Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân vật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân vật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 5 tháng 12, 2011

Những nhà đầu tư vĩ đại nhất thế giới: John Templeton

Năm 1939, khi nước Đức của Hitle tàn phá châu Âu, John Templeton đã bỏ ra 100$ mua mỗi loại cổ phiếu được bán ở mức giá dưới $1 trên sàn giao dịch chứng khoán New York(NYSE) và sàn giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ (AMEX). Trong thương vụ này, Templeton đã đầu tư vào tổng cộng 104 công ty, trong đó 34 công ty đang trong tình trạng phá sản, với tổng số tiền 10,400 USD. Bốn năm sau, ông bán lại số cổ phiếu này và thu được hơn 40,000 USD! 

Tiểu sử

John Templeton sinh ra trong một gia đình nghèo ở Tennesee. Nhờ học bổng, ông đã theo học kinh tế học ở trường Yale và tốt nghiệp với vị trí đầu lớp năm 1934. Ông tiếp tục theo học Oxford bằng học bổng Rhodes Scholar và lấy được bằng thạc sĩ về ngành luật năm 1936. Trở về Mỹ, ông lên New York làm nhân viên tập sự cho Fenner & Beane, một trong các hãng tiền thân của Merrill Lynch.

Templeton mở công ty quản lý đầu tư đầu tiên của chính mình Templeton, Dobbrow & Vance, trong vũng sâu của cuộc Đại suy thoái năm 1937. Công ty quản lý đầu tư này khá thành công, tài sản tăng lên 300 triệu USD với 8 quỹ tương hỗ dưới sự quản lý của nó. Tên công ty sau đó được đổi thành Templeton Damroth và được bán đi năm 1968, vào thời điểm ông bắt đầu lại từ đầu với quỹ Templeton Growth Fund của chính mình, đặt trụ sở tại Nassau, Bahamas.

Trong vòng 25 năm sau đó, Templeton đã tạo ra một số trong những quỹ đầu tư quốc tế lớn nhất và thành công nhất. Ông bán lại các quỹ mang tên Templeton năm 1992 cho tập đoàn Franklin Group. Năm 1999, tạp chí Money bầu ông là "người lựa chọn cổ phiếu đầu tư vĩ đại nhất thế kỷ." Templeton còn được Nữ hoàng ElizabethII phong tước hiệp sĩ vì những thành tựu của mình.

Sau khi nghỉ hưu, Templeton trở thành một nhà hoạt động từ thiện rất tích cực trên khắp thế giới qua quỹ John Templeton Foundation, quỹ đã tài trợ rất nhiều cho các nghiên cứu về tinh thần và khoa học.

Phong cách đầu tư


Là một trong những nhà đầu tư ngược xu thế hàng đầu của thế kỷ XX, John Templeton được giới đầu tư coi là người đã "mua cổ phiếu dưới đáy của cuộc Đại suy thoái, bán ở đỉnh của thời kỳ bùng nổ Internet và có vô số vụ đầu tư thành công khác giữa hai thời kỳ này."

Phong cách đầu tư của ông có thể được tóm tắt là tìm kiếm những cổ phiếu giá trị, mà ông gọi là "săn món hời," bằng cách tìm kiếm trong số nhiều công ty ở nhiều nước khác nhau thay vì chỉ một nước. Châm ngôn đầu tư của Templeton là "tìm các công ty trên khắp thế giới có giá thấp và triển vọng dài hạn tuyệt vời."

Là một nhà đầu tư giá trị - đầu tư ngược xu thế, Templeton tin rằng những cổ phiếu được coi là "món hời" là những cổ phiếu hoàn toàn bị bỏ qua, những cổ phiếu mà các nhà đầu tư khác thậm chí không buồn nghiên cứu về nó. Liên quan đến mặt này, ông có một lợi thế mà không phải nhà đầu tư cá nhân nào cũng có, đó là ông sống ở Lyford Cay, Bahamas. Lyford Key Club là nơi những doanh nhân từ khắp nơi trên thế giới đến sinh sống. Tepleton có thể dễ dàng trao đổi ý kiến với các doanh nhân này trong một bầu không khí rất dễ chịu, mà ông cho là tốt hơn hẳn làm việc với mạng lưới các đầu mối ở phố Wall, những người có lượng thông tin hạn chế và luôn muốn bán cho ông một cái gì đó. Không giống nhà đầu tư huyền thoại bạn ông là Phillip Fisher, Templeton biết khai thác có hệ thống vô số mối quan hệ của ông để có được những dữ liệu đầu tư khách quan và giá trị, liên quan đến điều kiện thị trường và mục tiêu đầu tư trên khắp thế giới.

Tác phẩm

    * "Spiritual Investments: Wall Street Wisdom From The Career Of Sir John Templeton" của Gary D. Moore (1998)
    * "Golden Nuggets From Sir John Templeton" 1997)
    * "21 Steps To Personal Success And Real Happiness" viết cùng James Ellison (1992)

Trích dẫn

"Để có thể thực sự thành công trên thị trường chứng khóan bạn phải là một nhà phân tích cơ bản."

"Hãy đầu tư ở điểm mà thị trường bi quan nhất."

"Nếu anh muốn có kết quả đầu tư tốt hơn số đông, anh phải hành động khác họ."

Khi được hỏi về việc sống và làm việc tại Bahamas trong suốt quá trình ông điều hành tập đoàn Templeton, ông trả lời, "Tôi nhận thấy, kết quả đầu tư cho các đối tác của tôi khi làm việc ở đây tốt hơn hẳn khi làm việc tại 30 Rockerfeller Plaza. Khi bạn ở Manhattan, rất khó để đi ngược lại số đông."

(st)

Xem thêm:

Những nhà đầu tư vĩ đại nhất thế giới: William J. O'Neil

Những Nguyên Tắc Kinh Doanh Cổ phiếu của William J. O’Neil

Nicolas Darvas: Nhà kinh doanh chứng khoán kỳ tài

Nhà quản lý tiền số một thế giới: Peter Lynch

Top 10 nhà đầu tư xuất sắc nhất trong lịch sử tài chính


Bạn có thể xem thêm nếu bạn muốn:

Hãy đầu tư nhiều hơn cho cuộc đời mình

Warrent Buffet - cái tên luôn nằm trong top đầu danh sách những người giàu có nhất hành tinh - nói rằng: “Đừng dùng thẻ tín dụng, tất cả những gì bạn cần làm là tập trung đầu tư cho chính bản thân mình”.  

Nhà tỷ phú nổi tiếng của thế giới đã làm giàu như thế nào và cuộc sống thường nhật của ông ra sao? Hãy xem lối sống giản dị của một trong những người giàu nhất thế giới:

1. Ông bắt đầu mua cổ phiếu năm 11 tuổi và đến giờ ông vẫn cảm thấy hối tiếc vì đã không mua sớm hơn.

2. Ông đã mua một trang trại nhỏ vào năm 14 tuổi bằng số tiền dành dụm được từ việc giao báo.


3. Ông vẫn sống trong một căn nhà nhỏ với 3 phòng ngủ ở ngoại vi thành phố Omaha. Ông mua căn nhà này cách đây 50 năm, sau khi ông vừa kết hôn. Ông cảm thấy mình sống thật đầy đủ và tiện nghi trong căn nhà ấy, và nhà ông không hề có tường rào để bảo vệ.

4. Ông luôn tự lái xe và không hề thuê tài xế hay bất kỳ một người nào để bảo vệ ông.

5. Ông không bao giờ sử dụng phi cơ riêng mặc dù ông sở hữu một công ty sản xuất phi cơ lớn nhất thế giới.

6. Tập đoàn Berkshire Hathaway của ông đang điều hành đến 63 công ty con. Hàng năm, ông chỉ viết một lá thư để liên lạc với các giám đốc điều hành của 63 công ty này để hoạch định mục tiêu hoạt động trong năm.

Ông không bao giờ triệu tập họp mặt hay gọi điện cho họ theo định kỳ như các tập đoàn khác. Ông chỉ đạo các tổng giám đốc điều hành làm việc theo hai quy tắc mà thôi. Quy tắc 1: Đừng bao giờ làm mất tiền của cổ đông. Và quy tắc 2: Luôn ghi nhớ quy tắc 1.

7. Ông không thích tham gia các cuộc hội hè, đình đám với tầng lớp thượng lưu của xã hội. Sau những giờ làm việc căng thẳng, ông lại trở về nhà, tự làm cho mình một túi bắp rang bơ và thong dong xem truyền hình.

8. Bill Gates, nhân vật giàu có nhất thế giới, đã gặp ông cách đây năm năm. Bill nghĩ giữa hai người chẳng có điểm tương đồng nào, vì thế Bill chỉ dự định gặp ông trong khoảng nửa giờ đồng hồ. Thế nhưng, trên thực tế, cuộc gặp mặt này kéo dài đến 10 giờ đồng hồ. Và từ đó, Bill Gates thật sự khâm phục Warren Buffet.

9. Warren Buffet không dùng điện thoại cầm tay, cũng chẳng có cái máy tính nào trên bàn làm việc của ông cả. Ông đã nhắn nhủ với thế hệ trẻ như sau: “Đừng dùng thẻ tín dụng, tất cả những gì bạn cần làm là tập trung đầu tư cho chính bản thân mình và hãy nhớ rằng:

- Tiền bạc, của cải không tạo ra con người; chính con người mới tạo ra những thứ ấy.

- Hãy sống thật đơn giản và giản dị như chính con người của bạn.

- Đừng bao giờ làm theo lời người khác. Đó chỉ là ý kiến tham khảo cho bạn mà thôi. Hãy làm những gì bạn cho là đúng và đem lại cảm giác thoải mái cho bạn.

- Đừng phung phí tiền bạc cho những thứ không cần thiết, hãy sử dụng thật hiệu quả đồng tiền của bạn cho những người thật sự cần giúp đỡ.

Cuối cùng, cuộc sống là của riêng bạn, vậy thì tại sao lại để người khác định đoạt nó?” 



Theo saga

Xem thêm:

Phá vỡ nguyên tắc để thành công

Bí quyết quản lý thời gian của người thành đạt

4 thói quen để trở thành triệu phú

Khoa học làm giàu

9 điểm khác biệt của người thành đạt 

Đặc điểm của những người thành đạt (P.3)

Người Thành Công vs. Kẻ Thất Bại (P.3)

Học cách nghĩ của các thiên tài

Napoleon Hill: Người thành công, kẻ thất bại ... Tại sao?

Rất thành công và thành công là cả một sự khác biệt lớn (Phần cuối)

Cách tư duy của những người thành đạt


Bạn có thể xem thêm nếu bạn muốn:

Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2011

Sheryl Sandberg – Đóa hồng trong thế giới của nam nhân

Nữ Giám đốc tác vụ thông minh của Facebook đang thách thức vị trí lãnh đạo vốn thuộc về nam giới trong đế chế truyền thông, tạo ra hình mẫu của những phụ nữ cống hiến cho sự phát triển của ngành CNTT thế giới. 

Sheryl Sandberg, trợ thủ đắc lực cho thủ lĩnh Mark Zuckerberg của đế chế Facebook.

Khi Sheryl Kara Sandberg đọc bài diễn văn tại buổi lễ tốt nghiệp của các nữ sinh viên trường Barnard (Mỹ) hôm 17-5 vừa qua, nhiều nhà báo đã nói rằng họ nhớ lại cũng tại đây hai năm về trước người phụ nữ đầy quyền lực Hilary Clinton đã có một diễn văn sâu sắc tương tự.

Nữ Giám đốc tác vụ (COO) thông minh của Facebook – mạng xã hội lớn nhất toàn cầu với gần 700 triệu cư dân mạng – đang thách thức những vị trí lãnh đạo vốn thuộc về nam giới trong đế chế truyền thông, tạo ra hình mẫu về tài năng và ước vọng của những phụ nữ đang cống hiến cho sự phát triển của ngành công nghệ thông tin thế giới.

Sự xuất hiện của Sheryl tại Facebook vào tháng 3-2008 làm người ta nhớ lại người đã trở thành nữ nhân viên chính của Bộ trưởng Tài chính Lawrence Summers khi chưa tròn 30 tuổi vào những năm cuối thập niên 1990, và trong vai trò đó, bà đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, thậm chí còn vượt qua các chỉ thị của cấp trên trong quá trình tham gia điều trần của Thượng viện.

Năm 2001, cũng người phụ nữ đó đã biến một bộ phận khiêm tốn với chỉ bốn nhân viên tại Google thành một tổ chức với 4.000 con người tạo nên lợi nhuận khổng lồ cho tập đoàn hàng đầu thế giới về dịch vụ tìm kiếm thông tin này. Báo giới đã nhắc đến bà bằng những câu chuyện như: “Nếu ai muốn biết làm thế nào để kiếm được tiền từ thế giới Web 2.0 thì hãy đến hỏi Sheryl Sandberg”, hoặc “Nếu muốn tìm kiếm một người lãnh đạo thứ hai mà không làm lu mờ vai trò của người thứ nhất, người mà nhiều doanh nghiệp cần chính là Sheryl Sandberg”.

Ông chủ trẻ Mark Zuckerberg lúc đó mới 23 tuổi đã làm như thế, và chỉ ba năm sau Facebook đạt được lợi nhuận to lớn hàng tỉ Mỹ kim cùng với số người sử dụng tăng từ 66 triệu lên 640 triệu, và số nhân viên tăng từ 130 lên 2.500. Tất cả đã bắt đầu từ một con người rất nữ tính và giàu lòng chia sẻ.

Tư chất thiên phú

Sheryl Kara Sandberg
Chào đời năm 1969 ở Washington DC trong một gia đình gồm sáu người con, hai năm sau Sheryl và các anh chị được cha là nha sĩ Joel Sandberg và mẹ là giáo viên tiếng Anh Adele đưa về sống ở North Miami Beach. Đến năm 1987, Sheryl đăng ký vào học tại trường Harvard College.

Cô sinh viên trẻ này được các giảng viên nhận xét là không chỉ rất giỏi và nhạy cảm về các vấn đề kinh tế mà còn là thành viên năng động của câu lạc bộ “Phụ nữ vì sự phát triển kinh tế và chính quyền” do chính mình lập ra nhằm khuyến khích nữ giới tham gia nhiều hơn nữa vào hai lĩnh vực này. Chương trình của Sheryl lọt vào tầm mắt của vị giáo sư nổi tiếng Lawrence Summers và ông đã tự nguyện bảo trợ luận án cử nhân kinh tế cho cô.

Năm 1991, vào lúc Sandberg tốt nghiệp với thứ hạng cao nhất thì Summers được đề cử làm nhà kinh tế trưởng cho Ngân hàng Thế giới (WB). Sheryl theo thầy về làm trợ lý nghiên cứu phụ trách các dự án sức khỏe cộng đồng tại Ấn Độ và từ đó phân tích hiệu quả kinh tế của việc đầu tư cho nữ giới.

Trong cuộc hội nghị các nhà tài chính thế giới năm 1992, hai thầy trò đã đưa ra quan điểm “đầu tư sinh lợi lớn nhất cho nền kinh tế thế giới là giáo dục các em gái”. Quan điểm này được chấp nhận và từ đó vấn đề dạy dỗ trẻ em không chỉ là mối quan tâm của bộ giáo dục mà còn là công việc của bộ tài chính mỗi nước.

Hết thời gian tập sự, Sheryl trở về Mỹ tiếp tục con đường học vấn tại Harvard Business School và nhận bằng Thạc sĩ xuất sắc năm 1995 trước khi tham gia công việc cố vấn quản trị cho hãng tư vấn nổi tiếng McKinsey & Company.

Năm 1995 khi được bổ nhiệm làm Trợ lý Bộ trưởng Tài chính Mỹ, giáo sư Summers đã không quên người học trò giỏi của mình và Sandberg được tuyển dụng làm Chánh văn phòng tại bộ ở tuổi rất trẻ. Bà làm việc tại đây cho đến hết nhiệm kỳ Bộ trưởng Tài chính của Summers, từ 1999 đến 2000.

Trong các buổi điều trần tại Thượng viện, Sheryl Sandberg tỏ ra là con người khôn khéo và hiệu quả, đặc biệt đối với các vấn đề gai góc như biện pháp xử lý nợ của Liên Xô (cũ) kể từ năm 1917 và của các nước đang phát triển đang mất khả năng hoàn trả. Khi chính quyền Clinton của Đảng Dân chủ kết thúc nhiệm kỳ thứ hai, Sandberg rời lĩnh vực công để bước vào thời kỳ của những thử thách sau này đưa bà vào hàng ngũ 50 phụ nữ quyền lực nhất do tạp chí Fortune đề cử, và là một trong 12 phụ nữ thống trị ngành truyền thông thế giới.

Luôn chấp nhận thử thách

Đầu năm 2001, Sandberg nhận lời đến làm việc với tập đoàn truyền thông Google. Ban đầu ban giám đốc chỉ dành cho cô một chức vụ khiêm tốn là Phó chủ tịch bộ phận bán hàng trực tuyến. Thực ra ở đó chỉ có bốn con người và sau hơn sáu năm Sheryl đã phát triển nó lên con số 4.000, chiếm 1/4 số lượng nhân viên của tập đoàn nhưng mang lại một nửa trong tổng số lợi nhuận khổng lồ của hãng.

Sandberg đã nhiều lần gặp ban giám đốc và thuyết phục cho mình một vị trí tác vụ đúng mức và có hiệu quả hơn. Nhưng trong đế chế mà nam nhân luôn nắm quyền lãnh đạo này, người ta muốn có những người phụ nữ dễ bảo hơn là để họ phát triển tài năng vì ích lợi của tập đoàn và các cổ đông. Đây cũng là lối suy nghĩ cũ kỹ chẳng những ngăn cản phụ nữ thăng tiến mà còn kìm hãm việc phát triển xã hội bền vững.

Sheryl biết rằng đã đến lúc tìm kiếm một thử thách mới mặc dầu đứa con đầu lòng của bà với David Goldberg – Giám đốc điều hành SurveyMonkey – mới chỉ hai tuổi. Cơ hội đã đến tại buổi tiệc Giáng sinh năm 2007 khi người chủ nhà Don Rosensweig vốn là một giám đốc điều hành (CEO) làm việc tại Thung lũng Silicon giới thiệu bà với ông chủ của Facebook là Mark Zuckerberg, khi đó mới 23 tuổi. Cuộc nói chuyện kéo dài một tiếng đồng hồ sau buổi ăn tối đó đã xác lập nên mối quan hệ. Và Sheryl đã chọn về với Facebook sau khi cân nhắc giữa lời mời của CEO tờ Washington Post và lời mời của Mark Zuckerberg, vì theo bà thì “mạng xã hội có nhiều triển vọng hơn so với tờ báo”.

Ngày 24-3-2008, Sandberg chính thức làm việc tại Facebook trong cương vị Giám đốc tác vụ (Chief Operating Officer) phụ trách kinh doanh, nhân sự, chính sách và quan hệ đối ngoại trong khi Chủ tịch kiêm CEO Mark Zuckerberg tập trung vào sản phẩm và kỹ thuật chiến lược. Lúc bấy giờ, Facebook đang trên đà nổi tiếng quá nhanh nhưng lại gặp khó khăn trong việc xác định một mô hình kinh doanh thích hợp cho mạng xã hội.

Việc đầu tiên Sheryl làm là đến thăm từng nhân viên, chia sẻ kinh nghiệm và đặt câu hỏi với họ là liệu Facebook có thể kinh doanh sinh lợi hay không. Bà đã khéo léo phát huy bản năng tuyệt vời của người phụ nữ là sự chia sẻ, từ đó tạo nên được sức mạnh tập thể để đưa Facebook vượt qua khó khăn, đạt mức tăng trưởng đến chóng mặt. Theo ước tính của hãng tin Bloomberg, lợi nhuận của Facebook trong năm 2010 đạt 2 tỉ đô la Mỹ và sẽ tăng gấp đôi trong năm nay. Facebook nhanh chóng trở thành đế chế quảng cáo theo mô hình quảng cáo xã hội.


Tạo sức hút cho quảng cáo xã hội

Người ta thấy các thương hiệu lớn nhỏ đã thực sự nóng lên nhờ quảng cáo trên Facebook. Doanh thu của Coca-Cola tăng từ 700 triệu của năm 2009 lên gần 1 tỉ đô la trong năm 2010. Trước khi tung ra đoạn quảng cáo dài ba phút có tên “Write the Future” trên các phương tiện truyền thông, hãng Nike đã nhờ đến Facebook và chỉ trong mấy ngày số người hâm mộ thương hiệu (fan) đã tăng từ 1,6 lên 3,1 triệu người.

Mô hình quảng cáo xã hội mà Sheryl và các đồng sự nghĩ ra trong các cuộc họp thường kéo dài đến tận đêm đã thành công ngoài sức tưởng tượng. Nhằm tôn trọng sự riêng tư của người sử dụng, Facebook đặt nút quảng cáo kín đáo trên góc phải của trang. Công ty dữ liệu WebTrends cho biết không tới 0,5% số người sử dụng bấm vào nút này để bày tỏ ý kiến xem họ thích hay không để lại lời nhắn về món hàng và nhà quảng cáo.

Với mô hình quảng cáo xã hội, số lần nhấp chuột vào nút quảng cáo không phải là con số thực sự có ý nghĩa, mà là việc các nhà mạng đã thiết kế tại đó một tiện nghi cho những ai muốn mua các loại hàng hóa mà họ biết được từ các bạn bè. Đây là một hiệu ứng dây chuyền lan tỏa rất nhanh. Sandberg muốn để cho các nhà quảng cáo tiếp cận sâu hơn vào cơ cấu xã hội của trang web. Một khi người ta sử dụng các ứng dụng của Facebook kể cả trên điện thoại di động hoặc viết các đoạn bình luận liên quan đến mặt hàng hay nhà quảng cáo thì các động tác đó được chuyển vào nguồn cung cấp dữ liệu để chia sẻ cho bạn bè của họ.

Thế giới ngày càng đi theo xu hướng xã hội hóa và phụ nữ xã hội hóa nhiều hơn nam giới. Chính vì vậy mà phụ nữ luôn chiếm số lượng áp đảo trên các trang mạng xã hội lớn như Facebook, Twitter, MySpace, Bebo, Flickr trong khi nam giới tập trung về các trang Digg, YouTube và LinkedIn. Ở Facebook phụ nữ chiếm đến 62%, sử dụng thời gian nhiều hơn nam giới tới 30% và con số bạn bè đông hơn 8%.

Các nhà giáo dục nhận định ngay từ nhỏ các em gái đã học cách xây dựng các mối quan hệ thông qua sự chia sẻ thông tin, và nay ở tuổi trưởng thành phụ nữ thường lên mạng để giải quyết các vấn đề thực trong đời sống. Phụ nữ đúng là bộ phận khuếch đại của mạng xã hội và là đối tượng khách hàng tiềm năng của ngành thương mại điện tử.

Đó có thể là sức mạnh làm thay đổi các trào lưu, xu hướng trên thế giới, và Sheryl đã nhận ra sức mạnh đó từ chính bản thân mình khi đặt thành định hướng “Facebook là công ty được vận hành bởi bản năng bẩm sinh và mối quan hệ của con người”.

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2011

9 cá tính làm nên Sheryl Sandberg - người phụ nữ quyền lực nhất Thung lũng Silicon

Cái tên Sheryl Sandberg đã trụ vững trong danh sách 50 người phụ nữ quyền lực nhất của tạp chí Fortune trong suốt 4 năm qua.


Là giám đốc hoạt động của Facebook từ năm 2008, bà quản lý rất nhiều lĩnh vực từ hoạt động kinh doanh cho đến chính sách cộng đồng.

CEO Mark Zuckerberg từng nói với tạp chí BusinessWeek: “Không có bà ấy sẽ là một thiếu sót lớn với chúng tôi”.

Trước khi làm việc ở Facebook, Sandberg là phó chủ tịch hoạt động tại Google, tại đó bà phụ trách các chương trình AdWords và AdSense. Bà cũng là tham mưu trưởng cho Bộ Tài chính Mỹ dưới thời tổng thống Bill Clinton, và từng là nhà kinh tế học tại World Bank.

Dưới đây là 9 cách giúp Sheryl Sandberg trở thành nữ doanh nhân thành công như vậy.

Hãy “làm chính mình” trong công việc

Trả lời tạp chí The NewYorker, bà nói: “Chúng ta là chính chúng ta. Nếu bạn cố tách bạch rõ ràng giữa con người trong cuộc sống cá nhân và con người trong công việc chuyên môn của mình, bạn sẽ trở nên rất cứng nhắc. Như vậy không có nghĩa là tôi yêu cầu mọi người phải kể cho tôi nghe tất tần tật về đời tư của họ, nhưng tôi sẽ rất vui vẻ chia sẻ những câu chuyện của tôi.” Theo Sandberg, bằng cách này, nhân viên của bạn sẽ chẳng bao giờ cảm thấy bị động hay kinh ngạc – kể cả khi bạn sa thải họ.

Kết nối với những nữ doanh nhân quyền lực khác


Sandberg tổ chức sự kiện “Phụ nữ tại Thung lũng Silicon”, tại đó bà mời rất nhiều những phụ nữ thành đạt trên nhiều lĩnh vực khác nhau tới trao đổi và lắng nghe một vị diễn giả khách mời trò chuyện. Danh sách các vị khách mời đã tham gia chương trình gồm có: Geena Davis, Billie Jean King, Rupert Murdoch, Meg Whitman và Senator Kristen Gillibrand. Trong một buổi trò chuyện, sau khi nghe một nhà hoạt động chống nạn buôn người người Campuchia kể lại câu chuyện của chính mình, Sandberg đã đứng lên nói rằng bà muốn tổ chức quyên góp cho Quỹ từ thiện Somaly Mam và mời những người bạn mình cùng tham gia.

Buổi gây quỹ đã thu được hơn một triệu USD, tương đương với 1/3 số tiền mà quỹ này quyên góp được trong suốt một năm.

“Bà bước tới bàn làm việc của từng người để nói: “Xin chào, tôi là Sheryl Sandberg.”


Phó chủ tịch sản phẩm Chris Cox của Facebook đã nói với tạp chí The New Yorker: “Việc đó giống như là công khai nói với nhân viên: ‘Ok, không cần đề phòng tôi đâu. Tôi chỉ đang cố gây dựng quan hệ tốt với các bạn”. Sandberg cũng khuyến khích tranh luận về doanh thu và quảng cáo bằng cách “đi quanh phòng và hỏi mọi người ‘Anh/chị nghĩ thế nào?’”.

Năm bà bắt đầu làm việc tại Facebook, công ty đã đồng ý kiếm tiền từ quảng cáo. Năm 2010, số tiền thu về lên tới cả tỷ đô.

“Sự kiên định của bà rất dễ bị lây nhiễm”


Một người bạn học của bà ở đại học Havard nói với tạp chí Vogue: “Hiện giờ bà có 2 con, và tôi nhìn thấy những nét tính cách đó ở chúng. Cậu con trai 4 tuổi của bà rất giống bà: lúc nào cũng vui vẻ, nhưng lại rất kiên quyết. Thằng bé sẽ đàm phán theo cách của nó để được thêm phần ăn tráng miệng.” Khi Sandberg còn làm việc ở World Bank, chuyên gia kinh tế trưởng Larry Summers đã đặt câu hỏi cho bà về kinh tế Nga.

Thay vì đâm đầu vào thư viện, Sandberg đã gọi cho Richard Pipes, nhà sử gia hàng đầu về Cách mạng Nga, đồng thời cũng là một vị giáo sư tại đại học Havard. “Sandberg đã giành được của Pipe một tiếng đồng hồ và ghi chép lại rất chi tiết những thông tin mình cần.”, giáo sư Summers nói với tờ The NewYorker.

Để mở lựa chọn của mình


“Tôi luôn nói với mọi người rằng nếu bạn cứ muốn vạch kế hoạch cho sự nghiệp của mình, bạn sẽ cất cánh trên một con đường rất hạn chế. Nếu tôi quyết định trước những gì tôi định làm khi còn học đại học – cái thời mà không Internet, không Google, không Facebook… tôi không muốn phạm sai lầm như vậy. Lý do mà tôi không có một kế hoạch nào cả là vì nếu tôi vạch trước kế hoạch, tôi sẽ bị cản trở bởi chính những lựa chọn của ngày hôm nay”. “Bà ấy quá thẳng thắn”


Theo Mike Schroepfer, phó chủ tịch kỹ thuật của Facebook: “Sandberg là kiểu người sẽ kéo người khác sang một bên để nói cho họ chính xác những gì họ được kỳ vọng.” Kỹ năng xã hội của Sandberg cũng giúp mang về cho Facebook nhiều nhân tài. Ví dụ, để mời Carolyn Everson về Facebook, bà đã gọi cho Everson khi đang lái xe, khi đang ở nhà, và ngay cả khi đang đi nghỉ ở Mexico. Và giờ đây, Everson đang là trưởng bộ phận bán hàng ở Facebook.

Everson kể lại: “Một đêm tôi nhận được tin nhắn của bà, rằng bà phải đi ngủ sớm từ 9h hay 9h30 vì quá mệt. Lúc đó, tôi đã nghĩ là ‘Ơn Chúa, người phụ nữ này cũng có lúc đi ngủ’”.

“Sheryl luôn nói thật, dù đó là sự thật khó nghe”


“Thường thì với bạn bè hay thành viên gia đình, nói những gì họ muốn nghe là cách dễ nhất”, em gái của bà nói với tạp chí Vogue. “Chị ấy sẽ khôgn nói cho bạn những gì bạn muốn nghe, mà sẽ nói những gì có lợi cho bạn nhất, ngay cả khi bạn sẽ giận chị ấy. Chị ấy sẵn sằng chấp nhận rủi ro, chịu đựng nỗi đau, để có thể giúp đỡ mọi người.” Chính cá tính này đã thu hút Mark Zuckerberg trước tiên. Zuckerberg đã trả lời tạp chí Vogue: “Từ sự quả quyết trong câu trả lời cũng như tính kiên định của bà, ngay lập tức tôi hiểu ra rằng bà là người phù hợp với công việc này.”

Bà không ngại thể hiện sự mềm yếu của mình


“Tôi đã khóc ở cơ quan. Tôi đã khóc trước mặt Mark. Và cậu ấy thật tốt, thái độ của cậu ấy giống như là: ‘Bà có cần một cái ôm không? Bà ổn chứ?’”. Các đồng nghiệp của bà ở Facebook nói họ thích sự khéo léo của bà, cách thuyết phục tinh tế mà mọi người vẫn gọi là thế mạnh của phái nữ. 

Jim Breyer, thành viên ban quản trị Facebook nói với tạp chí BusinessWeek: “Tôi có thể nói rất đơn giản là tôi chưa từng thấy ai vừa có khả năng lan truyền, vừa nhiệt tình lại vừa cực kỳ thông minh như bà”.

Đừng để nỗi sợ chiến thắng khát khao của bạn


“Hãy để những rào cản mà bạn phải đối mặt là rào cản bên ngoài, chứ không phải bên trong. Vận may sẽ đến với những người dũng cảm. Tôi chắc chắn bạn không bao giờ biết khả năng của mình tới đâu nếu bạn không thử.”

Bill Gates, huyền thoại một thế kỷ (P.3)

Bill Gates, nhà quản lý thành công bằng
sự nhạy bén cả trong cả kỹ thuật lẫn kinh doanh.

Năm 1983, Microsoft bắt đầu mở các văn phòng đại diện trên toàn cầu. Khoảng 30% số lượng máy tính trên thế giới chạy bằng phần mềm của Microsoft.

>> Phần 1, Phần 2

Thành công ban đầu của Microsoft

Bill Gates trở thành nhà quản lý thành công bằng sự nhạy bén cả trong cả kỹ thuật lẫn kinh doanh và là người phát ngôn chính của công ty. Anh xem xét từng dòng code mà công ty chuyển đến và thường xuyên viết lại code khi thấy cần thiết.

Khi ngành công nghệ máy tính phát triển và xuất hiện những công ty như Apple, Intel, và IBM sản xuất phần cứng cùng các thiết bị cấu thành, Gates liên tục đi giới thiệu về các sản phẩm đáng giá của những ứng dụng phần mềm Microsoft. Anh thường đưa mẹ mình đi cùng. Bà Mary đánh giá cao và kết nối thành công với các thành viên ở nhiều hội đồng công ty, trong đó có IBM. Thông qua bà, Bill Gates đã gặp CEO của IBM.

Bill Gates còn rất trẻ nhưng đã nhanh chóng tạo ấn tượng mạnh với IBM.

Tháng 10/1980, IBM đang tìm kiếm phần mềm có thể điều hành máy tính cá nhân (PC) sắp ra mắt của họ và công ty đã tiếp cận với Microsoft. Có một chuyện hết sức đáng nhớ là lần đầu tiên gặp Bill Gates, có người ở IBM tưởng anh là nhân viên phụ tá văn phòng nên đã yêu cầu anh phục vụ cà phê. Khi đó Gates trông còn rất trẻ nhưng anh đã nhanh chóng tạo ấn tượng mạnh với IBM và điều đó thuyết phục IBM rằng anh và công ty của anh có thể đáp ứng được nhu cầu của họ.

Vấn đề khó khăn duy nhất là Microsoft chưa phát triển được hệ điều hành cơ bản để chạy các máy tính của IBM. Tuy nhiên, Gates không hề dừng lại, anh đã mua một hệ điều hành được phát triển để chạy trên những chiếc máy tính tương tự như máy của IBM. Anh thương lượng với người phát triển phần mềm để Microsoft trở thành đại lý cấp phép độc quyền và sau đó là chủ sở hữu hoàn toàn đối với 86-DOS, một hệ điều hành tương tự như CP/M do Tim Peterson của hãng Seattle Computer Products (SCP) viết cho các phần cứng có tính năng tương tự như PC.

Bill Gates năm 27 tuổi.

Bill Gates phải điều chỉnh phần mềm mới được mua để làm việc cho PC của IBM. Anh đưa ra giá 50 nghìn đô-la, bằng với giá mua phần mềm ban đầu. IBM muốn mua mã nguồn để có thể cung cấp thông tin cho hệ điều hành nhưng Gates từ chối, thay vào đó anh đề xuất IBM trả phí cấp phép cho các bản copy phần mềm được bán cùng với máy tính của họ. Thực hiện việc này cho phép Microsoft cấp phép phần mềm mà họ gọi là MS-DOS cho bất kỳ công ty sản xuất máy tính PC nào. Điều mà sớm muộn các công ty khác có thể làm là họ sẽ nhân bản máy tính của IBM. Microsoft cũng cho ra mắt phần mềm có tên gọi là Softcard, cho phép Microsoft BASIC điều hành các sản phẩm Apple II.

Các năm 1978 đến 1981, Microsoft phát triển đội ngũ nhân viên từ 25 người đã lên tới 128 người. Doanh thu cũng tăng từ 4 triệu đô-la lên tới 16 triệu đô-la. Tháng 6/1981, Gates và Allen cơ cấu lại công ty. Bill Gates được bổ nhiệm làm Chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc điều hành. Allen làm phó tổng giám đốc điều hành.

Microsoft bắt đầu mở các văn phòng đại diện trên toàn cầu.

Năm 1983, Microsoft bắt đầu mở các văn phòng đại diện trên toàn cầu. Thị trường đầu tiên Gates nhắm tới là Anh và Nhật. Khoảng 30% số lượng máy tính trên thế giới chạy bằng phần mềm của Microsoft. Cũng trong năm này, có một tin làm chấn động Microsoft, Paul Allen được chẩn đoán bị bệnh U lympho Hodgkin. Sau một năm điều trị tích cực, mặc dù bệnh tình của anh đã có phần thuyên giảm nhưng Allen vẫn xin rút khỏi công ty. Lúc này xuất hiện vô số lời đồn đại về việc tại sao Allen rời khỏi Microsoft. Có một số người cho rằng Bill Gates đã đẩy anh ra khỏi công ty, nhưng nhiều người khác lại cho rằng Allen muốn thay đổi và tìm những cơ hội khác.

Phát minh ra hệ điều hành Windows của Microsoft

Mặc dù sự ganh đua giữa Microsoft và Apple rất lớn và liên tục nhưng thời kỳ đầu họ từng chia sẻ nhiều sáng tạo. Năm 1981, Apple mời Microsoft giúp hãng này phát triển phần mềm cho máy tính Macintosh của hãng. Một số nhà sản xuất được tham gia vào cả phát triển phần mềm của Microsoft và phát triển những ứng dụng cho dòng máy tính Macintosh. Việc hợp tác giữa hai công ty được thể hiện trong một số sản phẩm mang thương hiệu chung giữa Microsoft và hệ thống Macintosh. Nhờ quá trình phát triển những ứng dụng này, Microsoft tìm ra hướng phát triển hệ điều hành Windows. Đây là một hệ điều hành sử dụng chuột máy tính để điều khiển giao diện đồ họa, trình bày văn bản và hình ảnh trên màn hình.

Bill Gates nhanh chóng nhận ra rằng loại phần mềm này có thể đại diện cho MS-DOS và toàn thể Microsoft. Đối với người dùng đơn giản, thứ mà người mua nhiều nhất là hình ảnh đồ họa của phần mềm VisiCorp sẽ dễ sử dụng hơn nhiều.

Bill Gates đã thông báo trong một chiến dịch quảng cáo rằng hệ điều hành Microsoft mới chuẩn bị được phát triển và sẽ sử dụng giao diện đồ họa. Nó sẽ có tên gọi là "Windows," và tương thích với tất cả các sản phẩm phần mềm của máy tính cá nhân chạy trên hệ thống MS-DOS. Được coi như một chiến thuật tiếp thị thành công, thật kỳ diệu là gần 30% thị trường máy tính đang sử dụng hệ điều hành MS-DOS đã chờ sự ra đời của hệ điều hành Windows thay vì việc họ chuyển sang dùng một hệ điều hành khác.

Sản phẩn Windows của Microsoft.

Tháng 11/1985, gần hai năm kể từ khi thông báo với người dùng, Bill Gates và Microsoft tung ra sản phẩn Windows. Nhìn bề ngoài, hệ điều hành Windows rất giống với hệ điều hành Macintosh mà công ty Apple (có sự tham gia của đội lập trình Microsoft) đã đưa ra gần hai năm trước đó. Gates đã từng khuyên Apple nên xin bảo hộ bản quyền cho phần mềm Macintosh nhưng họ đã không để tâm tới mà chỉ chú trọng đến việc bán máy tính. Sự thành công vang dội của hệ điều hành Windows đã đẩy Apple vào tình trạng khó khăn. Apple quay sang kiện Microsoft còn Microsoft thì trả đũa bằng cách trì hoãn việc chuyển phần mềm tương thích của Microsoft cho những khách hàng dùng Macintosh. Cuối cùng Microsoft thắng kiện bởi công ty chứng tỏ được rằng mặc dù có những điểm giống nhau trong cách thức hoạt động của hai hệ điều hành nhưng tính năng của chúng lại hoàn toàn khác biệt.

Ngày 13/3/1986, cổ phiếu Microsoft được bán công khai trên thị trường chứng khoán New York lần đầu tiên, mở cửa với mức giá 25,75 đô-la một cổ phần. Dường như ngày hôm đó mọi người chỉ đổ xô vào mua cổ phiếu của Microsoft.

Bill Gates nắm giữ 45%, tương đương với 24,7 triệu cổ phiếu. Giá trị cổ phiếu của Gates ước tính 234 triệu đô-la trong tổng số 520 triệu đô-la của toàn bộ Microsoft. Một năm sau khi cổ phần hóa đại chúng, tháng 3/1987, cổ phiếu Microsoft lên tới 90,75 đô-la, Bill Gates trở thành tỷ phú ở tuổi 31. Chưa có ai trong lịch sử nước Mỹ, từ những nhà đại tư bản và tài chính của thế kỷ 19 cho đến các nhà công nghiệp hiện đại lại kiếm được số tiền khổng lồ như thế ở độ tuổi này.

 Kể từ đó Gates liên tiếp đứng đầu hoặc thuộc top đầu trong danh sách 400 người giàu nhất thế giới do tạp chí Forbes bình chọn. Năm 1999, giá cổ phiếu lên cao nhất mọi thời đại, giá trị cổ phần của Gates lên đến đỉnh điểm là 101 tỷ đô-la. Tuy nhiên, Bill Gates không bao giờ cảm thấy hoàn toàn yên tâm về địa vị của công ty. Ông luôn luôn xem xét xem nơi nào có sự cạnh tranh, và nỗ lực phát triển mạnh mẽ cùng với tính cạnh tranh khốc liệt. Gates mong rằng mọi người trong công ty đều có cùng động cơ và cống hiến. Đã từng có lần bà nhân viên phụ tá của công ty, một hôm đi làm sớm đã thấy có người đang ngủ dưới gầm bàn. Trong khi định gọi bảo vệ thì bà nhận ra đó chính là Bill Gates.

Bằng trí tuệ sáng suốt của mình, Gates nhận biết một cách thấu đáo tất cả các mặt của ngành công nghệ phần mềm để phát triển sản phẩm và đưa ra chiến lược của công ty. Khi phân tích bất cứ bước chuyển nào của công ty, ông đều phát triển một hồ sơ về tất cả những trường hợp có thể và giải quyết chúng, đặt ra câu hỏi về bất cứ điều gì có thể xảy ra. Phong cách quản lý đối đầu của ông đã trở thành huyền thoại khi ông thử thách nhân viên và những ý kiến của họ để duy trì quy trình sáng tạo tiếp tục phát triển. Một nhân viên khi trình bày mà không có sự chuẩn bị trước sẽ được nghe Gates nói: “Đó là điều ngớ ngẩn nhất tôi từng nghe!”. Ông liên tục kiểm tra những người xung quanh mình để xem liệu họ có thật sự bị thuyết phục bởi những ý tưởng của họ không.

Bên ngoài công ty, Bill Gates có tiếng là một người cạnh tranh khốc liệt. Nhiều công ty công nghệ hàng đầu như IBM bắt đầu phát triển hệ điều hành riêng của họ với tên gọi OS/2 để thay thế MS-DOS. Thay vì bị áp lực, Gates đẩy mạnh  phần mềm Windows lên hàng đầu, cải tiến quá trình hoạt động của  nó và mở rộng tính năng sử dụng.

Sản phẩm của Microsoft.

Năm 1989, Microsoft đưa ra sản phẩm Microsoft Office bao gồm các ứng dụng hiệu quả văn phòng như Microsoft Word and Excel được đưa vào trong một hệ thống tương thích với các sản phẩm của Microsoft. Các ứng dụng này không dễ dàng tương thích với hệ điều hành SO/2. Phiên bản Windows mới của Microsoft bán được 100 ngàn bản chỉ trong vòng hai tuần còn OS/2 nhanh chóng bị lu mờ đi. Điều này khiến cho Microsoft có một hệ điều hành thực sự độc quyền cho máy tính cá nhân (PC).

Chẳng bao lâu sau Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC) tuyên bố điều tra Microsoft về khả năng vi phạm chống độc quyền. Suốt những năm 1990, Microsoft phải đối mặt với một chuỗi thanh tra của Ủy ban Thương mại Liên bang và Sở Tư pháp. Một số đối thủ cạnh tranh cho rằng Microsoft làm ăn không công bằng. Từ đó những lời đồn thổi của báo chí gây ảnh hưởng lớn đến giá cổ phiếu của Microsoft. Nhiều cổ đông lo lắng rút ra, giá cổ phiếu giảm tới 7 đô-la trong vòng 2 ngày, ngay sau khi FTC tiết lộ thông tin điều tra.

Lúc này Microsoft phải tự bảo vệ mình, điều đó thúc giục Bill Gates trở lại với những “cuộc chiến” đang diễn ra giống như khi ông lên tiếng về nạn ăn cắp phần mềm và tuyên bố rằng những hạn chế đó là mối đe dọa cho sự đổi mới và tính sáng tạo. Cuối cùng thì Microsoft có thể giàn xếp với chính phủ liên bang, tránh được nguy cơ phá sản. Qua đó Gates tìm ra một số cách để làm chệch hướng áp lực bằng những quảng cáo hài hước và sự ra mắt công chúng tại các buổi thương mại máy tính bằng nhận vật Mr. Spock trong bộ phim Star Trek. Mặc dù phải đối mặt với những cuộc điều tra liên bang nhưng Bill Gates vẫn điều hành công ty và cho ra mắt những phiên bản phần mềm mới.
                 
Tài liệu tham khảo:
A&E Television Networks
Hard drive: Bill Gates and the making of the Microsoft empire by James Wallace, Jim Erickson.

còn nữa ...

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2011

10 CEO nổi tiếng thế giới đã “vực dậy” công ty từ đống đổ nát như thế nào?

CEO nào tiếp quản công ty khi đang trong tình thế nguy nan cần nhiều phẩm chất đặc biệt hơn nhiều người khác.


Dù đang quản lý một công ty đa quốc gia hay công ty gia đình, một CEO cần rất nhiều phẩm chất đặc biệt. Những ai lên nắm quyền công ty trong khi công ty đang kinh doanh khó khăn sẽ còn vất vả hơn rất nhiều.

Người đó cần phải có một kế hoạch hành động và mục tiêu rõ ràng, thời gian hợp lý và sự ủng hộ của ban điều hành cũng như quản lý cao cấp. Chiến lược tốt ở mức nào cũng cần phải mang lại hiệu quả tài chính, dù đó là thị phần, lợi nhuận tốt hơn, giá cổ phiếu tăng hoặc tốt nhất cả 3 yếu tố trên cộng lại.

Rất hiếm người có thể thành công như Steve Jobs của Apple, người trở về công ty do ông sáng lập và biến nó thành công ty công nghệ kinh doanh có lãi nhất thế giới. Dù vậy, chẳng phải con đường vực dậy nào cuối cùng cũng sẽ toàn “hoa hồng”. Giống như nữ CEO Carol Bartz, dù bà tỏa sáng ở Autodesk, nhưng cuối cùng nỗ lực của bà tại Yahoo chẳng mang lại kết quả gì và cuối cùng bà đã bị sa thải.

Cùng điểm lại 10 câu chuyện nổi tiếng nhất về quá trình vực dậy công ty của các CEO

Peter Cuneo - Marvel Entertainment

Thời gian làm việc: Tháng 7/1999 - Tháng 12/2002

Ông Peter Cuneo bắt đầu làm việc tại Marvel Entertainment ngay khi công ty này hoàn thành thời gian tái cơ cấu sau khi xin bảo hộ phá sản, công ty còn nợ chồng chất và môi trường doanh nghiệp đáng chán. Ông tập trung vào mở rộng hoạt động kinh doanh trên phạm vi quốc tế và áp dụng mô hình kiểu mẫu, chương trình tivi và sản phẩm tiêu dùng.


Khi ông bắt đầu nắm quyền tại Marvel, cổ phiếu công ty chỉ ở mức 94 cent/cổ phiếu; 10 năm sau đó, công ty được bán cho Walt Disney với giá 4 tỷ USD tương đương 54USD/cổ phiếu.

 Richard Clark - Merck & Co

Thời gian làm việc: Tháng 5/2005 - Tháng 12/2010

Ông Richard Clark, người đã làm việc tại Merck 35 năm, lên nắm giữ chức vụ CEO trong bối cảnh công ty đang trong cuộc chiến pháp lý xung quanh sản phẩm Vioxx, thuốc đã bị rút khỏi thị trường do nghi ngờ có liên quan đến bệnh tim và đột quỵ. Ông lập tức sa thải bớt nhân viên và đóng cửa 5 nhà máy để tiết kiệm gần 4 tỷ USD đến năm 2010.


Ông đã khôi phục được uy tín của công ty, dàn xếp xong vụ việc Vioxx và giành thêm được giấy phép cho 8 loại thuốc trong 2 năm. Đến năm 2008, giá cổ phiếu của Merck trở lại thời đỉnh cao trước vụ việc Vioxx và tăng gấp đôi so với thời điểm tháng 4/2005 trước khi ông lên làm CEO.

Gordon Bethune - Continental Airlines

Thời gian làm việc: Tháng 11/1994 – Tháng 11/2004

Gordon Bethune bắt đầu làm việc tại công ty sau khi công ty này hoàn thành thời gian tái cơ cấu sau phá sản sau khi nộp hồ sơ theo chương 11 Luật phá sản. Ở thời điểm đó, Continental Airlines đang thua lỗ 55 triệu USD/tháng và luôn đứng cuối bảng trong mọi tiêu chí, bao gồm thời điểm các chuyến bay, sự phàn nàn của khách hàng và hàng hóa bị chuyển lỗi.

 
Dưới sự lãnh đạo của Bethune, hãng đã ngừng các chuyến bay không mang lại lợi nhuận, tăng cường dịch vụ, thương lượng lại về nợ và các hợp đồng thuê máy bay… Giá cổ phiếu của công ty tăng 25 lần, từ 2USD lên 50USD/cổ phiếu. Hiện nay, Continental Airlines đứng đầu về sự hài lòng của khách hàng.

Sergio Marchionne - Fiat Group

Thời gian làm việc: Từ năm 2005 đến nay

Khi Sergio Marchionne lên nắm giữ chức vụ CEO, công ty đang nợ nần chồng chất và thua lỗ nặng nề. Ông đã đóng cửa nhà máy, sa thải nhân viên và thay hàng loạt lãnh đạo cao cấp để giành thị phần và giúp công ty kinh doanh có lãi.


Ông thỏa thuận liên minh với Chrysler và chấm dứt hợp tác với General Motors. Trong 2 năm, ông đã giúp Fiat tránh khỏi nguy cơ sụp đổ; mở rộng hoạt động ra Ấn Độ và Trung Quốc. Sau 17 quý thua lỗ liên tiếp, Fiat chính thức kinh doanh có lãi vào năm 2005.

Mark Hurd - Hewlett-Packard

Thời gian làm việc: Tháng 3/2005 – Tháng 8/2010

Mark Hurd nổi tiếng sau khi đã dàn xếp ổn thỏa vụ rắc rối mà HP đương đầu vào năm 2002 khi thâu tóm Compaq. Ông đã làm mạnh chiến lược của HP, tập trung đầu tư vào công nghệ. Để tăng hiệu quả hoạt động, ông sa thải bớt nhân viên và giảm lương hàng loạt.


Ông sắp xếp lại bộ phận kinh doanh và đặt trọng tâm vào hoạt động đào tạo, tuyển dụng cũng như hỗ trợ khách hàng. Từ năm 2006 đến năm 2009, doanh thu của HP tăng từ 86 tỷ USD lên đến 114,6 tỷ USD. Dù rất thành công trong kinh doanh, ông đã buộc phải từ chức bởi bê bối sex.

Terry S. Semel – Yahoo

Thời gian làm việc: Tháng 5/2001 – Tháng 6/2007

Cựu binh của Warner Bros đã tiếp quản Yahoo ở thời điểm hoạt động kinh doanh, doanh thu quảng cáo của công ty đang sụt giảm thê thảm. Ông đã giúp phục hồi lại Yahoo bằng chiến lược tiếp thị sản phẩm và phân phối bán hàng. Ông biến công ty từ chuyên kinh doanh quảng cáo trực tuyến sang hoạt động thu phí.


Ông ký thỏa thuận với SBC Communications (hiện là AT&T), bán băng thông rộng cho hàng triệu hộ gia đình tại Mỹ. Yahoo kiếm được 43 triệu USD trên doanh thu 953 triệu USD vào năm 2002 trong khi Yahoo lỗ tới 93 triệu USD trên doanh thu 717 triệu USD vào năm 2001. Sau khi ông ra đi, Yahoo rất khốn khổ khi phải cạnh tranh với đối thủ bao gồm Google và Facebook

Lee Iacocca - Chrysler Motor

Thời gian làm việc: 1979 - 1992

Sau khi bị sa thải khỏi Ford vào năm 1978, Lee Iacocca đã giúp cứu được Chrysler, hãng ô tô hàng đầu nước Mỹ nhưng đang bên bờ vực phá sản. Ông ký mới hợp đồng với các công ty chuyên cho thuê xe ô tô, sa thải bớt lao động và nhận 1,5 tỷ USD giải cứu từ chính phủ.


Ông thành công với dòng xe K-car vào năm 1981. sau đó, ông tiếp tục thành công với Dodge Caravan và Plymouth Voyager. Năm 1983, Chrysler kiếm được 925 triệu USD và bắt đầu trả được tiền vay cho chính phủ.

James R. Cantalupo - McDonald's

Thời gian làm việc: 2002 - 2004

Năm 2001, ông từ chức chủ tịch McDonald để nghỉ hưu. Tuy nhiên sau đó ông buộc phải trở lại khi doanh thu của McDonald giảm liên tiếp 2 năm. Sản phẩm của hãng bị chê bai không phù hợp với sức khỏe của con người. Ông lập tức tung ra sản phẩm salad, táo cắt miếng và thực đơn thực phẩm bổ dưỡng hơn.


Doanh thu tăng đều đặn cùng với giá cổ phiếu cũng như thị phần. Đến đầu năm 2003, McDonald lãi 327,4 triệu USD từ mức 253,1 triệu USD cùng kỳ năm 2002. Cổ phiếu McDonald bắt đầu quá trình tăng đều đặn. Ông đã qua đời vì bệnh tim vào tháng 4/2004.

Steve Jobs - Apple

Thời gian làm việc: 1996 - 2011

Steve Jobs, người đồng sáng lập ra Apple, đã trở lại công ty vào năm 1996 để trở thành CEO tạm quyền sau khi mua lại NeXT. Ông trở thành CEO chính thức của Apple vào năm 2007. Ông đã giúp công ty nhận được khoản đầu tư 150 triệu USD từ Microsoft. Ông sắp xếp lại dây chuyền sản xuất, mở cửa hàng để trực tiếp bán sản phẩm cho khách hàng, giảm chi phí hoạt động và tập trung vào tiếp thị máy tính cá nhân. Ông cũng giúp công ty tiến vào lĩnh vực nhạc trực tuyến với sản phẩm iPod và định hình lại ngành di động thế giới với điện thoại iPhone.


Từ khi ông trở lại, cổ phiếu Apple đã tăng hơn 9.000%. Hơn 314 triệu iPod; 129 triệu iPhone và 29 triệu iPad đã được bán ra. Ông từ chức vào tháng 8/2011 và 3 tháng sau qua đời vì ung thư tuyến tụy.

Mickey Drexler – Gap

Thời gian làm việc: 1995 – 2004

Gap đang đối đầu với sự cạnh tranh mạnh mẽ khi Mickey Drexler về tiếp quản công ty vào năm 1995. Ông ngừng bán quần jeans của Levi và hàng thương hiệu khác. Ông Drexler tập trung chỉ bán quần áo của Gap với mục tiêu nhắm tới đối tượng khách hàng giàu có. Ông thay đổi dây chuyền sản xuất, thiết kế lại cửa hàng, từ sàn nhà cho đến trần nhà.


Ông đưa ra nhiều mẫu quần áo thời trang mới, mẫu mã đẹp. Ông biến Gap thành một công ty 14,5 tỷ USD. Chỉ trong 1 thập kỷ, nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm Gap thay đổi hoàn toàn.

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2011

Howard Schultz: Con đường trở thành CEO số 1 thế giới năm 2011

Tạp chí Fortune đã bầu chọn Howard Schultz, CEO của Tập đoàn cà phê Starbucks, là “CEO số 1 thế giới năm 2011”.

Howard Schultz: Tay trắng làm nên cơ đồ

Hàng năm Tạp chí Fortune nổi tiếng của Mỹ đều chọn ra các doanh nhân, các CEO nổi tiếng thế giới để tôn vinh những người quản lý kinh doanh sáng tạo, tài ba trong tình hình khó khăn.

Không ai ngờ rằng một cậu bé sinh trưởng từ gia đình nghèo khó ở thị trấn Brooklyn thành phố New York (Mỹ) giờ đây đã trở thành nhà tỷ phú,  Chủ tịch kiêm CEO của Tập đoàn cà phê lớn nhất thế giới Starbucks.


Howard Schultz  sinh ngày 19/7/1953. Khi còn nhỏ gia đình nghèo khó, nên cậu bé luôn mơ ước có được “Quả cầu thủy tinh ước gì được nấy” để trở nên giàu có. Nhưng mơ ước vẫn chỉ là mơ ước và cậu lại trở về với cuộc sống thực tế của gia đình nghèo. Vì vậy, cậu ra sức làm việc giúp gia đình và miệt mài học tập. Những cố gắng của cậu đã được báo đáp khi ước nguyện đầu tiên của cậu là thi đỗ vào Trường đại học Michigan. Tốt nghiệp đại học, cậu tự xoay sở đi tìm việc làm. Năm 1975, Howard Schultz xin vào Công ty Xerox làm việc. Sau 7 năm, Schultz lẹt đẹt chỉ là nhân viên quèn, tương lai chưa thấy gì sáng sủa. Tình cờ năm 1982, Schultz vào làm việc cho Starbucks, ông chủ có cảm tình với chàng thanh niên nhanh nhẹn, sống sắng này và ngay lập tức bổ nhiệm anh làm Trưởng phòng tiếp thị và bán lẻ. Vận mệnh đã đưa anh tới công ty này và kể từ đây cuộc đời của Schultz sang một bước ngoặt mới, đồng thời  sự nghiệp của Starbucks cũng từ đó được lột xác.

Tiền thân của Starbucks là quán cà phê nhỏ lẻ do ba nhà khoa học là Giáo sư Anh ngữ Baldwin, Giáo sư lịch sử  Zev Siegl và nhà văn Gordon Bowker sáng lập ngày 30/3/1971 tại Seattle, với sự tài trợ của ông chủ kinh doanh cà phê Alfred Peet. Mục tiêu của họ lúc đầu không phải là kinh doanh mà chỉ là nơi tụ tập, hội họp bạn bè trong ngày Thứ Bảy, Chủ Nhật.

Kể từ khi Schultz tới làm việc, cửa hàng cà phê nhỏ bé dần dần phát triển thành công ty kinh doanh cà phê hạt cũng như mở thêm  nhiều quán bán lẻ cà phê cho khách hàng tới thưởng thức. Cuối năm 1982, khi Schultz 28 tuổi, anh đã được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Sau thời gian có kinh nghiệm cũng như có mạng lưới khách hàng rộng rãi và tài chính cho phép, năm 1986 Schultz đã tách ra mở quán cà phê riêng của mình. Năm 1987, Schultz mua lại toàn bộ Công ty cà phê Starbucks và chỉ sau một thời gian, tức năm 1992, Starbucks lên sàn giao dịch tại Thị trường chứng khoán New York.

Dưới sự chỉ đạo tài ba của ông chủ Schultz, kể từ đó Starbucks bắt đầu nổi tiếng khắp nước Mỹ và Canada, đồng thời trở thành một Tập đoàn hùng mạnh. Vào giữa những năm 1990, Starbucks bắt đầu vươn xa ra khỏi nước Mỹ và Canada ra toàn cầu.

Tập đoàn Starbucks chẳng những kinh doanh cà phê mà còn mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác. Lúc đầu là cà phê uống, cà phê hạt, cà phê chế biến, cà phê gói... Tiếp đó cà phê kèm với các loại bánh điểm tâm buổi sáng, dần mở rộng sang lĩnh vực khác như “cà phê âm nhạc”, “cà phê phim ảnh”, “cà phê đọc sách”, quán cà phê với các loại kem nổi tiếng,  “cà phê internet” theo sở thích của khách hàng và nhu cầu xã hội các nước.

Giờ đây Starbucks đã trở thành tập đoàn cà phê hàng đầu thế giới với 17.009 cửa hiệu rải khắp 55 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới - trong đó 11.000 quán ở Mỹ, 1.000 quán ở Canada và 150 quán ở Thổ Nhĩ Kỳ với hơn 25.000 nhân viên. Năm 1999, Starbucks chiếm lĩnh được thị trường Trung Quốc và đã làm thay đổi sở thích của người dân xứ sở “trà Tàu”: từ uống trà sang uống cà phê của Starbucks. Hiện nay Trung Quốc trở thành thị trường tiêu thụ lớn nhất của Starbucks ở hải ngoại.

Trong mấy năm qua, Howard Schultz đều được các tạp chí như nổi tiếng như “Forbes”, “Fortune” vinh danh trên Bảng vàng các CEO tài ba. Năm 2011, Howard Schultz được Tạp chí “Fortune” vinh danh là CEO số 1 toàn cầu vì trong tình hình kinh tế khó khăn mà Starbucks của Howard Schultz vẫn phát triển ngoạn mục, như năm 2009 và 2010, Starbucks đã mở thêm 900 quán cà phê ở nước ngoài.

Thưởng thức vị đắng, vị ngọt mát, vị thơm của cà phê Starbucks khiến chủ doanh nghiệp tỉnh táo hơn, sáng suốt hơn để nghĩ ra các kế sách kinh doanh trong thời buổi khó khăn hiện nay.

Theo tamnhin

Những nhà đầu tư vĩ đại nhất thế giới: William J. O'Neil


William_J_ONeil.gifWilliam J. O'Neil

Sinh năm 1933 tại Oklahoma City, Oklahoma

Công ty:
    * Hayden, Stone & Company
    * William O'Neil & Company, Inc.
    * O'Neil Data Systems, Inc.
    * Investor's Business Daily

Thành tích nổi bật: Bill O'Neil là một nhà môi giới chứng khoán hàng đầu, một nhà đầu tư cổ phiếu theo chiến lược tăng trưởng, CANSLIM, tác giả và là người sáng lập ra tạp chí tài chính Investor's Business Daily, là một địch thủ đáng gờm của tờ Nhật báo phố Wall.

Tiểu sử cá nhân:

Bill O'Neil học chuyên ngành quản trị kinh doanh tại đại học Southern Methodist University, nhận bằng cử nhân năm 1955. Sau khi rời quân ngũ năm 1958, ông khởi nghiệp với vị trí một nhân viên môi giới chứng khoán cho công ty Hayden, Stone & Company và phát triển một chiến lược đầu tư (CANSLIM), chiến lược đã giúp ông trở thành nhân viên môi giới xuất sắc nhất của công ty này.

Những thành công trong công việc môi giới cũng như đầu tư tài chính đã đưa ông đến quyết  định thành lập một công ty môi giới, William O'Neil & Co., Inc, năm 1963. Ở độ tuổi 30, O'Neil trở thành người trẻ nhất từng mua một chỗ trong sàn giao dịch chứng khoán New York (NYSE).

Năm 1983, O'Neil lập ra tờ nhật báo tài chính quốc gia với tên gọi là Investor's Daily, sau này trở thành tờ Investor's Business Daily vào năm 1991. Hiện nay, ông vẫn là CEO của William O'Neil & Co., là chủ tịch và chủ bút của tờ Investor's Business Daily, ngoài ra còn thường xuyên viết và giảng bài về các chủ đề liên quan đến đầu tư trên khắp nước Mỹ.

Phong cách đầu tư

O'Neil kết hợp giữa các chiến lược định tính và định lượng trong triết lý đầu tư hướng kết quả của mình. Nói ngắn gọn, kiểu đầu tư của ông là chỉ tìm kiếm những cổ phiếu tăng trưởng có tiềm năng tăng giá nhanh nhất kể từ thời điểm mua vào.

Về cơ bản, phương châm của Bill O'Neil là "mua con mạnh, bán con yếu". Tiêu chí của ông trong việc xác định cổ phiếu sắp sửa "thăng thiên" được tóm tắt trong cụm từ viết tắt từ những chữ cái đầu tiên CANSLIM:

C - Current quarterly earnings per share: lợi nhuận trên đầu cổ phiếu của quý này phải tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước (tối thiểu là 25%).

A - Annual earnings: lợi nhuận năm tăng với tốc độ tăng trưởng ghép tối thiểu là 25% trong vòng 5 năm qua(P/E không quan trọng, với những cổ phiếu này có thể vào khoàng 25 - 40).

N – New products, new management, and new highs: sản phẩm mới, đội ngũ quản lý mới, giá đạt những mốc cao mới. Đó là những cổ phiếu đáng quan tâm.

S – Supply and demand: cung và cầu, càng có ít cổ phiếu trên thị trường, thì sức mua sẽ càng đẩy giá lên cao hơn. Nên tìm những cổ phiếu chỉ có số lượng lưu hành khoảng 10 -12 triệu.

L – Leaders and laggards: những cổ phiếu dẫn đầu và những cổ phiếu ì ạch, giữ lại những cổ phiếu vượt trội so với thị trường và đẩy những cổ phiếu của các công ty hoạt động kém đi.

I – Institutional ownership: ủng hộ các công ty có sự đầu tư của các nhà đầu tư có tổ chức.

M – Market direction: theo sát chiều hướng biến động của thị trường

Tác phẩm:

     " How To Make Money In Stocks" (1988).
     "24 Essential Lessons For Investment Success"  (1999).
     "The Successful Investor" (2003).

Trích dẫn:

"Khi mà thị trườg có xu hướng đi theo hướng ngược lại với suy nghĩ của đa số mọi người thì tôi có thể nói, 95% những người mà bạn có thể nghe được trên truyền hình đang đưa ra những ý kiến cá nhân. Và các ý kiến cá nhân thì luôn là ... vô dụng còn thị trường thì đáng tin cậy hơn nhiều."

"Toàn bộ bí mật của chuyện thắng thua trên thị trường chứng khoán chỉ đơn giản nằm ở chỗ anh thua lỗ ít nhất có thể khi anh không đúng."

"Những cổ phiếu giá có vẻ cao và rủi ro đối với phần đông mọi người thường lại tăng cao hơn, còn những cổ phiếu giá có vẻ thấp thường lại hạ thấp hơn."

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2011

Steve Jobs: Không bao giờ mỉa mai, không bao giờ hoài nghi, không bao giờ bi quan!


Mona Simpson là một tiểu thuyết gia và là giảng viên tiếng Anh tại ĐH California, Los Angeles. Bà đã đọc điếu văn cho anh trai Steve Jobs vào ngày 16/10 tại buổi lễ tưởng niệm ở Nhà thờ Tưởng nhớ của ĐH Stanford.

Tôi là con một sống cùng một bà mẹ đơn thân. Chúng tôi nghèo. Vì tôi biết bố tôi đã di cư từ Syria, nên tôi tưởng tượng ông ấy trông giống như Omar Sharif. Tôi mong ông ấy giàu có, tốt bụng. Ông ấy sẽ bước vào cuộc sống của chúng tôi (và căn hộ tồi tàn của chúng tôi) và thay đổi nó. Sau khi đã gặp bố, tôi cố tin rằng ông phải đổi số điện thoại và bỏ đi mà không để lại địa chỉ vì ông là một nhà cách mạng với nhiều lý tưởng. Ông đang lên kế hoạch cho một thế giới mới của người Ả Rập.

Dù là một người ủng hộ nữ quyền nhưng cả cuộc đời mình, tôi vẫn chờ đợi một người đàn ông để yêu thương. Trong nhiều thập kỉ, tôi từng nghĩ rằng người đàn ông đó là bố tôi. Khi tôi 25 tuổi, tôi gặp người đàn ông đó: anh trai tôi.

Năm 1985, tôi sống ở New York, cố gắng để viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên. Tôi làm việc cho một tạp chí nhỏ, ở một văn phòng có diện tích bằng một chiếc tủ quần áo cùng 3 nhà văn đầy tham vọng khác.

Vào một ngày, một luật sư gọi cho tôi – một cô gái tầng lớp trung lưu tới từ California, người đã cãi cọ với ông chủ để chúng tôi được mua bảo hiểm y tế. Người luật sư này nói rằng khách hàng của ông là một người nổi tiếng, giàu có và anh ta là người anh trai thất lạc đã lâu của tôi. Khi biết tin này, những đồng nghiệp trẻ của tôi như phát điên. Họ bắt đầu cá cược.

Ứng cử viên hàng đầu là John Travolta. Tôi âm thầm hi vọng rằng mình là một hậu duệ văn học của Henry James – một người tài năng hơn tôi, một người thông minh mà thậm chí không cần cố gắng.

Tôi gặp Steve, một chàng trai tầm tuổi tôi, mặc quần jean, trông giống người Do Thái hoặc Ả Rập và đẹp trai hơn Omar Sharif.

Chúng tôi đã đi bộ khá lâu – một thói quen mà ngẫu nhiên cả hai đều thích. Tôi không nhớ nhiều về việc chúng tôi đã nói gì vào ngày đầu tiên gặp nhau, chỉ nhớ rằng anh ấy có vẻ là người mà tôi muốn làm bạn. Anh giải thích rằng anh làm việc trong lĩnh vực máy vi tính.

Tôi không biết nhiều về máy vi tính. Lúc đó tôi vẫn làm việc với một chiếc máy đánh chữ Olivetti có hướng dẫn sử dụng. Tôi đã kể với Steve rằng tôi đang xem xét để mua chiếc máy vi tính đầu tiên có tên gọi là Cromemco.

Steve nói với tôi rằng đó là một thứ tốt đẹp mà tôi đang chờ đợi. Anh ấy nói rằng anh đang làm một cái gì đó trông sẽ rất đẹp.

Tôi muốn chia sẻ với các bạn một vài điều mà tôi đã học được từ Steve trong suốt 3 giai đoạn riêng biệt, trong suốt 27 năm tôi biết anh ấy. Đó không phải là những giai đoạn tính theo khoảng thời gian, mà là theo tình trạng của anh: cuộc sống đầy đủ, thời gian bệnh tật và khi Steve chết.

Steve đã làm việc ở nơi mà mình yêu quý. Anh làm việc chăm chỉ. Mỗi ngày.

Nhưng ngược lại, anh đãng trí.

Khi anh bị đuổi ra khỏi Apple, mọi thứ thật đau buồn. Anh ấy đã nói với tôi về bữa tối mà ở đó 500 nhà lãnh đạo Silicon Valley đã gặp Tổng thống đương thời mà Steve không được mời.

Bị tổn thương nhưng Steve vẫn làm việc ở Next. Mỗi ngày.
Sự mới lạ không phải là giá trị cao nhất của Steve. Vẻ đẹp mới là giá trị cao nhất.

Steve khá trung thành. Nếu thích một cái áo, anh ấy sẽ đặt mua 10 hoặc 100 cái. Trong ngôi nhà ở Palo Alto, có thể có đủ áo cotton cổ lọ màu đen cho tất cả mọi người trong nhà thờ này.

Steve không ủng hộ mánh lới. Anh giống những người ở độ tuổi của mình.

Triết lý thẩm mỹ của Steve làm tôi nhớ đến một câu nói: “Thời trang là cái trông có vẻ đẹp bây giờ nhưng xấu xí sau này; nghệ thuật có thể xấu xí lúc đầu nhưng sẽ đẹp sau đó”.

Steve luôn khao khát làm ra "cái đẹp sau đó".

Anh sẵn lòng chấp nhận bị hiểu lầm.

Steve giống như một cô gái khi nói về tình yêu. Tình yêu là ưu điểm lớn nhất, là thần của các vị thần của Steve. Anh quan tâm tới cuộc sống tình cảm của những người làm việc cùng mình.

Bất cứ khi nào anh nhìn thấy một người đàn ông, anh đều nghĩ tới một phụ nữ và gợi ý: “Này, đang cô đơn à? Có muốn ăn tối với em gái tôi không?”

Tôi nhớ rằng vào cái ngày mà anh gặp Laurene, Steve đã gọi cho tôi: “Có một phụ nữ rất xinh đẹp. Cô ấy thực sự thông minh và có một chú chó. Anh sẽ kết hôn với cô ấy”.

Khi Reed được sinh ra, anh ấy bắt đầu bận rộn và không còn chút thời gian nào rảnh nữa. Anh là một ông bố tâm lý. Steve chọc tức bạn trai của Lisa, khích động Erin vì độ dài của chiếc váy và quan tâm tới sự an toàn của Eve khi ở cạnh những con ngựa mà con bé yêu mến.

Không ai trong số chúng tôi tham gia bữa tiệc tốt nghiệp của Reed quên được cảnh Reed và Steve nhảy múa. Anh tin rằng tình yêu có mặt ở mọi lúc, mọi nơi. Steve không bao giờ mỉa mai, không bao giờ hoài nghi, không bao giờ bi quan. Tôi đã cố gắng học điều đó.

Steve thành công khi còn trẻ và cảm thấy rằng điều đó đã làm bản thân bị cô lập. Hầu hết những lựa chọn mà anh đưa ra trong khoảng thời gian tôi biết anh đều nhằm phá tan những bức tường cô lập bao vây xung quanh mình. Là một cậu bé tầng lớp trung lưu tới từ Los Alto, anh yêu một cô gái trung lưu tới từ New Jersey. Điều quan trọng là cả hai đều nuôi dạy Lisa, Reed, Erin và Eve như những đứa trẻ bình thường.

Dù là một triệu phú trẻ nhưng Steve luôn đón tôi ở sân bay. Anh mặc chiếc quần jean và đứng đó.

Khi một thành viên trong gia đình gọi tới nơi làm việc của Steve, thư kí Linetta sẽ trả lời: “Bố bạn đang họp. Bạn có muốn ngắt quãng ông ấy không?”

Steve rất khiêm tốn. Anh đã kể rằng mình thích tới cửa hàng xe đạp ở Palo Alto nhiều như thế nào và anh hân hoan nhận ra rằng mình đủ khả năng để mua chiếc xe đạp tốt nhất ở đó. Và anh đã mua.

Một lần Steve nói với tôi rằng nếu mình lớn lên theo cách khác thì có thể đã trở thành một nhà toán học. Anh luôn nói về các trường đại học một cách tôn kính và thích đi bộ quanh khuôn viên ĐH Stanford.

Steve trau dồi những kiến thức rất khác thường. Có CEO nào biết về lịch sử của tiếng Anh, hồng trà Trung Quốc và yêu thích loài hoa hồng David Austin không?

Anh có những bất ngờ cất giấu trong ngăn kéo. Tôi dám cá rằng Laurene sẽ phát hiện ra những bài hát mà Steve yêu thích, một bài thơ được cắt ra và đặt trong ngăn kéo – thậm chí sau 20 năm kết hôn. Tôi nói chuyện với Steve hằng ngày nhưng khi tôi mở tờ New York Times ra và thấy một bài viết về bằng sáng chế của Apple, tôi vẫn thấy ngạc nhiên và vui mừng khi thấy một bản phác thảo cho một chiếc cầu thang hoàn hảo.

Với 4 đứa con cùng vợ và tất cả chúng ta, Steve đã có rất nhiều niềm vui. Steve trân trọng hạnh phúc.

Sau đó, Steve bị bệnh và chúng tôi chứng kiến cuộc sống của anh bị thu hẹp vào một vòng tròn nhỏ hơn. Anh thích đi bộ dọc Paris và tìm ra một cửa hàng tự làm mì lạnh soba nhỏ ở Kyoto.

Cuối cùng, ngay cả những thú vui bình thường cũng không thể níu giữ được anh nữa.

Tuy vậy, những điều làm tôi ngạc nhiên và những điều tôi học được từ quãng thời gian bệnh tật của Steve là vẫn còn rất nhiều thứ ở lại sau khi rất nhiều thứ đã ra đi.

Tôi nhớ anh trai tôi lại một lần nữa học cách đi bộ cùng một chiếc ghế. Sau khi cấy ghép gan, vào một ngày, anh đã đứng dậy được bằng đôi chân của mình – đôi chân quá gầy guộc để chống đỡ cả thân hình, cánh tay bám vào phía sau chiếc ghế. Anh đã đẩy chiếc ghế dọc hành lang bệnh viện Memphis để tới khu điều dưỡng, sau đó ngồi xuống ghế, nghỉ ngơi, quay lại và đi bộ trở lại một lần nữa. Steve đếm số bước mình đi được và mỗi ngày ép mình đi xa hơn ngày hôm trước.

Laurene đã nhìn vào mắt chồng và nói: “Anh có thể làm được điều này, Steve”. Đôi mắt Steve mở to, môi mím chặt vào nhau.

Anh đã cố gắng, luôn luôn cố gắng trong đó tình yêu thương là điều cốt lõi của những nỗ lực đó.

Tôi nhận ra rằng trong suốt khoảng thời gian đáng sợ đó, Steve đã không chịu đựng nỗi đau cho chính mình. Anh đã đặt ra những đích đến: đó là lễ tốt nghiệp phổ thông của cậu con trai Reed, chuyến đi Tokyo của cô con gái Erin, lễ hạ thủy chiếc du thuyền dự định để đưa cả gia đình đi vòng quanh thế giới, nơi mà anh hi vọng mình và Laurene sẽ nghỉ hưu vào một ngày nào đó.

Không ai trong số chúng ta biết chắc chắn về việc sẽ tồn tại trên thế gian này bao lâu. Tôi cho rằng nếu gọi cái chết của một người mắc bệnh ung thư trong nhiều năm là bất ngờ thì không hoàn toàn chính xác, tuy nhiên sự ra đi của Steve là điều không ngờ tới với chúng tôi.

Điều tôi học được từ sự ra đi của anh trai tôi là sự quan trọng của nghị lực.

Sáng ngày thứ Ba, anh gọi cho tôi và đề nghị tôi nhanh chóng tới Palo Alto. Giọng xúc động, anh xin lỗi vì đã rời bỏ chúng tôi.

Anh bắt đầu nói lời tạm biệt. Tôi đã ngăn lại và nói: “Đợi đã! Em đang đến. Em đang trên taxi tới sân bay. Em sẽ tới đó”.

“Anh sẽ nói chuyện với em bây giờ vì anh e rằng em sẽ không tới kịp”.

Khi tôi tới, Steve và Laurene đang trò chuyện. Anh nhìn vào mắt những đứa con. Tới khoảng 2 giờ chiều, hơi thở của Steve thay đổi. Tôi cảm thấy, anh lại đang đếm những bước đi của mình, buộc phải đi xa hơn lần trước đó.

Đây là điều tôi đã học được từ anh: ngay lúc đó anh vẫn đang làm việc. Cái chết không đến với Steve mà anh tìm đến nó.

Khi nói lời tạm biệt, anh đã nói rất tiếc vì chúng tôi không thể sống trong tuổi già cùng nhau như dự kiến, rằng anh sẽ tới một nơi tốt hơn.

Những lời cuối cùng của Steve được lặp đi lặp lại 3 lần.

Trước khi ra đi, Steve đã nhìn cô em gái Patty, sau đó tới những đứa con, rồi cuối cùng là Laurene.

Những lời cuối cùng của Steve là: Oh Wow. Oh Wow. Oh Wow.

Theo saga