Hiển thị các bài đăng có nhãn Chiến lược đầu tư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chiến lược đầu tư. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 5 tháng 12, 2011

Những nhà đầu tư vĩ đại nhất thế giới: John Templeton

Năm 1939, khi nước Đức của Hitle tàn phá châu Âu, John Templeton đã bỏ ra 100$ mua mỗi loại cổ phiếu được bán ở mức giá dưới $1 trên sàn giao dịch chứng khoán New York(NYSE) và sàn giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ (AMEX). Trong thương vụ này, Templeton đã đầu tư vào tổng cộng 104 công ty, trong đó 34 công ty đang trong tình trạng phá sản, với tổng số tiền 10,400 USD. Bốn năm sau, ông bán lại số cổ phiếu này và thu được hơn 40,000 USD! 

Tiểu sử

John Templeton sinh ra trong một gia đình nghèo ở Tennesee. Nhờ học bổng, ông đã theo học kinh tế học ở trường Yale và tốt nghiệp với vị trí đầu lớp năm 1934. Ông tiếp tục theo học Oxford bằng học bổng Rhodes Scholar và lấy được bằng thạc sĩ về ngành luật năm 1936. Trở về Mỹ, ông lên New York làm nhân viên tập sự cho Fenner & Beane, một trong các hãng tiền thân của Merrill Lynch.

Templeton mở công ty quản lý đầu tư đầu tiên của chính mình Templeton, Dobbrow & Vance, trong vũng sâu của cuộc Đại suy thoái năm 1937. Công ty quản lý đầu tư này khá thành công, tài sản tăng lên 300 triệu USD với 8 quỹ tương hỗ dưới sự quản lý của nó. Tên công ty sau đó được đổi thành Templeton Damroth và được bán đi năm 1968, vào thời điểm ông bắt đầu lại từ đầu với quỹ Templeton Growth Fund của chính mình, đặt trụ sở tại Nassau, Bahamas.

Trong vòng 25 năm sau đó, Templeton đã tạo ra một số trong những quỹ đầu tư quốc tế lớn nhất và thành công nhất. Ông bán lại các quỹ mang tên Templeton năm 1992 cho tập đoàn Franklin Group. Năm 1999, tạp chí Money bầu ông là "người lựa chọn cổ phiếu đầu tư vĩ đại nhất thế kỷ." Templeton còn được Nữ hoàng ElizabethII phong tước hiệp sĩ vì những thành tựu của mình.

Sau khi nghỉ hưu, Templeton trở thành một nhà hoạt động từ thiện rất tích cực trên khắp thế giới qua quỹ John Templeton Foundation, quỹ đã tài trợ rất nhiều cho các nghiên cứu về tinh thần và khoa học.

Phong cách đầu tư


Là một trong những nhà đầu tư ngược xu thế hàng đầu của thế kỷ XX, John Templeton được giới đầu tư coi là người đã "mua cổ phiếu dưới đáy của cuộc Đại suy thoái, bán ở đỉnh của thời kỳ bùng nổ Internet và có vô số vụ đầu tư thành công khác giữa hai thời kỳ này."

Phong cách đầu tư của ông có thể được tóm tắt là tìm kiếm những cổ phiếu giá trị, mà ông gọi là "săn món hời," bằng cách tìm kiếm trong số nhiều công ty ở nhiều nước khác nhau thay vì chỉ một nước. Châm ngôn đầu tư của Templeton là "tìm các công ty trên khắp thế giới có giá thấp và triển vọng dài hạn tuyệt vời."

Là một nhà đầu tư giá trị - đầu tư ngược xu thế, Templeton tin rằng những cổ phiếu được coi là "món hời" là những cổ phiếu hoàn toàn bị bỏ qua, những cổ phiếu mà các nhà đầu tư khác thậm chí không buồn nghiên cứu về nó. Liên quan đến mặt này, ông có một lợi thế mà không phải nhà đầu tư cá nhân nào cũng có, đó là ông sống ở Lyford Cay, Bahamas. Lyford Key Club là nơi những doanh nhân từ khắp nơi trên thế giới đến sinh sống. Tepleton có thể dễ dàng trao đổi ý kiến với các doanh nhân này trong một bầu không khí rất dễ chịu, mà ông cho là tốt hơn hẳn làm việc với mạng lưới các đầu mối ở phố Wall, những người có lượng thông tin hạn chế và luôn muốn bán cho ông một cái gì đó. Không giống nhà đầu tư huyền thoại bạn ông là Phillip Fisher, Templeton biết khai thác có hệ thống vô số mối quan hệ của ông để có được những dữ liệu đầu tư khách quan và giá trị, liên quan đến điều kiện thị trường và mục tiêu đầu tư trên khắp thế giới.

Tác phẩm

    * "Spiritual Investments: Wall Street Wisdom From The Career Of Sir John Templeton" của Gary D. Moore (1998)
    * "Golden Nuggets From Sir John Templeton" 1997)
    * "21 Steps To Personal Success And Real Happiness" viết cùng James Ellison (1992)

Trích dẫn

"Để có thể thực sự thành công trên thị trường chứng khóan bạn phải là một nhà phân tích cơ bản."

"Hãy đầu tư ở điểm mà thị trường bi quan nhất."

"Nếu anh muốn có kết quả đầu tư tốt hơn số đông, anh phải hành động khác họ."

Khi được hỏi về việc sống và làm việc tại Bahamas trong suốt quá trình ông điều hành tập đoàn Templeton, ông trả lời, "Tôi nhận thấy, kết quả đầu tư cho các đối tác của tôi khi làm việc ở đây tốt hơn hẳn khi làm việc tại 30 Rockerfeller Plaza. Khi bạn ở Manhattan, rất khó để đi ngược lại số đông."

(st)

Xem thêm:

Những nhà đầu tư vĩ đại nhất thế giới: William J. O'Neil

Những Nguyên Tắc Kinh Doanh Cổ phiếu của William J. O’Neil

Nicolas Darvas: Nhà kinh doanh chứng khoán kỳ tài

Nhà quản lý tiền số một thế giới: Peter Lynch

Top 10 nhà đầu tư xuất sắc nhất trong lịch sử tài chính


Bạn có thể xem thêm nếu bạn muốn:

Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2011

Bí Quyết Đầu Tư Thành Công của Jim Rogers

James Beeland Rogers, Jr. là một nhà đầu tư gốc Mỹ. Ông bắt đầu kinh doanh từ khi lên 5 bằng việc bán đậu phọng. Rogers tốt nghiệp Yale University và có một bằng BA về triết học, chính trị và kinh tế học ở Oxford University.

Rogers trở thành một huyền thoại Wall Street khi ông cùng George Soros lập quỹ Founded The Quantum Fund.

Sau sự nghiệp làm một quản lý quỹ hedge fund, ông hiện thỉnh thoảng dạy tài chính ở Columbia University, và bình luận trên CNBC Cable Network.

Transcript của cuộc phỏng vấn Jim Rogers năm 2009 được thực hiện bởi tờ Financial Times sẽ tiết lộ vài điều về bí quyết đầu tư thành công của ông.

Bí quyết thành công của ông là gì?

Bởi vì tôi không thông minh hơn hầu hết mọi người, nên tôi sẵn sàng làm việc chăm chỉ hơn hầu hết mọi người. Tôi luôn chuẩn bị để kiểm tra những tri thức thông thường. Nếu tất cả mọi người nghĩ ra một hướng, đó có thể là sai lầm. Nếu bạn chỉ được ra rằng điều đó là sai, bạn rất có thể kiếm được rất nhiều tiền.

Chiến lược đầu tư cơ bản của ông là gì?

Mua thấp bán cao. Tôi cố gắng tìm những thứ rất rẻ, ở nơi đang có chuyển biến tích cực. Sau đó tôi làm đủ bài tập ở nhà để chắc chắn rằng tôi đã đúng. Nó phải rẻ vì nếu tôi sai thì tôi sẽ không mất nhiều tiền.

Mỗi khi tôi mắc sai lầm, thường là vì tôi không làm đủ bài tập.

Đừng có coi thường giá trị của việc thẩm định due dilingence. Trong thập niên 1060, General Motors là công ty thành công nhất thế giới. Một ngày nọ, một chuyên viên phân tích của GM tới ban giám đốc với thông điệp "Người Nhật đang tới".

Họ phớt lờ anh ta. Những nhà đầu tư mà làm bài tập về nhà đã bán cổ phiếu GM và thay vào đó mua cổ phiếu Toyota.

Tôi hiện không mua cổ phiếu nào. Nếu có thứ nào đang bị định giá thấp thì đó hàng hóa cơ bản và một vài đồng tiền.

Picasso hay Art Deco có thể là một khoản đầu tư không?

Tôi đang ở trong một giai đoạn mà tôi không thấy hứng thú sở hữu hay chất đống những thứ đó.

Người ta nên bỏ tiền vào đâu trong suy giảm kinh tế?

Chỉ nên đầu tư vào những thứ mà bạn có biết vài điều về chúng. Sai lầm phần lớn mọi người phạm phải là họ nghe theo những mách nước sốt dẻo, hoặc hành động theo những thứ họ đọc trên những tạp chí.

Hầu hết mọi người đều biết rất nhiều về một thứ gì đó, vì vậy họ chỉ nên bám lấy những gì họ biết và mua những khoản đầu tư trong lĩnh vực đó. Đó là cách bạn làm giàu.

Bạn không thể làm giàu bằng cách đầu tư vào những thứ bạn chẳng biết gì.

Theo taichinhdautu

Xem thêm:

Những nhà đầu tư vĩ đại nhất thế giới: William J. O'Neil

Nhà quản lý tiền số một thế giới: Peter Lynch

Top 10 nhà đầu tư xuất sắc nhất trong lịch sử tài chính

William J. ONeil và nguyên tắc đầu tư CANSLIM

Warrent Buffet: 'Hãy tham lam khi mọi người sợ hãi'

Bí quyết đầu tư chứng khoán: Linh cảm của Soros

2 nguyên tắc đầu tư của 2 huyền thoại đầu tư: Buffett và Soros

Nicolas Darvas: Nhà kinh doanh chứng khoán kỳ tài

 

Bạn có thể xem thêm nếu bạn muốn:

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2011

Những nhà đầu tư vĩ đại nhất thế giới: William J. O'Neil


William_J_ONeil.gifWilliam J. O'Neil

Sinh năm 1933 tại Oklahoma City, Oklahoma

Công ty:
    * Hayden, Stone & Company
    * William O'Neil & Company, Inc.
    * O'Neil Data Systems, Inc.
    * Investor's Business Daily

Thành tích nổi bật: Bill O'Neil là một nhà môi giới chứng khoán hàng đầu, một nhà đầu tư cổ phiếu theo chiến lược tăng trưởng, CANSLIM, tác giả và là người sáng lập ra tạp chí tài chính Investor's Business Daily, là một địch thủ đáng gờm của tờ Nhật báo phố Wall.

Tiểu sử cá nhân:

Bill O'Neil học chuyên ngành quản trị kinh doanh tại đại học Southern Methodist University, nhận bằng cử nhân năm 1955. Sau khi rời quân ngũ năm 1958, ông khởi nghiệp với vị trí một nhân viên môi giới chứng khoán cho công ty Hayden, Stone & Company và phát triển một chiến lược đầu tư (CANSLIM), chiến lược đã giúp ông trở thành nhân viên môi giới xuất sắc nhất của công ty này.

Những thành công trong công việc môi giới cũng như đầu tư tài chính đã đưa ông đến quyết  định thành lập một công ty môi giới, William O'Neil & Co., Inc, năm 1963. Ở độ tuổi 30, O'Neil trở thành người trẻ nhất từng mua một chỗ trong sàn giao dịch chứng khoán New York (NYSE).

Năm 1983, O'Neil lập ra tờ nhật báo tài chính quốc gia với tên gọi là Investor's Daily, sau này trở thành tờ Investor's Business Daily vào năm 1991. Hiện nay, ông vẫn là CEO của William O'Neil & Co., là chủ tịch và chủ bút của tờ Investor's Business Daily, ngoài ra còn thường xuyên viết và giảng bài về các chủ đề liên quan đến đầu tư trên khắp nước Mỹ.

Phong cách đầu tư

O'Neil kết hợp giữa các chiến lược định tính và định lượng trong triết lý đầu tư hướng kết quả của mình. Nói ngắn gọn, kiểu đầu tư của ông là chỉ tìm kiếm những cổ phiếu tăng trưởng có tiềm năng tăng giá nhanh nhất kể từ thời điểm mua vào.

Về cơ bản, phương châm của Bill O'Neil là "mua con mạnh, bán con yếu". Tiêu chí của ông trong việc xác định cổ phiếu sắp sửa "thăng thiên" được tóm tắt trong cụm từ viết tắt từ những chữ cái đầu tiên CANSLIM:

C - Current quarterly earnings per share: lợi nhuận trên đầu cổ phiếu của quý này phải tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước (tối thiểu là 25%).

A - Annual earnings: lợi nhuận năm tăng với tốc độ tăng trưởng ghép tối thiểu là 25% trong vòng 5 năm qua(P/E không quan trọng, với những cổ phiếu này có thể vào khoàng 25 - 40).

N – New products, new management, and new highs: sản phẩm mới, đội ngũ quản lý mới, giá đạt những mốc cao mới. Đó là những cổ phiếu đáng quan tâm.

S – Supply and demand: cung và cầu, càng có ít cổ phiếu trên thị trường, thì sức mua sẽ càng đẩy giá lên cao hơn. Nên tìm những cổ phiếu chỉ có số lượng lưu hành khoảng 10 -12 triệu.

L – Leaders and laggards: những cổ phiếu dẫn đầu và những cổ phiếu ì ạch, giữ lại những cổ phiếu vượt trội so với thị trường và đẩy những cổ phiếu của các công ty hoạt động kém đi.

I – Institutional ownership: ủng hộ các công ty có sự đầu tư của các nhà đầu tư có tổ chức.

M – Market direction: theo sát chiều hướng biến động của thị trường

Tác phẩm:

     " How To Make Money In Stocks" (1988).
     "24 Essential Lessons For Investment Success"  (1999).
     "The Successful Investor" (2003).

Trích dẫn:

"Khi mà thị trườg có xu hướng đi theo hướng ngược lại với suy nghĩ của đa số mọi người thì tôi có thể nói, 95% những người mà bạn có thể nghe được trên truyền hình đang đưa ra những ý kiến cá nhân. Và các ý kiến cá nhân thì luôn là ... vô dụng còn thị trường thì đáng tin cậy hơn nhiều."

"Toàn bộ bí mật của chuyện thắng thua trên thị trường chứng khoán chỉ đơn giản nằm ở chỗ anh thua lỗ ít nhất có thể khi anh không đúng."

"Những cổ phiếu giá có vẻ cao và rủi ro đối với phần đông mọi người thường lại tăng cao hơn, còn những cổ phiếu giá có vẻ thấp thường lại hạ thấp hơn."

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2011

"Sống sót" qua Thị Trường Con Gấu

Một thị trường con gấu có nghĩa là các cổ phiếu trượt giá ít nhất từ 15 đến 20%, đồng thời tâm lý bi quan bao trùm lấy khắp các sàn giao dịch. Chắc chắn rằng không một nhà đầu tư chứng khoán nào mong muốn những thời kì như vậy xảy ra.
   
Đừng chán nản! Vẫn còn hi vọng! Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn một vài chiến lược đầu tư quan trọng nhất nhằm tối thiểu hóa thua lỗ và thậm chí thu lời trong một thị trường như thế.

Thực tế!

Trước tiên, đầu óc thực tế luôn là một trong những yếu tố quan trọng nhất cần phải có được trong bất kì một cuộc suy thoái kinh tế nào. Hãy nhớ rằng việc thị trường chứng khoán có một vài năm thoái lui là điều hoàn toàn bình thường. Đó chỉ là một phần trong vòng đời kinh doanh mà thôi.

Sau một thị trường con bò (thị trường đi lên), chúng ta sẽ dễ dàng quên đi những thời kì khó khăn. Lấy những năm 1990 làm ví dụ. Đó là thời gian thị trường chứng khoán có những bước tăng trưởng thần kì. Lần lượt trong các năm 1997, 1998 và 1999, S&P 500 leo thêm 33,4%, 28,6% và 21%. Thông thường trong lịch sử, thị trường chỉ tăng trung bình 8 - 10%/năm. Sẽ là rất phi lý nếu cứ trông đợi thị trường sẽ mãi mãi đi lên với tốc độ 20%. Các đợt suy thoái lúc này lúc khác là không thể tránh được.

Nếu bạn là một nhà đầu tư dài hạn (thời gian đầu tư khoảng trên 10 năm), lựa chọn tốt nhất đơn giản là cứ mặc kệ thị trường và tiếp tục với công việc của mình như mọi khi. Với việc mua vào cổ phiếu mà không quan tâm đến giá cả, bạn có thể sẽ mua được cổ phiếu giá rẻ khi thị trường đang đi xuống. Trong dài hạn, chi phí của bạn sẽ được san phẳng dần đi, và cuối cùng bạn sẽ được lợi lớn. Ít nhất đó là lý thuyết.

Đầu tư vào đâu trong một nền kinh tế con gấu?

1. Giả chết!

Trong một thị trường con gấu, con gấu thống trị và con bò không có cơ hội ngóc đầu lên được. Có một câu danh ngôn cổ: Điều tốt nhất nên làm trong một thị trường con gấu là giả chết - đó cũng là lời khuyên trên thực tế khi bạn gặp một con gấu trong rừng. Đánh lại nó chỉ là điều cực kì nguy hiểm và rất thiếu khôn ngoan. Giữ bình tĩnh và không có bất kì một hành động bộc phát nào. Chỉ có như vậy bạn mới có thể tránh được nguy cơ trở thành bữa trưa cho chú gấu.

Giả chết theo nghĩa tài chính có nghĩa là bạn cho một phần lớn danh mục đầu tư của mình ra khỏi sân đấu. Trong một thị trường con bò, không bao giờ được để các khoản tiền nhàn rỗi ở đâu đó bởi như thế nó sẽ chẳng đem lại một nguồn lợi nhuận nào. Điều đó không đúng trong thị trường con gấu bởi tiền mặt sẽ giữ nguyên giá trị của nó (và thậm chí còn có thể sinh một khoản lời nhỏ) trong khi cổ phiếu không ngừng tụt dốc. Khi cơ hội đầu tư tốt đẹp đến, bạn có toàn quyền tự do quyết định có nên mua vào hay không. Tất nhiên, điều này có nghĩa là bạn phải tính toán được thời gian cho các quyết định của mình. Công việc này rất khó khăn, nếu như không muốn nói là hầu như không thể. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ trong một thời kì con gấu, nếu bạn rút tiền ra khỏi thị trường hơi chậm nhịp một chút thì cũng vẫn có thể là một quyết định đúng đắn. Bởi rất có thể con gấu đó sẽ tồn tại trong một thời gian dài.

2. Cổ phiếu giá trị

Các thị trường con gấu có thể đem đến cho các nhà đầu tư những cơ hội tuyệt vời. Cốt lõi là bạn phải biết được bạn đang tìm kiếm cái gì. Thảm bại, sụp đổ và định giá thấp hơn giá trị là những gì chúng ta có thể miêu tả một thị trường con gấu. Thế nhưng, đối với các nhà đầu tư giá trị, một thị trường con gấu là một cơ hội mua vào hiếm có bởi cổ phiếu của các công ty tốt bị đánh tụt xuống ngang hàng với các công ty khác và bị giam cầm ở mức định giá rất hấp dẫn. Tuy nhiên, đầu tư giá trị không phải là một nghệ thuật. Không phải tất cả các cổ phiếu trên thị trường con gấu đều là các món hời. Giai đoạn con gấu là thời kì khi các cổ phiếu có giá trị thật sự xuất hiện và chứng tỏ được mình. Warren Buffett là một ví dụ. Warren thường xây dựng được chỗ đứng của mình đối với một vài loại cổ phiếu ưa thích trong những giai đoạn không thể coi là vui vẻ bởi ông biết buồn vui thất thường là bản chất của thị trường. Và cái bản chất đó có thể sẽ không chỉ bảo vệ các công ty tốt mà đôi khi nó còn đánh vào các cổ phiếu tốt mạnh hơn các cổ phiếu khác.

3. Bán khống (Kinh doanh chứng khoán nhờ giá giảm)

Một cách tiếp cận khác đối với thị trường con gấu là áp dụng một chiến lược hùng hổ hơn nữa. Kinh doanh chứng khoán nhờ giá chứng khoán giảm (short-sale) cho phép nhà đầu tư vẫn thu được lợi nhuận gây cả khi thị trường đang đi xuống. Luôn ghi nhớ rằng khả năng một mình đi ngược lại được thị trường để thu về lợi nhuận luôn song hành với những rủi ro không nhỏ. Về mặt lý thuyết, bán khống rất có thể khiến bạn mất trắng toàn bộ số tiền đầu tư ban đầu nếu giá cổ phiếu bạn chọn đi lên.

4. Phân bổ tài sản và trái phiếu

Chiến lược phân bổ tài sản khẳng định được vị thế của mình trong suốt các thời kì thị trường chứng khoán đi xuống. Khi nền kinh tế đang bùng nổ, các nhà đầu tư có thể tự lên án mình vì không bỏ hết nguồn vốn vào chứng khoán. Thế nhưng việc làm đó sẽ là điều hoàn toàn đúng đắn trong thời kì khó khăn của nền kinh tế và trong trào lưu đi xuống của thị trường chứng khoán. Phân chia tỉ lệ nguồn vốn của bạn vào cổ phiếu, trái phiếu, tiền mặt và các loại tài sản khác chính là gốc rễ của việc đa dạng hóa đầu tư. Cách thức phân chia như thế nào phụ thuộc vào mức độ ưa thích rủi ro, các mục tiêu và thời gian đầu tư của bạn… Mỗi một nhà đầu tư có một danh mục đầu tư hoàn toàn khác biệt.

5. Cổ phiếu phòng thủ


Có những loại cổ phiếu luôn xu hướng khá ổn định và hoạt động tốt hơn thị trường vào những thời gian khó khăn. Chúng được biết đến với cái tên "Cổ phiếu phòng thủ" (Defensive Stocks), hay "Cổ phiếu phi chu kì" bởi có thể ví von chúng như những tấm lá chắn bảo vệ cho danh mục đầu tư của bạn khi thị trường chứng khoán trượt dốc. Ở đây chúng ta đang nói đến các công ty cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mà người tiêu dùng, chính phủ và toàn bộ nền kinh tế nói chung luôn luôn cần đến, bất kì mưa nắng. 

Một ví dụ điển hình là các loại sản phẩm tiaêu dùng ngắn hạn trong hộ gia đình (những thứ rất nhanh bị tiêu dùng hết) như dầu gội, thuốc đánh răng, kem cạo râu…Khi nền kinh tế ngoài kia đang bùng nổ, mọi người vẫn cần phải đánh răng, gội đầu và cạo râu. Và khi nền kinh tế đang thoái lui, những điều trên vẫn là một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Do đó, các cổ phiếu phòng thủ đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn cổ phiếu cho danh mục của mỗi nhà đầu tư.

Kết luận

Từ tất cả các lưu ý mà bài viết đã đưa ra, chúng ta có thể tóm gọn lại: Sự cẩn trọng là chìa khóa của trò chơi! Rút vốn ra ngoài cuộc đấu và đầu tư vào trái phiếu, các cổ phiếu giá trị hay các cổ phiếu phòng thủ (tùy từng điều kiện cụ thể), bạn sẽ có thể sẵn sàng và ung dung thoát ra khỏi thời kì thị trường con gấu. Luôn luôn thực tế và tránh xa hoảng loạn, lo sợ vu vơ sẽ giúp bạn bảo vệ các tài sản của mình khỏi móng vuốt của con gấu. 



Theo vnbourse

Phương thức đầu tư giá trị của Benjamin Graham

Nhà đầu tư giá trị (value investor) được định nghĩa một cách nôm na là những người tìm kiếm cổ phiếu giá hời. Hời ở đây có nghĩa là thị trường định giá cổ phiếu thấp hơn giá trị của nó. Có nhiều cách để tìm cổ phiếu hời. Cách thứ nhất là dùng những tiêu chuẩn để chọn lọc. Cổ phiếu nào qua được màng lọc này là cổ phiếu đáng để đầu tư. Chiến lược này vì thế được gọi là chiến lược đầu tư giá trị bằng cách chọn lọc thụ động (passive screening value investing). Cách thứ hai là chiến lược đầu tư giá trị nội tại (intrinsic value investing), nhà đầu tư mua vào cổ phiếu khi thị giá thấp hơn giá trị nội tại do họ (hay tư vấn của họ) ước tính. Cách thứ ba là đầu tư vào những cổ phiếu mà hầu như không ai dòm ngó đến vì kết quả kinh doanh kém, vì giá quá thấp. Đây là chiến lược đầu tư giá trị - đối nghịch (contrarian value investing). Cách thứ tư là cách của các nhà đầu tư chủ động (activist value investing). Họ đầu tư vào những cổ phiếu có tiềm năng nhưng có giá trị thấp do việc quản lý, điều hành của công ty yếu. Sau khi đầu tư, họ sẽ thay đổi cách quản lý, bởi họ có vốn đủ lớn để ảnh hưởng đến việc điều hành và quản trị của công ty. 

Chiến lược đầu tư giá trị Benjamin Graham, người thành công trong nhiều vai trò như nhà phân tích tài chính, nhà đầu tư, giảng viên, là đồng tác giả cuốn sách Security Analysis (phân tích chứng khoán). Đây là cuốn sách đặt nền tảng cho trường phái đầu tư giá trị và là sách gối đầu giường cho những nhà đầu tư dài hạn.

Trong cuốn sách này, Benjamin Graham đã đưa ra 10 tiêu chuẩn để chọn cổ phiếu:

1 - Tỷ số lợi nhuận/thị giá (E/P) cao gấp đôi lãi suất trái phiếu xếp hạng AAA (AAA là hạng mức tín dụng cao nhất dành cho trái phiếu của các công ty).
2 - P/E của cổ phiếu thấp hơn hoặc bằng 40% so với P/E của toàn thị trường.
3 - Tỷ suất cổ tức/giá của cổ phiếu (dividend yield) lớn hơn 2/3 của lãi suất trái phiếu xếp hạng AAA.
4 - Giá trị vốn hóa của công ty nhỏ hơn 2/3 giá trị sổ sách của tài sản hữu hình.
5 - Giá trị vốn hóa của công ty nhỏ hơn 2/3 giá trị tài sản lưu động ròng.
6 - Tỷ số nợ/vốn chủ sở hữu theo giá trị sổ sách nhỏ hơn 1.
7 - Tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn ít nhất 2 lần.
8 - Toàn bộ nợ nhỏ hơn 2 lần giá trị tài sản lưu động ròng.
9 - Tỷ suất lợi nhuận trên cổ phiếu (EPS) tăng trưởng 7%/năm trở lên trong vòng 10 năm qua.
10 - Công ty có sự tăng trưởng lợi nhuận hàng năm ít nhất 7 lần trong vòng 10 năm qua.

Cổ phiếu nào vượt qua 10 điều kiện sàng lọc trên, theo Benjamin Graham, là những cơ hội đầu tư giá trị tuyệt vời. Nhà nghiên cứu Henry Oppenheimer đã phân tích kết quả của những cổ phiếu đạt 10 tiêu chuẩn của Benjamin Graham trong giai đoạn 1974 - 1981, kết quả là tỷ suất lợi nhuận của những cổ phiếu này cao gấp nhiều lần tỷ suất lợi nhuận của những cổ phiếu khác trên thị trường. Một số người sử dụng 10 tiêu chuẩn này nhưng nội dung có khác đi đôi chút nhằm phù hợp với hoàn cảnh thị trường hay theo ngành đặc thù. Chúng ta cũng có thể làm tương tự như vậy để áp dụng tại thị trường Việt Nam.

Ngoài 10 tiêu chuẩn chọn lọc trên, Benjamin Graham còn có 8 phương châm về đầu tư giá trị và một công thức tính giá trị cổ phiếu mang dấu ấn riêng của ông. Tác giả Janet Lowe, trong cuốn sách viết về tiểu sử của Benjamin Graham, đã tổng kết 8 phương châm như sau:

1 - Hãy là một nhà đầu tư, đừng là một nhà đầu cơ. Benjamin Graham định nghĩa nhà đầu tư là người mua và sở hữu cổ phiếu dài hạn, trong khi nhà đầu cơ tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn

2 - Quan trọng nhất là mua với giá bao nhiêu. Mua cổ phiếu của một công ty tốt nhất thị trường về hoạt động, về các chỉ số tài chính vẫn có thể là một đầu tư sai hoặc không hiệu quả nếu chúng ta mua với giá quá cao.

3 - Truy tìm những cơ hội giá hời. Thị trường sẽ luôn có lỗi trong việc định giá cổ phiếu.

4 - Luôn thận trọng với những con số tài chính do công ty cung cấp. Thỉnh thoảng vẫn có những công ty cố tình không đạo đức.

5 - Đa dạng hoá đầu tư. Đừng quá tập trung vào một số ít cổ phiếu.

6 - Hãy thực hiện quyền cổ đông của mình. Nhiều nhà đầu tư đã không thực hiện quyền cổ đông của mình mà bỏ ngỏ công ty cho các nhà điều hành. Nhà điều hành đôi khi hành động theo lợi ích của họ, hay lợi ích của một nhóm cổ đông nào đó, mà không hoạt động vì lợi ích của cả công ty.

7 - Hãy kiên nhẫn. Phương châm này củng cố phương châm 1.

8 - Phải có tính kỷ luật. Chỉ mua cổ phiếu khi thị giá thấp hơn giá trị được xác định theo công thức sau: Giá trị = EPS x (2 x tốc độ tăng trưởng năm + 8,5) x Lãi suất TPCP/lãi suất trái phiếu AAA. Ví dụ: Một cổ phiếu có EPS là 3 USD, tăng trưởng 10% năm, trong khi đó lãi suất trái phiếu chính phủ là 5% và lãi suất trái phiếu của công ty xếp hạng tín dụng AAA là 6%. Giá trị của cổ phiếu này sẽ là: Giá trị = 3 x (2 x 10 + 8,5) x 5/6 = 71,25 USD.

Theo Benjamin Graham, chúng ta chỉ nên mua cổ phiếu này khi thị giá thấp hơn 71,25 USD. Lưu ý: nếu áp dụng trên TTCK Việt Nam, chúng ta có thể tạm giả sử rằng, lãi suất trái phiếu công ty xếp hạng AAA sẽ cao hơn 1,5% so với lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm (đây là gợi ý của riêng tác giả). Nghĩa là, nếu lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm là 8% thì lãi suất trái phiếu AAA có thể tạm ấn định ở mức 9,5%. Về tỷ số 8,5, chúng ta cũng có thể thay đổi cho phù hợp. Nhà đầu tư thận trọng có thể dùng 8,5, nhưng nhà đầu tư không ngại rủi ro có thể áp dụng ở mức 9, tối đa là 9,5.

Theo moigioichungkhoan

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2011

Các chiến thuật kinh doanh cổ phiếu - Bài học từ những nhà kinh doanh cổ phiếu thành công nhất

Dưới đây là một số chiến thuật của những nhà kinh doanh cổ phiếu lớn tại thị trường Mỹ, được đúc kết trong cuốn “Những bài học từ những nhà kinh doanh cổ phiếu thành công nhất” của John Boik, và cuốn “21 sự thật về kinh doanh cổ phiếu” của John Hayden.

1. Chiến thuật kinh doanh “không cảm xúc” và “phân tích cơ bản” của Bernard Baruh

Bernard Baruh, xuất thân là nhân viên văn phòng của một công ty môi giới chứng khoán, là một nhà kinh doanh cổ phiếu thành công. Ông kiếm được bộn nhờ vào dự đoán sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ vào năm 1907 và 1929. Không chỉ là một nhà kinh doanh cổ phiếu thành công, ông còn làm việc cho chính phủ của Tổng thống Woodrow Wilson. 

Bernard Baruh quan niệm rằng thị trường chứng khoán phản ảnh tình hình kinh tế, chứ thị trường chứng khoán không quyết định được nền kinh tế. Và ông cũng tin tưởng mãnh liệt rằng, kết quả kinh doanh được quyết định bởi tâm lý của những người kinh doanh cổ phiếu. 

Ông sử dụng cái đầu “lạnh”, chứ không để cảm xúc len vào khi kinh doanh chứng khoán. Ông là người đầu tiên đưa ra chiến lược phân tích cơ bản trong kinh doanh. Trong đó ông nhấn mạnh đến ba yếu tố: độ lớn tài sản của công ty, giá trị của sản phẩm đối với người mua, và năng lực của ban lãnh đạo, trong việc chọn cổ phiếu của mình.

2. Chiến thuật “Kim tự tháp” và “Thăm dò” của Jess Livermore

Jess Livermore, xuất thân từ nhân viên của một công ty chứng khoán, là người có những chuỗi thành công và cả thất bại lớn trên thị trường kinh doanh chứng khoán. Ông cũng kiếm được cả núi tiền nhờ vào việc tiên đoán sự sụp đổ của thị trường vào năm 1907 và 1929. Tuy vậy, năm 1940, ngay sau khi ông viết cuốn sách nổi tiếng “How to Trade in Stocks”, ông bị thất bại, phá sản và tự tử. 

Chiến thuật “Kim tự tháp” do ông phát triển (mua vào nhiều hơn những cổ phiếu đang tăng giá và bán ra những cổ phiếu đang rớt giá), là một trong những chiến thuật được các nhà kinh doanh cổ phiếu áp dụng cho đến bây giờ. Chiến thuật thứ hai là “Thăm dò”, theo đó ông thực hiện việc mua có tính cách thăm dò một số cổ phiếu. Sau một thời gian ngắn, dựa vào hiệu quả lợi nhuận của những cổ phiếu thăm dò này, hoặc là ông bán hẳn; còn không thì sẽ mua thật nhiều để đưa vào kim tự tháp của mình. Jess Livermore, cũng giống như phần lớn các nhà kinh doanh cổ phiếu lớn khác, quyết định dựa vào nghiên cứu và phân tích của bản thân, chứ ít khi dựa vào tư vấn của các chuyên gia, hay các công ty tư vấn.

3. Chiến thuật “kinh doanh tập trung” và “hành động nhanh” của Gerald M. Loeb

Thừa hưởng một lượng tài sản lớn, Gerald Loeb có nhiều thuận lợi hơn các nhà kinh doanh, đầu tư khác. Một điều khá lý thú là vào năm khi Benjamin Graham - một trong những “ông tổ” về đầu tư, viết cuốn “Phân tích chứng khoán”, kêu gọi các nhà đầu tư mua cổ phiếu và giữ lại để được nhận giá trị thật của cổ phiếu trong tương lai, thì Gerald M. Loeb viết cuốn “Chiến đấu cho sự tồn tại trên trị trường chứng khoán” với quan điểm hoàn toàn đối nghịch. 

Ông quan niệm rằng, các nhà kinh doanh phải hết sức năng động trong việc mua bán, và thị trường là chiến trường. Trái với quan điểm truyền thống của đầu tư là đa dạng hóa danh mục đầu tư, chiến thuật của ông là “kinh doanh tập trung”, tức là chỉ mua một số loại cổ phiếu sau khi đã lựa chọn kỹ càng và chấp nhận rủi ro của những cổ phiếu đó. 

Chiến thuật thành công thứ hai của ông là “hành động nhanh”. Ông luôn quyết định mua và bán thật nhanh trước khi những diễn biến lớn xảy ra.

4. Chiến thuật “Kỹ thuật và cơ bản” và “lý thuyết hộp” của Nicolar Darvas

Nicolar Darvas là một nhà kinh doanh nghiệp dư. Nghề nghiệp chính của ông là vũ công. Thế nhưng, với sự tập trung cao độ vào kinh doanh, ông đã kiếm được 2 triệu đô la, đó là số tiền lớn vào những năm 50 của thế kỷ trước. 

Ông là người phát triển lý thuyết hộp. Theo lý thuyết này, giá cổ phiếu lên và xuống trong những giới hạn nhất định, và tạo ra một cái “hộp”. Đến một thời điểm nào đó, giá của cổ phiếu sẽ vượt qua cái hộp này, và tạo ra một cái “hộp” mới. Mua vào những cổ phiếu ngay giai đoạn nó thoát ly cái hộp cũ sẽ tạo ra những lợi nhuận cao. 

Ông cũng là người đề ra phương pháp phân tích kỹ thuật - phối hợp với cơ bản. Tuy quan tâm cả hai, nhưng ông nghiêng về yếu tố kỹ thuật - chuyển động của giá, và số lượng cổ phiếu mua bán - hơn là yếu tố cơ bản - tình hình kinh doanh và năng lực quản lý của công ty.

5. Chiến lược CANSLIM của William J. O’Neil

Xuất thân là một người môi giới chứng khoán, William O’Neil trở thành nhà kinh doanh thành công và vẫn tiếp tục kinh doanh cho đến bây giờ. Ông là người sáng lập tờ Investor’s Business Daily và viết nhiều sách về đầu tư và kinh doanh cổ phiếu. 

Ông là người phát triển lý thuyết kinh doanh chứng khoán gọi là CANSLIM. Theo lý thuyết này của ông, giá một cổ phiếu sẽ chuẩn bị tăng khi có một hay nhiều đặc điểm sau đây:

C - Current Quarter: Lợi nhuận trong quí tăng trưởng ít nhất 25%.
A - Annual Earning: Lợi nhuận năm tăng trưởng so với ba năm trước ít nhất 25%.
N - New Factors: Yếu tố mới, chẳng hạn sản phẩm mới, quản lý mới.
S - Supply and Demand: Khi lượng cổ phiếu giao dịch tăng cao.
L - Leader or Laggard: Giá cổ phiếu đi theo khuynh hướng những cổ phiếu hàng đầu.
I - Institutional Sponsorship: Khi các nhà đầu tư tổ chức mua và sở hữu.
M - Market Direction: Khi có 75% số cổ phiếu trên thị trường đi theo xu hướng của nó.


Theo vnexpress/Thời báo kinh tế Sài Gòn

Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2011

Bí quyết đầu tư của ông trùm chứng khoán

Nhắc đến những "ông trùm" trên thị trường chứng khoán thế giới, hẳn nhiều người trong chúng ta sẽ nghĩ ngay đến tỷ phú Warren Buffett, người đứng thứ ba trong danh sách những tỷ phú giàu nhất thế giới. Vậy điều gì đã giúp ông làm nên sự thành công? Dưới đây là những bí quyết trong đầu tư chứng khoán của người đàn ông đáng kính này.

1. Đầu tư vào công ty chứ không đầu tư vào cổ phiếu

Warren Buffett quan niệm rằng cổ phiếu chỉ là tờ giấy chứng nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty đó. Ông không đầu tư vào cổ phiếu, mà đầu tư vào công ty. Nói một cách khác, ông hoàn toàn không quan tâm đến việc mua đi bán lại cổ phiếu trong thời gian ngắn. Thay vào đó, ông áp dụng chiến lược “buy and hold” - mua và giữ - nghĩa là ông sẽ giữ cổ phiếu trong thời gian dài, rất dài và đôi khi giữ luôn nếu đó là những công ty ông xác định là chiến lược của mình.


2. Đầu tư theo giá trị thực

Warren Buffett chịu ảnh hưởng sâu sắc của Benjamin Graham - người tiên phong về đầu tư theo giá trị. Ông cho rằng về lâu dài giá thị trường của cổ phiếu sẽ phản ảnh giá trị nội tại của nó. Do đó những cổ phiếu tốt là những cổ phiếu đang được thị trường định giá thấp (underpriced).
Theo ông, khoảng cách giữa giá thị trường và giá trị nội tại này càng lớn thì biên độ an toàn, cũng như lợi nhuận mà nhà đầu tư nhận được từ cổ phiếu sẽ càng cao. Để có lợi nhuận, phải tính được giá trị thật hay giá trị nội tại của cổ phiếu hay công ty đó. Các nhà đầu tư nổi tiếng khác như Benjamin Graham, đôi khi đưa ra những công thức xác định giá trị thực theo kiểu của mình, dĩ nhiên dựa vào những công thức cơ bản. Riêng Warren Buffett thì không đưa ra một công thức cụ thể nào của riêng ông. Do đó, theo một số tác giả, công thức tính giá trị thực của ông là một bí ẩn. Tuy vậy, theo phần lớn các tác giả và nhà nghiên cứu khác, Buffett sử dụng nguyên tắc xác định giá trị thật cơ bản như những nhà đầu tư, phân tích tài chính khác.
Cái khác duy nhất làm cho ông thành công là ông nghiên cứu rất kỹ và rất sâu từng công ty ông sắp đầu tư. Ông đã từng nói: “Để là nhà đầu tư thành công, chúng tôi đọc hàng trăm, hàng trăm báo cáo thường niên của các công ty”. Ngoài những chỉ số tài chính, ông còn quan tâm hết sức đặc biệt đến vị trí, lợi thế cạnh tranh của công ty và năng lực của ban lãnh đạo.
Những câu hỏi Warren Buffett đặt ra trước khi quyết định chọn công ty/cổ phiếu để đầu tư như công ty có phát triển tốt không, có lợi thế cạnh tranh không? Warren Buffett chỉ muốn mua cổ phiếu của công ty có lợi thế cạnh tranh cao; là công ty dẫn đầu thị trường của ngành kinh doanh chính của nó hoặc là có thương hiệu được khách hàng đánh giá cao.
Ông không muốn đầu tư vào những công ty không có lợi thế cạnh tranh. Ông còn xét xem công ty mà ông sắp đầu tư có nguy cơ bị công ty lớn mạnh khác nhảy vào cạnh tranh hay không. Ông là người sáng chế ra từ “economic moat” ngụ ý công ty đó có lợi thế cạnh tranh và tạo ra “hàng rào” ngăn cản sự cạnh tranh của các công ty khác.

Warren Buffett luôn đặt ra cho mình những câu hỏi

- Công ty đó có mô hình kinh doanh đơn giản không? Ông chỉ đầu tư vào các công ty có mô hình đơn giản, dễ hiểu, không quá phức tạp. Ông chỉ đầu tư vào những ngành mà ông biết rất rõ. Lợi nhuận công ty tốt, tăng trưởng ổn định không?
- Tỷ số nợ trên vốn có thấp không? Tỷ số lợi nhuận trên nợ có cao không? Giả sử lợi nhuận không đạt được mức kỳ vọng, công ty có khả năng trả được nhũng món nợ đến hạn không?
- Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư có tốt không? Đây là một trong những chỉ số mà Buffett đặc biệt quan tâm. Ông chỉ đầu tư vào những công ty tạo ra mức lợi nhuận tốt.
- Chi phí vận hành của công ty có ở mức chấp nhận được hay không?
- Dòng tiền mặt để đầu tư có đủ lớn để tạo ra lợi nhuận và sự tăng trưởng?
- Công ty có giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư hay không? Việc công ty chia cổ tức hay không chia cổ tức là một trong những điểm khác biệt giữa Benjamin Graham và Warren Buffett. Benjamin Graham cho rằng công ty nên chia cổ tức cho nhà đầu tư. Đối với ông, cổ tức được chia tốt hơn cổ tức được giữ lại trong công ty. Trong khi đó, Warren Buffett muốn công ty giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư. Ông cho rằng, nếu như công ty đang làm ra lợi nhuận tốt - bằng hay cao hơn mức lãi suất mong muốn - thì công ty nên giữ lợi nhuận lại để tái đầu tư. Khi đó công ty sẽ trở thành một máy in tiền với tốc độ ngày càng tăng cao nhờ hiệu ứng tuyệt vời của lãi suất kép.
- Ban lãnh đạo có giỏi, có tầm nhìn, có bề dày thành tích về quản lý kinh doanh, có đạo đức không? Buffett chỉ đầu tư vào những công ty ông tin rằng ban lãnh đạo có năng lực.

Chọn thời điểm mua

Buffet không bao giờ vội vã mua những cổ phiếu có biên độ an toàn không rõ ràng. Thường thì ông sẽ đợi khi thị trường vào giai đoạn điều chỉnh hoặc khi thị trường đang thời kỳ giảm giá mạnh. Khi đó ông sẽ mua được cổ phiếu của công ty với giá thấp hơn giá trị nội tại của nó. Phương pháp đầu tư đơn giản này đã giúp ông thành công lớn và trở thành một trong những người có tài sản lớn nhất thế giới. Nó cũng giúp ông thoát được tổn thất trong những giai đoạn mà hầu hết mọi người đều bị thiệt hại, ví dụ như giai đoạn cổ phiếu các công ty Internet bùng nổ và sụp đổ. Tuy vậy, ông bị một số người phê bình là quá thận trọng và vì thế đã bỏ qua những cơ hội lớn.

Không quan tâm

Với chiến lược đầu tư nói trên Warren Buffett không quan tâm nhiều đến sự lên xuống của giá cả thị trường chứng khoán cũng như chu kỳ kinh tế. Nói đúng hơn ông chỉ quan tâm đến việc lên xuống giá khi ông chọn thời điểm mua. Khi đã mua rồi, ông không quan tâm đến sự lên xuống của giá nữa.
Một điểm nữa khá đặc biệt là ông rất ít quan tâm đến việc đa dạng hóa danh mục đầu tư. Nhiều nhà đầu tư đã nghiên cứu và thực hiện thành công các phương pháp đa dạng hóa danh mục đầu tư tức là chọn nhiều cổ phiếu của các công ty khác nhau, ngành khác nhau có tác dụng bổ sung, tương hỗ nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất có thể trong khi giảm rủi ro đến mức thấp nhất. Warren Buffett không theo trường phái đa dạng hóa này. Ông cho rằng nếu đã chọn được doanh nghiệp tốt để đầu tư thì sẽ đạt lợi nhuận cao và rủi ro thấp. Việc đa dạng hóa danh mục đầu tư, tức là chọn thêm những cổ phiếu khác vào danh mục đầu tư sẽ giảm lợi nhuận cao tạo ra từ công ty/cổ phiếu chính yếu.
Theo ông, nếu “lỡ” đầu tư vào doanh nghiệp có lãi suất thấp hơn kỳ vọng, thì hãy rút ra càng sớm càng tốt, vì càng để lâu, nhà đầu tư càng bị lỗ và vì thế mất cơ hội đầu tư ở công ty tốt. Còn nếu đã đầu tư đúng công ty làm ăn hiệu quả, thì đừng rút tiền gốc và cổ tức ra khỏi doanh nghiệp. Càng để lâu bao nhiêu thì lợi nhuận sinh ra càng cao bấy nhiêu.

Những câu nói hay

“Luật số 1: Đừng bao giờ thua lỗ. Luật số 2: Không được bao giờ quên luật số 1”. Nguyên tắc này khác hẳn với nguyên tắc cơ bản của các nhà kinh doanh cổ phiếu thành công: phải biết chấp nhận thắng và thua.  
“Giá là những gì chúng ta phải trả. Giá trị là những gì chúng ta nhận được”.  
“Nếu là nhà đầu tư bạn hãy tập trung vào việc công ty đó sẽ hoạt động kinh doanh như thế nào. Nếu là nhà đầu cơ, bạn hãy quan tâm đến giá thị trường của nó, và đó không phải là cách làm hay cuộc chơi của chúng tôi”.
“Nguyên tắc để làm giàu: Hãy sợ hãi khi những người khác tham lam. Hãy tham lam khi những người khác sợ hãi”.
Theo ông khi số đông “tham lam” sẽ đẩy giá cổ phiếu lên quá cao, vượt qua giá trị thật. Còn khi số đông sợ hãi sẽ đẩy giá cổ phiếu xuống tạo ra những cổ phiếu có biên độ an toàn, và lợi nhuận trong tương lai cao.
“Thời gian là kẻ thù của những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và là bạn của doanh nghiệp đang ăn nên làm ra. Nếu doanh nghiệp bạn đầu tư có tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu 20-25%, thời gian là bạn của bạn. Nếu tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp thấp hơn mức bạn mong muốn thì thời gian là kẻ thù của bạn”.
Theo infotv

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

Marc Faber: Hãy đầu tư theo “quy tắc 25”

Ông cho rằng, một nhà đầu tư riêng lẻ có thể làm đầy túi tiền trong bối cảnh kinh tế khủng hoảng bằng cách phân bổ tài sản đều vào chứng khoán, bất động sản, vàng và tiền mặt.
Nhà đầu tư lừng danh Marc Faber tin rằng, điều tốt nhất mà nhà đầu tư có thể làm trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay là tuân theo quy tắc 25 của ông.
Ông chủ của tạp chí Gloom Boom & Doom cho rằng, một nhà đầu tư riêng lẻ có thể làm túi tiền của mình đầy thêm bằng cách đưa 25% vốn đầu tư vào chứng khoán, 25% vào bất động sản, 25% vào vàng và 25% còn lại ở dạng tiền mặt. Trường hợp chứng khoán, bất động sản và giá vàng giảm thêm 10 – 20% thì nên giảm đầu tư ở các danh mục này mà tăng giữ tiền mặt.

Marc Faber hiện tại vẫn lạc quan vào giá vàng trong tương lai nhưng không quên cảnh báo xu hướng sụt giảm ngắn hạn bởi sự điều chỉnh từ mức đỉnh thiết lập đầu tháng 9.
“Mọi người nên tích lũy vàng theo thời gian. Tôi không nói rằng hôm nay là thời điểm tốt để mua vàng, nhưng tôi muốn mọi người cân nhắc mua vàng hàng tháng”, Faber nói.
Nhà đầu tư này đồng thời dự báo đồng USD sẽ suy yếu đáng kể do chính quyền Mỹ phản ứng với mức nợ công gia tăng, hay nói cách khác là chính phủ sẽ in thêm tiền để hỗ trợ nền kinh tế.
Nguyễn Hằng
Theo TTVN/Reuters