một phần nhỏ trong tổng số tài khoản dành cho việc giao dịch để bạn vẫn có thể tồn tại sau những trận thua. Hãy nhớ là nếu bạn áp dụng nghiêm chỉnh các nguyên tắc để quản lý tiền bạc, bạn sẽ trở thành chủ 1 sòng bài và kết quả cuối cùng “bạn luôn là người chiến thắng”.

Để tôi phác họa cho bạn những gì sẽ diễn ra khi bạn quản lý tiền một cách đúng đắn và khi bạn không…

Đây là một ví dụ nhỏ để chỉ cho bạn thấy sự khác nhau giữa việc mạo hiểm một phần nhỏ với việc mạo hiểm một phần lớn trong tổng số vốn của bạn.

Bạn có thể nhận thấy ở đây có sự khác nhau giữa việc rủi ro 2% so với rủi ro 10% số tiền của bạn torng một giao dịch đơn lẻ. Nếu bạn thua cuộc và chỉ trong 19 giao dịch liên tiếp, bắt đầu từ 20.000 $, bạn chỉ còn 3.002 $ nếu tỉ lệ rủi ro là 10% cho mỗi giao dịch. Bạn đã thiệt hại 85% tài khoản của mình.! Nếu tỉ lệ rủi ro là 2%, bạn vẫn còn 13.903 $ tức bạn chỉ thiệt hại 30% trong tổng số tài khoản của mình.

Tất nhiên, điều cuối cùng chúng tôi muốn đề cập là tổn thất trong 19 giao dịch liên tiếp, nhưng thậm chí nếu thiệt hại 5 giao dịch liên tiếp, bạn hãy nhìn vào sự khác nhau giữa rủi ro 2% và 10%. Nếu bạn rủi ro 2%, bạn sẽ vẫn còn 18.447 $ . Nếu bạn rủi ro 10% bạn sẽ chỉ còn 13.122 $ . Con số này còn nhỏ hơn cả số bạn còn lại trong trường hợp nếu bạn bị thiệt hại trong tất cả 19 giao dịch với tỉ lệ rủi ro là 2%.

Mấu chốt của ví dụ này là bạn muốn xây dựng cách thức quản lý tiền như thế nào để khi bạn lâm vào tình trạng thiệt hại bạn vẫn còn đủ vốn để tiếp tục cuộc chơi. Bạn có thể tưởng tượng được chuyện gì sẽ xảy ra nếu bạn tổn thất 85% tài khoản của mình? Bạn sẽ phải kiếm được 566% trong tổng số thiệt hại để có thể hòa vốn. Hãy tin tôi, bạn sẽ không muốn rơi vào tình cảnh đó đâu. Thực tế, đây là một biểu đồ sẽ phác họa được tỷ lệ phần trăm mà bạn phải lấy lại để hòa vốn nếu bạn bị thiệt hại một tỷ lệ cụ thể nào đó.

Bạn có thể nhìn thấy bạn bị thiệt hại nhiền hơn, sẽ khó hơn cho bạn để kiếm lại được đủ tiền đã bỏ ra. Đó là tất cả lý do mà bạn cần phải phải biết để làm mọi cách nhằm bảo vệ tài khoản của mình.

Qua ví dụ trên, tôi hy vọng bạn sẽ ghi nhớ nó vào đầu để bạn chỉ bị rủi ro một phần nhỏ tài khoản của mình trong mỗi giao dịch để có thể tồn tại sau vận xui của mình và cũng để tránh một drawdown cho tài khoản của mình. Phải luôn ghi nhớ, bạn muốn trở thành một chủ cái…..chứ không phải người chơi.

Mạo hiểm tiền thưởng

Có một cách khác để bạn có thể gia tăng cơ hội kiếm lợi là giao dịch vào thời điểm khi mà bạn có khả năng thực hiện giao dịch thu được lợi nhuận gấp 3 lần mức chịu rủi ro. Nếu bạn có thể xác định được cho mình một tỷ lệ thắng/thua, bạn đã có một cơ hội lớn đáng kể để kết thúc cuộc hành trình với sự thắng lợi. Hãy nhìn vào biểu đồ sau như là một ví dụ cho vấn đề này:


Trong ví dụ này, bạn có thể nhìn thấy rằng thậm chí nếu bạn chỉ thắng được 50% trong tổng số các giao dịch thực hiện, bạn cũng đã kiếm được 10.000 $ . Nhớ là bất kỳ lúc nào bạn giao dịch trong một tỷ lệ rủi ro/chiến thắng khả quan, các cơ hội chiến thắng của bạn sẽ rất lớn thậm chí nếu như sau đó bạn chỉ thắng với một tỷ lệ thấp hơn.

Tóm lại:

+Để trở thành chủ cái, không phải người chơi! Hãy nhớ, đơn giản các chủ cái là những nhà thống kê rất giàu có!

+Drawdown là một thực tế và sẽ xảy ra với bạn trong một vài thời điểm. Bạn sẽ có tỷ lệ rủi ro thấp nhất trong một giao dịch, drawdown tối đa của bạn sẽ giảm đi.

+Bạn tổn thất nhiều hơn, thì bạn sẽ càng khó khăn hơn khi kiếm lại được chúng để hòa vốn.

+Chỉ giao dịch bằng một phần nhỏ tài khoản của bạn. Càng nhỏ càng tốt. 3% hoặc thấp hơn là lời khuyên tốt.

+Một giao dịch đáng thèm muốn là khi bạn có một tỷ lệ chiến thắng cao. Tỷ lệ rủi ro càng cao, lợi nhuận càng thấp.

(st)

"Sống sót" qua Thị Trường Con Gấu

Một thị trường con gấu có nghĩa là các cổ phiếu trượt giá ít nhất từ 15 đến 20%, đồng thời tâm lý bi quan bao trùm lấy khắp các sàn giao dịch. Chắc chắn rằng không một nhà đầu tư chứng khoán nào mong muốn những thời kì như vậy xảy ra.
   
Đừng chán nản! Vẫn còn hi vọng! Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn một vài chiến lược đầu tư quan trọng nhất nhằm tối thiểu hóa thua lỗ và thậm chí thu lời trong một thị trường như thế.

Thực tế!

Trước tiên, đầu óc thực tế luôn là một trong những yếu tố quan trọng nhất cần phải có được trong bất kì một cuộc suy thoái kinh tế nào. Hãy nhớ rằng việc thị trường chứng khoán có một vài năm thoái lui là điều hoàn toàn bình thường. Đó chỉ là một phần trong vòng đời kinh doanh mà thôi.

Sau một thị trường con bò (thị trường đi lên), chúng ta sẽ dễ dàng quên đi những thời kì khó khăn. Lấy những năm 1990 làm ví dụ. Đó là thời gian thị trường chứng khoán có những bước tăng trưởng thần kì. Lần lượt trong các năm 1997, 1998 và 1999, S&P 500 leo thêm 33,4%, 28,6% và 21%. Thông thường trong lịch sử, thị trường chỉ tăng trung bình 8 - 10%/năm. Sẽ là rất phi lý nếu cứ trông đợi thị trường sẽ mãi mãi đi lên với tốc độ 20%. Các đợt suy thoái lúc này lúc khác là không thể tránh được.

Nếu bạn là một nhà đầu tư dài hạn (thời gian đầu tư khoảng trên 10 năm), lựa chọn tốt nhất đơn giản là cứ mặc kệ thị trường và tiếp tục với công việc của mình như mọi khi. Với việc mua vào cổ phiếu mà không quan tâm đến giá cả, bạn có thể sẽ mua được cổ phiếu giá rẻ khi thị trường đang đi xuống. Trong dài hạn, chi phí của bạn sẽ được san phẳng dần đi, và cuối cùng bạn sẽ được lợi lớn. Ít nhất đó là lý thuyết.

Đầu tư vào đâu trong một nền kinh tế con gấu?

1. Giả chết!

Trong một thị trường con gấu, con gấu thống trị và con bò không có cơ hội ngóc đầu lên được. Có một câu danh ngôn cổ: Điều tốt nhất nên làm trong một thị trường con gấu là giả chết - đó cũng là lời khuyên trên thực tế khi bạn gặp một con gấu trong rừng. Đánh lại nó chỉ là điều cực kì nguy hiểm và rất thiếu khôn ngoan. Giữ bình tĩnh và không có bất kì một hành động bộc phát nào. Chỉ có như vậy bạn mới có thể tránh được nguy cơ trở thành bữa trưa cho chú gấu.

Giả chết theo nghĩa tài chính có nghĩa là bạn cho một phần lớn danh mục đầu tư của mình ra khỏi sân đấu. Trong một thị trường con bò, không bao giờ được để các khoản tiền nhàn rỗi ở đâu đó bởi như thế nó sẽ chẳng đem lại một nguồn lợi nhuận nào. Điều đó không đúng trong thị trường con gấu bởi tiền mặt sẽ giữ nguyên giá trị của nó (và thậm chí còn có thể sinh một khoản lời nhỏ) trong khi cổ phiếu không ngừng tụt dốc. Khi cơ hội đầu tư tốt đẹp đến, bạn có toàn quyền tự do quyết định có nên mua vào hay không. Tất nhiên, điều này có nghĩa là bạn phải tính toán được thời gian cho các quyết định của mình. Công việc này rất khó khăn, nếu như không muốn nói là hầu như không thể. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ trong một thời kì con gấu, nếu bạn rút tiền ra khỏi thị trường hơi chậm nhịp một chút thì cũng vẫn có thể là một quyết định đúng đắn. Bởi rất có thể con gấu đó sẽ tồn tại trong một thời gian dài.

2. Cổ phiếu giá trị

Các thị trường con gấu có thể đem đến cho các nhà đầu tư những cơ hội tuyệt vời. Cốt lõi là bạn phải biết được bạn đang tìm kiếm cái gì. Thảm bại, sụp đổ và định giá thấp hơn giá trị là những gì chúng ta có thể miêu tả một thị trường con gấu. Thế nhưng, đối với các nhà đầu tư giá trị, một thị trường con gấu là một cơ hội mua vào hiếm có bởi cổ phiếu của các công ty tốt bị đánh tụt xuống ngang hàng với các công ty khác và bị giam cầm ở mức định giá rất hấp dẫn. Tuy nhiên, đầu tư giá trị không phải là một nghệ thuật. Không phải tất cả các cổ phiếu trên thị trường con gấu đều là các món hời. Giai đoạn con gấu là thời kì khi các cổ phiếu có giá trị thật sự xuất hiện và chứng tỏ được mình. Warren Buffett là một ví dụ. Warren thường xây dựng được chỗ đứng của mình đối với một vài loại cổ phiếu ưa thích trong những giai đoạn không thể coi là vui vẻ bởi ông biết buồn vui thất thường là bản chất của thị trường. Và cái bản chất đó có thể sẽ không chỉ bảo vệ các công ty tốt mà đôi khi nó còn đánh vào các cổ phiếu tốt mạnh hơn các cổ phiếu khác.

3. Bán khống (Kinh doanh chứng khoán nhờ giá giảm)

Một cách tiếp cận khác đối với thị trường con gấu là áp dụng một chiến lược hùng hổ hơn nữa. Kinh doanh chứng khoán nhờ giá chứng khoán giảm (short-sale) cho phép nhà đầu tư vẫn thu được lợi nhuận gây cả khi thị trường đang đi xuống. Luôn ghi nhớ rằng khả năng một mình đi ngược lại được thị trường để thu về lợi nhuận luôn song hành với những rủi ro không nhỏ. Về mặt lý thuyết, bán khống rất có thể khiến bạn mất trắng toàn bộ số tiền đầu tư ban đầu nếu giá cổ phiếu bạn chọn đi lên.

4. Phân bổ tài sản và trái phiếu

Chiến lược phân bổ tài sản khẳng định được vị thế của mình trong suốt các thời kì thị trường chứng khoán đi xuống. Khi nền kinh tế đang bùng nổ, các nhà đầu tư có thể tự lên án mình vì không bỏ hết nguồn vốn vào chứng khoán. Thế nhưng việc làm đó sẽ là điều hoàn toàn đúng đắn trong thời kì khó khăn của nền kinh tế và trong trào lưu đi xuống của thị trường chứng khoán. Phân chia tỉ lệ nguồn vốn của bạn vào cổ phiếu, trái phiếu, tiền mặt và các loại tài sản khác chính là gốc rễ của việc đa dạng hóa đầu tư. Cách thức phân chia như thế nào phụ thuộc vào mức độ ưa thích rủi ro, các mục tiêu và thời gian đầu tư của bạn… Mỗi một nhà đầu tư có một danh mục đầu tư hoàn toàn khác biệt.

5. Cổ phiếu phòng thủ


Có những loại cổ phiếu luôn xu hướng khá ổn định và hoạt động tốt hơn thị trường vào những thời gian khó khăn. Chúng được biết đến với cái tên "Cổ phiếu phòng thủ" (Defensive Stocks), hay "Cổ phiếu phi chu kì" bởi có thể ví von chúng như những tấm lá chắn bảo vệ cho danh mục đầu tư của bạn khi thị trường chứng khoán trượt dốc. Ở đây chúng ta đang nói đến các công ty cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mà người tiêu dùng, chính phủ và toàn bộ nền kinh tế nói chung luôn luôn cần đến, bất kì mưa nắng. 

Một ví dụ điển hình là các loại sản phẩm tiaêu dùng ngắn hạn trong hộ gia đình (những thứ rất nhanh bị tiêu dùng hết) như dầu gội, thuốc đánh răng, kem cạo râu…Khi nền kinh tế ngoài kia đang bùng nổ, mọi người vẫn cần phải đánh răng, gội đầu và cạo râu. Và khi nền kinh tế đang thoái lui, những điều trên vẫn là một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Do đó, các cổ phiếu phòng thủ đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn cổ phiếu cho danh mục của mỗi nhà đầu tư.

Kết luận

Từ tất cả các lưu ý mà bài viết đã đưa ra, chúng ta có thể tóm gọn lại: Sự cẩn trọng là chìa khóa của trò chơi! Rút vốn ra ngoài cuộc đấu và đầu tư vào trái phiếu, các cổ phiếu giá trị hay các cổ phiếu phòng thủ (tùy từng điều kiện cụ thể), bạn sẽ có thể sẵn sàng và ung dung thoát ra khỏi thời kì thị trường con gấu. Luôn luôn thực tế và tránh xa hoảng loạn, lo sợ vu vơ sẽ giúp bạn bảo vệ các tài sản của mình khỏi móng vuốt của con gấu. 



Theo vnbourse

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2011

7 sai lầm chết người trong đầu tư

Hầu hết các nhà đầu tư đều phải lãnh hậu quả do đặt niềm tin sai lầm vào con đường dẫn đến những thương vụ thành công.

Có 7 sai lầm thường gặp nhất và chúng được gọi là “sai lầm chết người” trong lĩnh vực đầu tư. Trên con đường thành công của các nhà đầu tư bậc thầy như Warren BuffettGeorge Soros không bao giờ xuất hiện những sai lầm này. Nếu muốn loại bỏ nó, trước tiên chúng ta cần xét xem chúng sai ở điểm nào.

Sai lầm thứ nhất: Tin rằng việc dự đoán động thái kế tiếp của thị trường chắc chắn sẽ mang về những khoản lợi nhuận khổng lồ.

Thực tế là các nhà đầu tư, kể cả những người thành công nhất, cũng không hề giỏi hơn bạn trong việc dự đoán thị trường.

Chắc hẳn bạn còn nhớ thời điểm một tháng trước vụ sụp đổ thị trường chứng khoán New York vào tháng 10 năm 1987, ảnh của George Soros đã xuất hiện trên bìa tạp chí Fortune với thông điệp sau: “Việc các loại cổ phiếu của Mỹ liên tục tăng giá và vượt ra khỏi những ước tính cơ bản về giá trị không có nghĩa là sau đó chúng phải tụt dốc nhanh chóng. Thị trường được định giá quá cao không có nghĩa là không bền vững. Nếu muốn biết cổ phiếu của Mỹ có thể được định giá cao đến mức nào, bạn hãy nhìn vào nước Nhật”.

Trong khi vẫn đang nói về tình hình tăng giá các loại chứng khoán của Mỹ, ông lại linh cảm về một sự sụp đổ sắp xảy ra… ở Nhật. Sau đó, vào ngày 14/10/1987, ông còn nhắc lại quan điểm này trên tờ Financial Times.

Chỉ một tuần sau thôi, Quỹ Quantum của Soros bị thiệt hại hơn 350 triệu đôla khi thị trường chứng khoán của Mỹ (chứ không phải của Nhật) sụp đổ. Lợi nhuận cả năm đã lặng lẽ ra đi chỉ trong vài ngày. Qua sự việc này, Soros đã thừa nhận: “Thành công về tài chính của tôi đối lập hoàn toàn với khả năng của tôi trong việc dự đoán tình hình”.

Còn Buffett thì sao? Ông hoàn toàn không quan tâm đến việc thị trường sẽ đi về đâu và cũng chẳng có chút hứng thú nào với các dự báo. Đối với ông thì việc “dự báo trước có thể tiết lộ nhiều điều về người dự báo, chứ không cho biết gì về tương lai sắp tới”.

Các nhà đầu tư thành công không bao giờ quyết định bỏ vốn nếu chỉ dựa vào những thông tin dự báo về các động thái kế tiếp của thị trường. Trên thực tế, Buffett và Soros là những người đầu tiên khẳng định rằng nếu họ phụ thuộc vào các dự báo về thị trường, thì chắc chắn là họ đã phá sản từ lâu rồi.

Không ít người cho rằng việc dự báo chẳng qua chỉ là trò kiếm cơm của mấy tờ báo về đầu tư nhằm tiếp thị cho các quỹ tương hỗ, và chúng không thể mang đến thành công cho các vụ đầu tư.

Sai lầm thứ 2: Đặt trọn niềm tin vào các “chuyên gia tư vấn” do tuân theo suy nghĩ: “Nếu tôi không thể dự đoán được thị trường thì sẽ có người làm được điều đó, và tôi chỉ cần tìm cho ra người này”.

Thực tế là nếu thật sự bạn có thể dự đoán tương lai, liệu bạn có leo lên nóc nhà và hét toáng lên cho mọi người biết về khả năng kỳ diệu đó không? Hay bạn sẽ giữ kín thông tin đó để rồi mở một dịch vụ môi giới nhằm kiếm được một số tiền kếch xù từ những gì mình biết được?

Khi đưa ra dự đoán về “một vụ sụp đổ sắp xảy ra trên thị trường chứng khoán”, Elaine Garzarelli cũng chỉ là một trong số hàng ngàn chuyên gia xử lý số liệu ở New York . Điều đáng nói là dự báo này được đưa ra vào ngày 12 tháng 10 năm 1987, chỉ một tuần trước “Ngày thứ hai đen tối” - ngày mà chỉ số của Sàn Giao dịch Chứng khoán New York giảm hơn 22%.

Thế là chỉ trong phút chốc, Elaine Garzarelli trở thành một nhân vật nổi tiếng và được nhắc đến liên tục trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Chỉ trong vài năm, bà đã có được một gia tài lớn nhờ tiếng tăm của mình.

Phải chăng Elaine Garzarelli đã làm giàu bằng cách thực hiện các thương vụ đầu tư theo đúng như những gì bà đã khuyên người khác? Không phải đâu. Sau sự kiện kể trên, bà trở thành một trong những chuyên gia tư vấn có mức lương cao nhất nước Mỹ (ước đoán khoảng 1.5 đến 2 triệu đôla một năm). Tiền cứ thế đổ về Quỹ tương hỗ mà bà là một trong những người tham gia đồng sáng lập và chưa đầy một năm, tổng số tiền đã lên đến con số 700 triệu đôla. Mức quản lý phí 3%, tức 21 triệu đôla mỗi năm, sau khi chia lại cho anh em nhà Shearson Lehman – những người đồng sáng lập và các cộng sự, cũng giúp bà thu về một khoản tiền không nhỏ. Ngoài ra, năm 1996, bà còn phát hành một bản tin đầu tư và ngay lập tức có hơn 82.000 người đăng ký đặt mua dài hạn.

Vậy là những lợi ích kinh doanh từ địa vị của một chuyên gia tư vấn đã giúp chính Elaine Garzarelli cũng như anh em nhà Shearson làm giàu, chứ không hề giúp gì nhiều cho những người làm theo lời khuyên của bà.
Đến năm 1994, các cổ đông đã bỏ phiếu đồng ý giải thể Quỹ tương hỗ của bà với lý do hiệu quả hoạt động của quỹ thấp đến mức không thể chấp nhận được. Doanh thu trung bình trong suốt thời gian quỹ hoạt động chỉ đạt 4,7% mỗi năm, so với con số 5,8% của S&P 500.

17 năm sau khi lọt vào tâm điểm chú ý của giới đầu tư, Elaine Garzarelli vẫn duy trì được sự nổi tiếng của mình, thậm chí ngay cả khi quỹ tương hỗ của bà đã ngừng hoạt động, bản tin của bà không còn ăn khách nữa và những dự đoán của bà đã không còn giá trị.

Chẳng hạn vào ngày 21/7/1996, khi chỉ số Dow Jones đang ở mức 5.452, bà lại tiên đoán nó có thể nhanh chóng tăng lên đến 6400. Vậy mà chỉ hai ngày sau, bà lại tuyên bố những lời hoàn toàn trái ngược: “Thị trường chứng khoán có thể rớt giá xuống từ 15% đến 25%”.

Đó chỉ là 2 trong số 14 lời dự đoán công khai của bà từ năm 1987 đến năm 1996 được các tờ Wall Street Journal, Business Week và The New York Times ghi chép lại. Trong số 14 dự đoán đó, chỉ có 5 dự đoán là chính xác mà thôi.

5/14 - tỷ lệ thành công của Elaine Garzarelli là 36%. Nếu thế thì bạn cũng có thể làm tốt hơn và kiếm được nhiều tiền hơn chỉ bằng cách tung một đồng xu. Ít ra thì trong trường hợp đó, tỷ lệ thành công của bạn sẽ là 50%. Và Elaine Garzarelli chỉ là một trong số hàng loạt những chuyên gia phân tích thị trường tại Wall Street - đến rồi lại đi. Bạn còn nhớ Joe Granville không? Vào đầu thập niên 1980, ông từng là người rất được báo giới yêu mến. Chỉ sau khi chỉ số Dow Jones ở vào khoảng 800 điểm năm 1982, và ông khuyên mọi người nên bán bớt cổ phiếu đi, thiện cảm đó mới thay đổi.

Năm 1982 là năm đánh dấu sự khởi sắc và tăng giá đều đặn của thị trường chứng khoán kéo dài suốt nhiều năm ở thập niên 1980. Tuy nhiên, Granville vẫn tiếp tục khuyến cáo mọi người hãy nhanh chóng bán bớt cổ phiếu. Đến khi chỉ số tăng lên đến 1.200, Granville phải rút lui để nhường chỗ cho Robert Prechter – người đã tiên đoán chính xác đà đi lên của thị trường trong thời kỳ này.

Thế nhưng sau vụ sụp đổ năm 1987, thị trường đã chững lại và các chuyên gia lại dự đoán rằng chỉ số Dow Jones sẽ ở vào khoảng 400 điểm vào đầu thập niên 1990.

Sự bùng nổ của lĩnh vực thương mại điện tử vào thập niên 1990 đã làm xuất hiện hàng loạt “nhà tiên tri” trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Tuy nhiên, hầu hết trong số họ đã không còn được nhắc đến sau khi NASDAQ – sàn giao dịch chứng khoán của các công ty thương mại điện tử – bắt đầu tụt dốc vào tháng 3/2000.

7-sai-lam-trong-kinh-doanhNếu thật sự ai đó có thể dự đoán chính xác và nhất quán về thị trường, thì có lẽ anh ta (hoặc cô ta) đã thoát khỏi sự săn đuổi gắt gao của giới truyền thông trên thế giới. Một nhà hiền triết đã rất đúng khi nói: “Rất khó dự đoán, đặc biệt là khi điều dự đoán đó liên quan đến tương lai”.

Những chuyên gia tư vấn trên các phương tiện truyền thông kiếm tiền thông qua các buổi nói chuyện về những vụ đầu tư, bán lời khuyên của họ, hay nhờ vào phí dịch vụ quản lý tiền bạc cho khách hàng. Nhưng như John Train đã đặt vấn đề trong cuốn sách The Midas Touch (Cái chạm tay hóa vàng) thì “người khám phá ra cách biến chì thành vàng chưa chắc có thể nói cho bạn bí quyết để làm ra được 100 đôla mỗi năm”.

Đó chính là lý do tại sao Buffett, Soros và những nhà đầu tư bậc thầy khác biết biến các vụ đầu tư thành tiền bạc, nhưng hiếm khi họ nói về những việc mình đang làm hoặc về những điều họ đang suy nghĩ về thị trường. Thậm chí, họ còn rất hiếm khi nói cho các nhà đầu tư của mình biết về những dự định và hành động của họ đối với số tiền của các nhà đầu tư đó.

Sai lầm thứ 3: Tin rằng “thông tin nội gián” sẽ đem lại nhiều cơ hội thành công nhất.

Thực tế là: Cho đến nay, Warren Buffett được xem là nhà đầu tư giàu nhất thế giới. Các bí quyết đầu tư của ông thường được công bố trong các bản báo cáo hàng năm của công ty. Bất cứ nhà đầu tư nào cũng có thể tiếp cận và tìm hiểu những bản báo cáo đó để tự giải đáp thắc mắc về thành công của ông.

George Soros từng được mệnh danh là “Người phá sập ngân hàng Anh” khi ông giành được chiến thắng trong vụ đầu tư trị giá 10 tỷ đôla vào đồng bảng Anh.

Thật ra không phải chỉ có mình ông biết điều đó, và ông cũng không phải là người duy nhất thu lãi lớn trong vụ đầu tư này. Bất cứ nhà đầu tư nào biết xem xét và phân tích vấn đề đều sẽ nhận ra những dấu hiệu chứng tỏ đồng bảng Anh sắp mất giá. Hàng trăm, nếu không muốn nói là hàng ngàn doanh nhân khác cũng có thể kiếm được món tiền lớn như thế khi đồng bảng Anh thật sự mất giá so với đồng đôla. Thế nhưng chỉ có Soros biết nắm bắt cơ hội này và biến cơ hội đó thành 2 tỷ đôla lợi nhuận.

Dựa vào danh tiếng và uy tín sẵn có mà hiện nay cả Buffet và Soros đều dễ dàng tiếp cận với những người có địa vị cao trong giới tài chính, kinh doanh và cả các nhân vật quan trọng trong xã hội. Tuy vậy, khi mới bước chân vào lĩnh vực đầu tư, họ chỉ là những người bình thường và không nhận được sự bất kỳ sự đón tiếp đặc biệt nào. Mặt khác, tiền lãi đầu tư của cả Buffett và Soros vào thời điểm khi họ còn chưa được nhiều người biết đến lại cao hơn hiện nay. Vì thế, việc trông chờ vào nguồn thông tin nội gián dưới bất cứ hình thức nào đều không giúp ích gì nhiều cho các nhà đầu tư.

Buffett cũng nói: “Với một triệu đôla và đầy đủ những thông tin nội gián cần thiết, bạn có thể trở nên khánh kiệt chỉ trong vòng một năm”.

Sai lầm thứ tư: Đa dạng hóa danh mục đầu tư.

Thực tế là: Có thể nói rằng khối tài sản khổng lồ mà Warren Buffett đang sở hữu hiện nay bắt nguồn từ việc xác định một vài công ty có tiềm năng, rồi chỉ tập trung đầu tư vào những công ty ấy mà thôi.

Theo George Soros, điều quan trọng không phải là việc bạn hiểu đúng hay sai về thị trường, mà chính là số tiền bạn có được khi thực hiện suôn sẻ một thương vụ, và số tiền bạn mất đi khi tính toán sai. Nguồn gốc thành công của Soros cũng giống như Buffett, nghĩa là lợi nhuận thu được từ những vụ đầu tư sinh lời sẽ bù đắp số tiền bị thất thoát trong các vụ đầu tư khác.

Trong khi đó, sự đa dạng hóa lại là một hành động trái ngược hoàn toàn, bởi vì việc có nhiều cổ phần nhỏ, cho dù tỷ lệ lãi suất lớn, thì tổng số vốn của bạn cũng chỉ có thể thay đổi rất ít.

Tất cả những nhà đầu tư thành công lớn đều sẽ bảo với bạn rằng đa dạng hóa danh mục đầu tư là trò chơi dành cho những kẻ tầm thường và nhút nhát. Nhưng chắc chắn đây lại không phải là thông điệp mà bạn có thể nghe được từ các chuyên gia tư vấn tài chính của bạn.

Sai lầm thứ năm: Tin rằng phải chấp nhận rủi ro lớn mới thu được nhiều lợi nhuận.

Thực tế là: Giống như các doanh nhân vừa khởi nghiệp, những nhà đầu tư thành công thường có tâm lý e ngại rủi ro, vì thế họ luôn cố gắng làm đủ mọi cách để hạn chế rủi ro và giảm thiểu thất thoát.

Tại một hội thảo về vấn đề quản lý được tổ chức cách đây vài năm, các học giả luân phiên nhau lên trình bày công trình nghiên cứu của mình về “cá tính của những người đang khởi nghiệp”. Những bài phát biểu chứa đựng khá nhiều quan điểm bất đồng với nhau, chỉ ngoại trừ một điều: những người đang khởi nghiệp thường chấp nhận rủi ro, và trên thực tế, đa số họ đều ưa thích mạo hiểm.

Cuối buổi hội thảo, một doanh nhân ở hàng ghế khán giả đứng dậy và nói rằng anh ta vô cùng ngạc nhiên trước những gì mình vừa nghe được. Anh nói, là một người mới khởi nghiệp, anh luôn tìm cách tránh xa mọi rủi ro. Anh cũng có quen biết nhiều doanh nhân thành công khác và bảo rằng thật là khó mà tìm được những người thận trọng hơn họ.

Những doanh nhân khởi nghiệp thành công là những người chống lại các quyết định mang tính rủi ro, và các nhà đầu tư thành công cũng vậy. Biết phòng tránh rủi ro là điều kiện cần thiết để tích lũy và nhân thêm của cải. Lĩnh vực đầu tư không có chỗ cho ý tưởng hoang đường này của các học giả. Thực tế đã chứng minh rằng nếu bạn chấp nhận rủi ro lớn, thì nhiều khả năng bạn cũng đang tạo ra nguy cơ nhận lãnh những tổn thất khổng lồ.

Cũng giống như các doanh nhân lúc khởi nghiệp, những nhà đầu tư thành công hiểu rất rõ rằng mất tiền bao giờ cũng dễ hơn việc kiếm được tiền. Đó là lý do tại sao họ lại chú trọng việc phòng tránh rủi ro hơn là săn đuổi lợi nhuận.

Sai lầm thứ 6: Đặt trọn niềm tin vào “Hệ thống đánh giá”, nghĩa là cho rằng phải dựa vào một số phương pháp để phân tích chi tiết hay sơ bộ các dữ liệu để đảm bảo lợi nhuận đầu tư.

Thực tế đây là một hệ quả tất yếu của việc tin vào “các chuyên gia tư vấn”. Nếu nhà đầu tư có thể thực hành theo hệ thống phân tích của chuyên gia tư vấn, thì chắc hẳn anh ta sẽ thu được nhiều tiền như chuyên gia này đã nói.

Căn nguyên của việc đặt niềm tin vào “chuyên gia tư vấn” và “hệ thống phân tích” đều giống nhau ở chỗ nhà đầu tư luôn mong muốn có một điều gì đó chắc chắn.

Warren Buffett từng trả lời câu hỏi liên quan đến một trong những cuốn sách viết về ông như sau: “Các nhà đầu tư luôn tin tưởng vào hệ thống phân tích bởi vì họ đang đi tìm một công thức để thành công”. Họ hy vọng khi tìm ra công thức đúng, khi đó tất cả những gì họ cần làm chỉ là cài đặt nó vào máy tính và theo dõi số tiền sinh sôi nảy nở từ các vụ đầu tư.

Sai lầm thứ 7: Tin rằng bạn hoàn toàn biết rõ tương lai sẽ ra sao, và chắc chắn rằng thị trường sẽ phải tiến triển đúng như bạn dự đoán.

Thực tế đây là một đặc điểm thường gặp ở những người ham mê đầu tư. Năm 1929, hầu như mọi người đều đồng ý với tuyên bố của Irving Fisher rằng “các cổ phiếu đã đạt đến trạng thái bình ổn cao một cách lâu dài”, vậy mà chỉ một vài tuần sau họ đã phải chứng kiến cảnh hỗn loạn khi thị trường chứng khoán sụp đổ. Khi giá vàng tăng vọt vào thập niên 1970, người ta đã dễ dàng tin rằng tình trạng lạm phát phi mã là điều không thể tránh khỏi. Còn khi giá trị của Yahoo, Amazon.com, eBay, và hàng trăm website khác tăng lên gần như mỗi ngày, thì thật khó để tranh cãi với câu thần chú mà Wall Street đưa ra vào thập niên 1990: “Lợi nhuận (trong việc đầu tư vào các công ty thương mại điện tử) không còn là vấn đề chính yếu nữa”.
Đây là một biến thể từ “sai lầm chết người” thứ nhất trong hoạt động đầu tư, vốn cho rằng bạn phải có khả năng dự đoán tương lai, song những ảnh hưởng của nó còn mạnh mẽ và đôi lúc bi thảm hơn nhiều.

Một khi nhà đầu tư tin rằng muốn có lợi nhuận thì phải có khả năng dự đoán tương lai, anh ta sẽ cố tìm kiếm các phương pháp để có thể dự đoán “đúng”. Nhà đầu tư nào bị rơi vào “sai lầm chết người” thứ bảy trong đầu tư sẽ nghĩ rằng anh ta gần như nắm chắc được tương lai và đã biết trước tương lai sẽ mang lại cho anh ta những gì. Vì vậy, cuối cùng khi nỗi đam mê (hay niềm tin thiếu căn cứ?) không còn nữa, anh ta sẽ phải chứng kiến phần lớn vốn liếng của mình tan thành mây khói, và thậm chí anh ta còn có thể mất luôn cả nhà cửa lẫn tài sản của mình.

Trong bảy “sai lầm chết người” này, thì việc thâm nhập thị trường với một niềm tin võ đoán là điều nguy hiểm nhất đối với số vốn của bạn.

Trích cuốn "Bí quyết đầu tư và kinh doanh chứng khoán của Warren Buffett và George Soros" do Công ty First News phát hành.

Theo Vnexpress

Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2011

Logic của những cổ phiếu giá trị

Nếu bạn là một nhà đầu tư chứng khoán, trước khi quyết định mua cổ phiếu, bạn cần phải hết sức cẩn trọng. Ðặc biệt là cần tính toán kỹ và xác định xem cổ phiếu của công ty đó có giá trị hay không. Tốt nhất là nên nắm được cách thức đầu tư và an toàn nhất nên chọn các công ty đã có những thành công và tiếng tăm nhất định trên thị trường.

Nói thì rất dễ, nhưng để tìm ra được những dấu hiệu quan trọng giúp bạn nhận biết việc đầu tư củacổ phiếu có giá trị trên thị trường. mình có chính xác và khôn ngoan hay không lại không đơn giản chút nào. Dưới đây là cách thức và các dấu hiệu giúp bạn nhận ra các

Đầu tiên, bạn hãy lập ra một danh sách các công ty lớn, đã phát hành cổ phiếu ra thị trường. Sau đó bạn sẽ thường xuyên theo dõi sự lên xuống giá cổ phiếu đó trên thị trường.

Tuy nhiên, để xác định đâu là một công ty lớn, cổ phiếu của nó sẽ có giá trị trên thị trường, bạn cần phải căn cứ vào năm dấu hiệu phân biệt quan trọng sau đây:

1. Có thương hiệu nổi tiếng và uy tín trên thị trường


Trước hết, bạn hãy nghĩ đến các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới mà chủ sở hữu của nó đã đầu tư vào sản xuất trong đất nước bạn, dưới dạng các công ty 100% vốn nước ngoài hay các công ty liên doanh. Ví dụ như General Electric, Microsoft, Apple, Marlboro…, đó là những thương hiệu được xếp hạng trong 40 thương hiệu nổi tiếng nhất trên thế giới, theo sự bình chọn và đánh giá của Tổ chức tư vấn thương hiệu Interbrand. Dấu hiệu này rất quan trọng, đảm bảo sự thành công trong kinh doanh của công ty này trên đất nước của bạn, và hiển nhiên cổ phiếu của họ chắc chắn sẽ có giá trị trên thị trường. Nếu bạn quyết định đầu tư vào cổ phiếu của những công ty này, mức độ rủi ro sẽ rất ít.

2. Kinh doanh những sản phẩm và dịch vụ có ý nghĩa


Bạn hãy tìm kiếm những công ty mà sản phẩm/dịch vụ của chúng thực sự là nhu cầu thiết yếu và là sở thích của người tiêu dùng. Các công ty dược phẩm, ví dụ, như hãng dược phẩm khổng lồ Novartis của Thụy Sĩ chẳng hạn, những sản phẩm do công ty này sản xuất ra như thuốc bổ Calcium và dầu nong… bán đắt như tôm tươi. Bất kể khách hàng là người lắm tiền nhiều của hay không dư dả lắm, họ đều sẵn sàng mua những sản phẩm như vậy.

Tại sao vậy? Bởi kinh tế ngày một tăng trưởng đã khuyến khích người dân có nhu cầu chăm sóc sức khỏe cao hơn. Đồng hành với sự thịnh vượng kinh tế là xu hướng ngồi làm việc tại chỗ trước màn hành vi tính nhiều hơn. Trẻ em cũng không thoát khỏi xu hướng này. Các nhân tố đó sẽ dẫn đến tình trạng béo phì, tăng huyết áp hay tiểu đường, khiến nhu cầu sử dụng thuốc gia tăng.

Bên cạnh đó, các hãng khác như Coca-Cola hay Yum!... cũng là chủ sở hữu những sản phẩm rất được người tiêu dùng ưa chuộng, và chắc chắn chúng sẽ còn được mua nhiều.

3. Thu nhập chắc chắn và đáng tin cậy; tăng trưởng trong bán hàng và lợi nhuận chính đáng

Tức là trước khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu của một công ty, bạn nên xem xét ba vấn đề cơ bản của công ty là: thu nhập; lượng hàng bán ra trên thị trường và lợi nhuận.

- Về thu nhập, bạn có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau để đánh giá sự chắc chắn và đáng tin cậy của công ty:

+ Chỉ số thu nhập trên một đơn vị cổ phiếu – EPS (Earning per Share): thu nhập dòng hay lợi nhuận sau thuế có thể được xem xét bằng tổng lợi nhuận hay xét trên một đơn vị cổ phiếu gọi là chỉ số EPS. Một công ty có sự gia tăng về tốc độ tăng trưởng thu nhập khi tốc độ tăng trưởng thu nhập của quý sau cao hơn quý trước. Một cổ phiếu tốt, có tốc độ gia tăng về tăng trưởng thu nhập cao hơn so với ba hay bốn quý trước. Tăng trưởng của chỉ số thu nhập ít nhất là 25% so với cùng quý của năm trước. EPS hàng năm của cổ phiếu tốt ít nhất phải tăng trưởng 25% so với ba năm trước.

Ví dụ, Tập đoàn Johnson & Johnson có thu nhập tăng trong 73 năm liên tiếp, có tốc độ tăng đột biến tiền lãi cổ phần (cổ tức) trong 44 năm liên tiếp, và công khai yết thị thu nhập kiếm được tăng trong 21 năm liên tiếp.

Theo bạn, cổ phiếu của tập đoàn này có thực sự hấp dẫn không?

+ Chỉ số thị giá chia cho thu nhập của mỗi cổ phần – P/E là một trong những chỉ số phân tích quan trọng quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư. Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price – PM) và thua nhập của mỗi cổ phiếu (EPS) và được tính như sau:

P/E= PM/EPS.

Thông thường, nhiều người cho rằng nên chọn mua những cổ phiếu có P/E thấp vì theo họ những cổ phiếu có chỉ số này cao là đắt và không nên mua. Nhưng trên thực tế, những cổ phiếu tốt nhất thường có chỉ số này rất cao.

Hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu. Giả sử bạn đang muốn mua một cổ phiếu hiện tại chưa được giao dịch trên thị trường, nhưng chưa biết mua với giá bao nhiêu là hợp lý. Nếu bạn biết thu nhập của công ty này (EPS), bạn có thể lấy nó nhân với chỉ số P/E được công bố trên thị trường giao dịch chứng khoán của nhóm cổ phiếu tương tự như cổ phiếu này, bạn sẽ xác định được giá của cổ phiếu mà bạn muốn mua.

- Về sự tăng trưởng bán hàng: Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đo lường một công ty có sức mạnh hay không và là nhân tố chính của tăng trưởng. Khi chọn lựa cổ phiếu tốt hãy tìm công ty có tốc độ bán hàng mạnh để làm tiền đề cho tăng trưởng thu nhập. Tiêu chí để xác định công ty có tăng trưởng bán hàng tốt nếu ba quý gần nhất có sự tăng lượng hàng bán lớn hơn hoặc bằng 25% so với quý gần nhất trước đó.

- Về lợi nhuận: có thể đánh giá trên hai chỉ tiêu:

+ Lợi nhuận ròng: đánh giá tỷ lệ chuyển doanh thu thành thu nhập. Trên quan điểm của nhà đầu tư, nên tìm những công ty có sự tăng về tỷ lệ lợi nhuận ròng/doanh thu. Con số này càng lớn thì có nghĩa công ty đang có xu hướng quản lý và các hoạt động khác tốt lên. Tiêu chí để xác định cho chỉ tiêu này là lợi nhuận trước thuế ít nhất đạt 18% doanh thu. Yêu cầu lợi nhuận sau thuế luôn đạt 10% trở lên.

+ Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): Hệ số này phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông.

ROE= Lợi nhuận ròng/Vốn cổ đông hay giá trị tài sản ròng hữu hình.

Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu khác nhau trên thị trường. Thông thường, hệ số thu nhập trên vốn cổ phần càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn, vì hệ số này cho thấy cách đánh giá khả năng sinh lời và các tỷ suất lợi nhuận của công ty khi đem so sánh với hệ số thu nhập trên vốn cổ phần của các công ty khác.

4. Chịu sự quản lý và điều hành bởi các nhà lãnh đạo tài ba

Đây là một trong những tiêu chuẩn và dấu hiệu khá quan trọng mà bạn nên tìm hiểu trước khi quyết định đầu tư. Nếu nhà lãnh đạo giỏi, công ty sẽ phát triển đúng hướng và sẽ là yếu tố đảm bảo sự thành công trong đầu tư vào cổ phiếu của bạn. Thậm chí, nếu chẳng may công ty rơi vào tình trạng gay go, trước bờ vực của sự phá sản, nhưng nếu được điều hành và dẫn dắt của một nhà lãnh đạo tài ba, rất có thể nó sẽ vượt qua được khó khăn, quay về đúng hướng.

Richard Parson – Giám đốc điều hành của Time Warner là một trong những nhà lãnh đạo tài giỏi như thế. Ông đã làm được một điều kỳ diệu: giá cổ phiếu của hãng gần như đã quay về mức trước khi rơi vào khủng hoảng, trước khi ông về nắm quyền. Sau cuộc sáp nhập khủng hoảng với AOL trong năm 2001, giá cổ phiếu Time Warner đã rớt tự do. Thế nhưng trong năm 2005, Parson đã dần kéo công việc kinh doanh của hãng truyền thông lớn nhất thế giới này trở về quỹ đạo cũ. Ông đã giải quyết dứt điểm từng vấn đề đau đầu của Time Warner, từ trả bớt nợ, bán bớt các bộ phận làm ăn không hiệu quả cho đến dàn xếp ổn thỏa các các cuộc điều tra liên bang và vụ kiện của các cổ đông.

Bạn có thể tìm hiểu thông tin có ích và ấn tượng về các nhà lãnh đạo giỏi, có uy tín trên các trang web giới thiệu về doanh nghiệp và doanh nhân. Ví dụ, trên trên web www.fool.com, có nhiều tin tức về những nhà lãnh đạo này trên chuyên mục “xác định sự quản lý có hiệu quả” (Identifying effective management) hay “Điều tra về đầu tư” (Investigative Investing).

5. Có lợi thế cạnh tranh nhất định

Trở lại ví dụ của hãng Time Warner và AOL sau khi sáp nhập. Mặc dù trong thời gian đầu, AOL gặp rất nhiều khó khăn, song họ vẫn giữ được nhiều khách hàng trung thành. Tại sao nhiều khách hàng vẫn trung thành với họ? Bất cứ một nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến nào cũng muốn cung cấp cho người sử dụng một địa chỉ e-mail miễn phí và lôi kéo khách hàng sử dụng địa chỉ email của mình, chứ không phải của các đối thủ cạnh tranh. Và khi một ai đó đã sử dụng địa chỉ email do hãng của bạn cung cấp, chắc chắn họ sẽ không dễ dàng từ bỏ địa chỉ e-mail của bạn để sử dụng địa chỉ e-mail của một nhà cung cấp khác. Đơn giản là họ sẽ gặp nhiều rắc rối và đau đầu vì thông báo địa chỉ e-mail mới cũng như mất thời gian cập nhật và nhận thư từ từ nhiều địa chỉ e-mail.

Tương tự như vậy, hãng dịch vụ cho thuê phim Netflix của Mỹ là một trong những hãng có tên tuổi và tiên phong trong lĩnh vực cho thuê DVD và bán phim trên mạng internet. Khách hàng có thể thâm nhập vào danh mục các bộ phim mà họ muốn xem và khó có thể từ chối những dịch vụ mà họ cung cấp.

Đó chính là những công ty có một lợi thế cạnh tranh nhất định trên thị trường, mà khi quyết định đầu tư cổ phiếu, bạn có thể xem xét đến chúng.

Sau khi bạn đã xác định được đâu là một công ty mạnh, có triển vọng trên thị trường, bạn quyết định tìm kiếm và mua cổ phiếu của nó với bất cứ giá nào? Đừng làm như vậy. Các công ty chất lượng cao, giá cổ phiếu của họ thường ở mức trung bình. Nếu bạn trả giá cho cổ phiếu của họ quá cao, rất có thể sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và tổn hại đến thu nhập của họ. Vì vậy, nếu bạn là một người kiên nhẫn, bạn nên chờ đợi thời cơ. Ví dụ, một hãng kinh doanh rất thành công, nhưng gần đây họ bán cổ phiếu với một giá hoàn toàn không quá cao như nhiều người nghĩ. Đó chính là hãng Coca-Cola. Chỉ số P/E của hãng này chỉ xấp xỉ xung quanh 22, thấp hơn mức trung bình trong lịch sử của hãng này.

“Một công ty lớn có giá cổ phiếu không quá cao”, đó chính là một công thức kiếm được nhiều tiền trong đầu tư chứng khoán trong nhiều thập kỷ nay. Bạn nên suy nghĩ về điều này trước khi quyết định mua cổ phiếu của một công ty nào đó.

Theo  Bwportal

Warren Buffett nghĩ gì trước khi ra quyết định đầu tư?

Warren Buffett quan niệm rằng cổ phiếu chỉ là tờ giấy chứng nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với
công ty đó. Ông không đầu tư vào cổ phiếu, mà đầu tư vào công ty. Nói một cách khác, ông hoàn toàn không quan tâm đến việc mua đi bán lại cổ phiếu trong thời gian ngắn. Thay vào đó, ông áp dụng chiến lược “buy and hold” - mua và giữ - nghĩa là ông sẽ giữ cổ phiếu (CP) trong thời gian dài, rất dài và đôi khi giữ luôn nếu đó là những công ty ông xác định là chiến lược của mình. Ông luôn đầu tư theo giá trị thực.
 
Những câu hỏi Warren Buffett đặt ra trước khi quyết định chọn
công ty/cổ phiếu để đầu tư 

-
Công ty có phát triển tốt không, có lợi thế cạnh tranh không? Warren Buffett chỉ muốn mua cổ phiếu của công ty có lợi thế cạnh tranh cao; hoặc là công ty dẫn đầu thị trường của ngành kinh doanh chính của nó; hoặc là có thương hiệu được khách hàng đánh giá cao. Ông không muốn đầu tư vào những công ty không có lợi thế cạnh tranh và chỉ có thể cạnh tranh bằng cách giảm giá bán. Ông còn xét xem công ty mà ông sắp đầu tư có nguy cơ bị công ty lớn mạnh khác nhảy vào cạnh tranh hay không. Ông là người sáng chế ra từ “economic moat” ngụ ý công ty đó có lợi thế cạnh tranh và tạo ra “hàng rào” ngăn cản sự cạnh tranh của các công ty khác.

-
Công ty đó có mô hình kinh doanh đơn giản không? Warren Buffett chỉ đầu tư vào các công ty có mô hình đơn giản, dễ hiểu, không quá phức tạp. Ông chỉ đầu tư vào những ngành mà ông biết rất rõ.

- Lợi nhuận (LN)
công ty có tốt? Tăng trưởng ổn định không?

- Tỷ số nợ trên vốn có thấp không? Tỷ số LN trên nợ có cao không? Giả sử LN không đạt được mức kỳ vọng,
công ty có khả năng trả được nhũng món nợ đến hạn không?

- Tỷ lệ LN trên vốn đầu tư có tốt không? Đây là một trong những chỉ số mà Buffett đặc biệt quan tâm. Ông chỉ đầu tư vào những
công ty tạo ra mức LN tốt.

- Chi phí vận hành của
công ty có ở mức chấp nhận được hay không?

- Dòng tiền mặt để đầu tư có đủ lớn để tạo ra LN và sự tăng trưởng?

-
Công ty có giữ lại LN để tái đầu tư hay không? Việc công ty chia cổ tức hay không chia cổ tức là một trong những điểm khác biệt giữa Benjamin Graham và Warren Buffett. Benjamin Graham cho rằng công ty nên chia cổ tức cho nhà đầu tư. Đối với ông, cổ tức được chia tốt hơn cổ tức được giữ lại trong công ty. Trong khi đó, Warren Buffett muốn công ty giữ lại LN để tái đầu tư. Ông cho rằng, nếu như công ty đang làm ra LN tốt - bằng hay cao hơn mức lãi suất mong muốn - thì công ty nên giữ LN lại để tái đầu tư. Khi đó công ty sẽ trở thành một máy in tiền với tốc độ ngày càng tăng cao nhờ hiệu ứng tuyệt vời của lãi suất kép.

- Ban lãnh đạo có giỏi, có tầm nhìn, có bề dày thành tích về quản lý kinh doanh, có đạo đức không? Buffett chỉ đầu tư vào những
công ty ông tin rằng ban lãnh đạo có năng lực.

Chọn thời điểm mua

Ông không bao giờ vội vã mua những CP có biên độ an toàn không rõ ràng. Thường thì ông sẽ đợi khi thị trường vào giai đoạn điều chỉnh hoặc khi thị trường đang thời kỳ giảm giá mạnh. Khi đó ông sẽ mua được CP của
công ty với giá thấp hơn giá trị nội tại của nó. Phương pháp đầu tư đơn giản này đã giúp ông thành công lớn và trở thành một trong những người có tài sản lớn nhất thế giới. Nó cũng giúp ông thoát được tổn thất trong những giai đoạn mà hầu hết mọi người đều bị thiệt hại, ví dụ như giai đoạn CP các công ty Internet bùng nổ và sụp đổ. Tuy vậy, ông bị một số người phê bình là quá thận trọng và vì thế đã bỏ qua những cơ hội lớn.

Những điều Warren Buffett không quan tâm
 
Với chiến lược đầu tư nói trên Warren Buffett không quan tâm nhiều đến sự lên xuống của giá cả thị trường chứng khoán cũng như chu kỳ kinh tế. Nói đúng hơn ông chỉ quan tâm đến việc lên xuống giá khi ông chọn thời điểm mua. Khi đã mua rồi, ông không quan tâm đến sự lên xuống của giá nữa.

Một điểm nữa khá đặc biệt là ông rất ít quan tâm đến việc đa dạng hóa danh mục đầu tư. Nhiều NĐT đã nghiên cứu và thực hiện thành công các phương pháp đa dạng hóa danh mục đầu tư tức là chọn nhiều CP của các
công ty khác nhau, ngành khác nhau có tác dụng bổ sung, tương hỗ nhằm đạt được LN cao nhất có thể trong khi giảm rủi ro đến mức thấp nhất. Warren Buffett không theo trường phái đa dạng hóa này. Ông cho rằng nếu đã chọn được doanh nghiệp tốt để đầu tư thì sẽ đạt LN cao và rủi ro thấp. Việc đa dạng hóa danh mục đầu tư, tức là chọn thêm những CP khác vào danh mục đầu tư sẽ giảm LN cao tạo ra từ công ty/CP chính yếu.

Theo ông, nếu “lỡ” đầu tư vào doanh nghiệp có lãi suất thấp hơn kỳ vọng, thì hãy rút ra càng sớm càng tốt, vì càng để lâu, NĐT càng bị lỗ và vì thế mất cơ hội đầu tư ở
công ty tốt. Còn nếu đã đầu tư đúng công ty làm ăn hiệu quả, thì đừng rút tiền gốc và cổ tức ra khỏi doanh nghiệp. Càng để lâu bao nhiêu thì LN sinh ra càng cao bấy nhiêu.

Theo saga

Thứ Tư, 16 tháng 11, 2011

Warren Buffett chọn cổ phiếu như thế nào?

Nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett. Ảnh: Minnpost.com Từ khoản đầu tư đầu tiên vào năm 1965, sau hơn 4 thập kỷ, Warren Buffett đã có trong tay trên 50 tỷ USD và chưa có nhà đầu tư chứng khoán nào vượt qua ông về khả năng sinh lời cho nguồn vốn. 

Khi còn nhỏ, Warren Buffett phụ việc trong cửa hàng thịt nhỏ của ông nội và điều này đã dạy cho nhà tỷ phú tương lai giá trị của làm việc chăm chỉ. Cha của ông là một nhà môi giới chứng khoán, vì thế Buffett có cơ hội tiếp cận với ngành này từ rất sớm. Khi ông khởi nghiệp, đầu tư giá trị là một khái niệm ít được biết đến, và chính nhờ thực hiện đầu tư lâu dài này mà Buffett trở thành nhà đầu tư huyền thoại của thế giới.
"Bí kíp" đầu tư của vị tỷ phú chứng khoán đã được trang tin Forexcare hé lộ. 

Warren Buffett từng học ở trường Benjamin Graham và thu nạp được từ đây kiến thức về đầu tư giá trị, một khái niệm vẫn còn mới mẻ ở thời điểm ông khởi nghiệp. Nhà đầu tư giá trị tìm kiếm những cổ phiếu có thị giá thấp hơn giá trị thực của chúng. Thực ra không có công thức cụ thể nào để tính được giá cổ phiếu thấp hơn giá trị thực ở mức nào. Cách phổ biến nhất là đánh giá các yếu tố cơ bản của doanh nghiệp, và nhà đầu tư giá trị sẽ tìm mua những mã mà họ cho rằng phần lớn những người khác không nhìn ra tiềm năng của chúng.
Nhưng Warren Buffett đẩy cách đầu tư này lên một nấc cao hơn, khi ông không chỉ nhìn nhận cổ phiếu đắt hay rẻ dựa vào sự đánh giá của quy luật cung cầu, mà là khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp. Thực tế, nhà đầu tư huyền thoại không hề bận tâm đến hoạt động của thị truờng. Khi đầu tư vào một cổ phiếu nào đó, ông không quan tâm sau vài năm nữa thị trường có nhận ra giá trị của mã đó hay không, mà là trong những năm tới doanh nghiệp này sẽ kiếm ra bao nhiêu tiền. 

Dưới đây là 6 câu hỏi Warren Buffett sử dụng hiện thực hoá quan điểm đầu tư giá trị của mình: 

1. Công ty có hoạt động ổn định không? 

Nhà đầu tư trứơc hết nhìn vào ROE, bởi đôi khi lợi nhuận trên cổ phiếu (ROE) được coi là lợi nhuận mà cổ đông có đựoc từ khoản đầu tư của mình. Nó cho thấy tỷ lệ nhà đầu tư có thể thu lợi từ cổ phiếu. Buffett luôn nhìn vào ROE để biết doanh nghiệp mục tiêu có hoạt động ổn định và có hiệu quả so với các doanh nghiệp cùng ngành hay không. 

2. Công ty có tránh được tình trạng nợ quá lớn không? 

Tỷ lệ vốn trên cổ phần là một yếu tố quan trọng khác mà Buffett thường xem xét rất kỹ lưỡng. Nhà đầu tư giá trị sẽ tìm mua cổ phiếu của những doanh nghiệp có khoản nợ nhỏ, như vậy có nghĩa là lợi nhuận sẽ chủ yếu bắt nguồn từ vốn của cổ đông chứ không phải từ vốn vay. 

3. Biên lợi nhuận có cao không? Có khả năng tăng nữa không? 

Khả năng sinh lời của một doanh nghiệp phụ thuộc không chỉ vào biên lợi nhuận tốt mà còn vào mức tăng ổn định của biên lợi nhuận này. Để biết đựoc chính xác sức khỏe của doanh nghiệp, cần nhìn lại biên lợi nhuận trong vòng 5 năm gần nhất. Biên lợi nhuận lớn cho thấy doanh nghiệp hoạt động tốt, và lãnh đạo doanh nghiệp rất có khả năng điều hành và quản lý chi phí. 

4. Công ty đã trở thành doanh nghiệp đại chúng bao lâu? 

Buffett chỉ quan tâm đến những doanh nghiệp đã chào bán cổ phần rộng rãi được ít nhất 10 năm. Vì thế, những công ty mới thực hiện IPO đều không lọt vào "mắt xanh" của ông. Buffett hoàn toàn có lý do để đưa ra tiêu chí này, bởi nhà đầu tư giá trị chỉ nhắm đến những doanh nghiệp đã được thời gian thử thách và vẫn đang bị thị trường định giá thấp. 

5. Sản phẩm của công ty có phụ thuộc vào loại hàng hoá nào không? 

Tiêu chí này thoạt nhìn có vẻ cực đoan, nhưng thực tế Buffett thường tránh những doanh nghiệp có sản phẩm kém nổi bật so với các đối thủ cùng ngành và lại phụ thuộc nhiều vào các nguyên nhiên liệu đầu vào như dầu mỏ hay khí đốt. Ông quan niệm, nếu doanh nghiệp không có gì khác biệt so với các đối thủ thì cũng ít có khả năng sinh lời vượt bậc. 

6. Giá cổ phiếu có thấp hơn giá trị thực đến 25% không? 

Sau khi tìm được những cổ phiếu đáp ứng được cả 5 câu hỏi ở trên, thì nhà đầu tư phải trả lời câu hỏi cuối cùng và cũng là khó nhất này. Phát hiện cổ phiếu đang bị định giá thấp cũng chính là kỹ năng quan trọng nhất của Buffett. Để trả lời câu hỏi này, nhà đầu tư cần phân tích một loạt dữ liệu cơ bản của doanh nghiệp (lợi nhuận, doanh thu và tài sản) và giá trị thanh khoản - doanh nghiệp này có giá bao nhiêu nếu nó được bán lại khi phá sản. Giá trị thanh khoản không bao gồm thương hiệu của doanh nghiệp. 

Khi tính xong các giá trị này, Buffett so sánh với vốn hoá hiện tại của doanh nghiệp. Nếu giá trị theo tính toán của ông cao hơn vốn hoá thị trường ít nhất 25% thì đó chính là doanh nghiệp đáng được ông đầu tư. Nghe có vẻ dễ dàng, nhưng toàn bộ bí quyết thành công Warren Buffett lại nằm ở cách ông tính giá trị của những doanh nghiệp trong "tầm ngắm".

Theo vnexpress

Học cách hiểu công ty như Warren Buffet

Một nhà đầu tư thận trọng không bao giờ đầu tư vào công ty mà họ không biết rõ. Cũng tương tự như vậy, một nhà đầu tư thận trọng không bao giờ mua cổ phiếu của công ty thuộc lĩnh vực mà mình không hiểu.

Buffet nói gì về việc mua công ty

Vào năm 1977, Warren Buffet nói với cổ động của Berkshire Hathaway rằng công ty sẽ chỉ đầu tư vào những nơi mà ban giám đốc hiểu rõ chúng. Và ông liên tục lặp lại thông điệp này sau đó. Vào năm 1992, ông mở rộng hơn:

“Chúng ta sẽ tiếp cận tới những doanh nghiệp mà chúng ta tin rằng ta biết rõ chúng. Điều này có nghĩa là công ty mục tiêu cần phải có đặc điểm ổn định và không phức tạp. Nếu một công ty kinh doanh hỗn hợp hay có nhiều vấn đề rắc rối khác thì chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc dự báo dòng tiền."

Những công ty Buffet đầu tư

Buffet lựa chọn chủ yếu các công ty thuộc lĩnh vực tiêu dùng và tài chính. Một số công ty hàng đầu như:
-  Coca Cola
-  American Express
-  Gillette – sau đó bị mua lại bởi P&G
-  Moody’s
-  Washington Post
-  Wells Fargo
-  Goldman Sachs
-  M&T
-  H&R

Hầu hết những cái tên xuất hiện trong danh sách này là những cái mà không chỉ người dân Mỹ mà còn là người dân toàn cầu biết đến.
Buffet là một cổ đông lớn và lâu năm của Coca cola
- Coca cola là công ty nước giải khát hàng đầu thế giới, sản xuất và phân phối các sản phẩm như Coke, Fanta, Sprite, Evian hay Minute Maid. Những sản phẩm này đã được gửi tới công chúng nhiều nhiều năm trước và gần như trở thành thương hiệu được nhận biết nhiều nhất khắp thế giới.

- American Express là một thương hiệu toàn cầu, hoạt động trong lĩnh vực thanh toán quốc tế cho khách du lịch và các dịch vụ thẻ tín dụng khác. Công ty này đã  hoạt động trong một thời gian rất dài và có mô hình hoạt động đơn giản để những nhà đầu tư nghiệp dư cũng có thể hiểu được.

- Goldman Sachs cũng là một ngân hàng đầu tư hàng đầu và là điểm sáng của nước Mỹ trong quá trình hồi phục sau khủng hoảng.

Warren Buffet và Keynes

Theo cách của Buffet, ông sẽ không bao giờ đầu tư vào những công ty hay các khoản đầu tư mà ông hiểu rõ được về công ty đó, về hoạt động kinh doanh, ban quản trị hay vị thế tài chính của công ty đó. Ông khuyên những nhà đầu tư cá nhân cũng nên như vậy, giống như nhà kinh tế học vĩ đại, nhà đầu tư thành công John Maynard Keynes.

“Thời gian trôi qua, tôi càng tin trưởng nhiều, nhiều hơn nữa rằng phương pháp đầu tư chính xác nhất là đặt hầu hết vốn của mình vào một công ty mà mình đã biết…” Keynes.

Tại sao Buffet không đầu tư vào Microsoft

Như chính Buffet đã từng nói, ông quen và thực sự ngưỡng mộ Bill Gates cũng như Tập đoàn Microsoft của ông tuy nhiên ông không bao giờ đầu tư vào nó bởi vì ông không hiểu được cách mà công ty này hoạt động.
Có mối quan hệ khá tốt ngoài đời nhưng Buffet vẫn không đầu tư 
vào công ty của Bill Gates. Ảnh minh họa, nguồn: Internet

Những công ty phức tạp

Một công ty như Unilever chẳng hạn. Đây là một công ty hoạt động từ rất lâu, có được thương hiệu cũng như thị trường toàn cầu. Nhưng việc hiểu cách vận hành công ty này có đơn giản?

Có 2 công ty cùng sở hữu Unilever, một ở Anh và một ở Hà Lan. Tất nhiên việc hoạt động thì Unilever vẫn là một công ty thống nhất nhưng việc hai công ty mẹ lại có sở hữu lượng cổ phần không nhỏ ở các công ty con của Unilever khiến cho rủi ro định hướng hoạt động không thống nhất là khá rõ rệt. Điều này cho thấy một công ty có thế rất tốt, nhưng bộ máy hoạt động phức tạp sẽ làm rất nhiều nhà đầu tư không hiểu rõ được khoản đầu tư của mình.

Hiểu một công ty

Hiểu về một công ty bao gồm việc nghiên cứu thật kĩ cũng như những kinh nghiệm cá nhân và một nhà đầu tư thành công sẽ đầu tư cổ phiếu như thể họ mua lại một doanh nghiệp vậy.

Họ sẽ chọn mua một công ty hoạt động trong lĩnh vực mà họ biết hoặc đã từng được học, họ hiểu được tình hình tài chính, họ hiểu được cách công ty hoạt động trong quá khứ và cả những tiềm năng trong tương lai và sau đó, là một quá trình so sánh về giá để đưa đến quyết định cuối cùng, mua hay không.

Một lời khuyên của Buffet: “Thứ đáng giá với hầu hết nhà đầu tư không phải là họ hiểu công ty đến mức nào, mà là cái cách họ xác định rằng những thứ mình chưa hiểu về công ty đó có vai trò như thế nào”.

Robert Hagstorm – người đã theo dõi hầu hết các khoản đầu tư của Buffet trong thời gian qua đã đồng tình rằng Buffet luôn quyết định đầu tư chỉ với những công ty mà ông biết rõ. “Hiểu rõ doanh thu, chi phí, dòng tiền, quan hệ nhân công và cách phân bổ vốn là điều kiện tiên quyết của những gì mà Berkshire  Hathaway sở hữu”.

Và Hagstorm cũng cho rằng những nhà đầu tư theo hướng thận trọng cũng nên tìm hiểu hết những yếu tố kể trên.

Thu thập thông tin sơ bộ

Khó khăn đầu tiên mà các nhà đầu tư cá nhân gặp phải là việc thu thập thông tin. Nhà đầu tư có thể theo dõi thông qua báo cáo của các trung gian tài chính hay chính báo cáo của các công ty tiềm năng. Sau đó tự mình làm một số tổng hợp, phân tích số liệu. Những nhà đầu tư không có điều kiện như vậy có thể chọn cách đơn giản hóa hơn là nhận thông tin tóm tắt từ dịch vụ dành cho nhà đầu tư.
Có một giai thoại kể rằng khi còn trẻ, Buffet thường tự mình đến gặp công ty tiềm năng để xin thông tin. Không phải mọi nhà đầu tư đều có thể làm như vậy, nhưng họ hoàn toàn có thể dựa trên một vài kinh nghiệm cá nhân về những sản phẩm xung quanh cuộc sống của mình để ra quyết định đầu tư. Bạn vừa dùng thử chiếc dao cạo đời mới của Gillette, quá tuyệt, sạch và dễ chịu, bạn bè của bạn cũng hào hứng với nó. Vậy còn chờ gì mà không “để ý” đến cổ phiếu của P&G!

Theo giau.org