Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyên tắc đầu tư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyên tắc đầu tư. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 5 tháng 12, 2011

10 lời khuyên đầu tư hay nhất của các tỷ phú

Donald Trump khuyên bạn cảnh giác trước những điểm mù, còn theo Joe Jamail thì tốt nhất đừng đầu tư vào đâu cả. 


1. Eli Broad
 
Broad khởi nghiệp với việc xây nhà, và hiện giờ thì ông mua bán các công ty bảo hiểm. Đáng chú ý trong sự nghiệp của ông là việc thành lập công ty bảo hiểm Sun Life, và năm 1999 ông đã bán lại công ty này cho AIG với giá 18 tỷ USD. Ông có một bộ sưu tập tranh ấn tượng và một quỹ từ thiện mang tên The Broad Foundation – quỹ này đang quản lý số tài sản trị giá 2,1 tỷ USD. 



Lời khuyên hay nhất của ông: Đừng đem trang trại của bạn ra đánh cược.
 
Ông sẽ đầu tư hàng triệu USD vào đâu: Những công ty tiêu dùng đa quốc gia chất lượng cao như Procter & Gamble, Coca-Cola, Kraft Food và Johnson & Johnson.”

Tin ngoài lề: Ông cho rằng đồng đôla vẫn mạnh còn đồng euro sẽ rớt thê thảm vào năm 2012. Với các quỹ phòng vệ rủi ro, ông thích các quỹ và các nhà quản lý có tầm nhìn dài hạn tốt như Seth Klarman.

2. Patrick Soon-Shiong

Soon-Shiong là người đầu tiên thực hiện thành công cấy ghép tuyến tụy tại trường Y học UCLA năm 1991. Sau khi rời trường, ông đồng thành lập Vivo RX Pharmaceuticals và cùng phát minh ra thuốc điều trị ung thư vú Abraxane. Hiện ông có cổ phần ở hơn 30 công ty và một ít cổ phiếu tại LA Lakers – đây là khoản đầu tư mà theo ông là lãi hơn vàng.



Lời khuyên hay nhất của ông: Đầu tư vào chính mình và vào những người bạn tin tưởng.
 
Ông sẽ đầu tư hàng triệu USD vào đâu: Điều quan trọng nhất vào lúc này là đừng để mất tiền.

Tin ngoài lề: Vàng vừa là bong bóng vừa là điều bí ẩn, nhưng không phải một cơ hội.

3. Peter Hargreaves

Hargreaves có 32,2% cổ phần tại hãng môi giới bán lẻ lớn nhất nước Anh, hãng Hargreaves Landsown do ông đồng sáng lập năm 1981. Hiện ông đang quản lý 388.000 khách hàng và 35,7 tỷ USD.


Ông sẽ làm gì với 1 triệu USD: Một nửa vào đồng curon Na-Uy, 1 nửa vào đô Sing.

Vậy còn các khoản đầu tư có thu nhập cố định: Hargreaves thích trái phiếu của Đức khi đồng euro rớt thảm trong cuộc chơi tiền tệ.

Tin ngoài lề:Hargreaves còn là một người làm vườn đầy say mê.

4. Randall J. Kirk

Quỹ đầu tư mạo hiểm của Kirk mang tên Third Security đầu tư phần lớn vào các công ty công nghệ sinh học. Năm 2007 ông đạt được thỏa thuận trị giá nhất trong sự nghiệp khi bán New River Pharmaceuticals với giá 2,6 tỷ USD – ông được bỏ túi 1,2 tỷ USD từ thỏa thuận đó. Kể từ đó ông vẫn làm ăn rất khá. Hiện ông có nhà riêng tại California, Connecticut, Virginia và Florida. Khi không làm việc, ông tới phòng thu của mình để soạn nhạc điện tử. 



Lời khuyên hay nhất của ông: “Thỏa thuận tốt cũng giống như điểm dừng xe buýt, góc phố nào cũng có một chiếc.” Đây là câu nói của Red Robertson, người đã đầu tư vào thỏa thuận đầu tiên của ông. Câu nói này không thể hiện sự hứng thú đối với thỏa thuận của tôi, mà với nỗ lực của tôi nhiều hơn. Đó là một nhà đầu tư quan tâm đến những người đứng sau một thương vụ hơn cả bản thân thương vụ đó.

5. Mikhail Prokhorov

Prokhorov sở hữu đội bóng rổ New Jersey Nets và một lối sống xa hoa. Ông bắt đầu bằng việc bán 25% cổ phần tại OAO GMK Norilsk Nickel, hãng sản xuất nickel lớn nhất thế giới. Ông nhận được 5 tỷ USD và 17% cổ phần của công ty sản xuất nhôm United Co. Russia sau vụ mua bán này.


Lời khuyên hay nhất của ông: Hãy đứng thẳng lung và đừng sốt ruột – một câu tục ngữ Nga. 
 
Ba chỉ báo kinh tế ảnh hưởng đến sự đầu tư của ông: Dữ liệu của viện kinh tế Đức IFO về kỳ vọng kinh doanh là tốt nhất cho lĩnh vực sản xuất toàn cầu. Dữ liệu của tổ chức Conference Board (Mỹ) là thước đo tốt nhất cho niềm tin tiêu dùng của người Mỹ. Chỉ số PMI sản xuất của Trung Quốc rất chuẩn cho sự tăng trưởng và xuất khẩu tại Trung Quốc. Còn ở các thị trường mới nổi, chỉ số lạm phát, thâm hụt ngân sách, chỉ số tăng trưởng sản xuất và doanh thu bán lẻ là các thước đo quan trọng.”

Tin ngoài lề: Quản lý tài chính mà Prokhorov tin tưởng giao phó toàn bộ danh mục đầu tư của mình là… “Mikhail Prokhorov… Tôi tự tay ký tất cả các tờ séc của mình”.

6. Menin Teixeira de Souza

Teixeira de Souza kiếm tiền từ việc xây nhà cho những người Brazil thu nhập thấp, thành lập tập đoàn xây dựng lớn thứ 5 (về doanh thu) tại Brazil mang tên MRV Engenharia & Participacoes SA hồi những năm 1970. Ông hiện vẫn sở hữu 32% cổ phần của công ty này và đang sống tại Belo Horizonte, Brazil.


Lời khuyên hay nhất của ông: Tốt nhất bạn nên mua trái phiếu C-bond của Brazil khi chúng được giao dịch dưới mức 40 cent.

Ông sẽ đầu tư một triệu USD vào đâu: Trái phiếu hạng đầu tư Brazil.

Tin ngoài lề:Các chỉ số kinh tế ảnh hưởng đến sự đầu tư của ông nhất là S&P 500 và tỷ giá hối đoái thực tế so với đồng USD.

7. John Paul DeJoria

Năm 1980, DeJoria đầu tư vào công ty chăm sóc tóc tên Paul Mitchell của người bạn. Hiện giờ doanh thu hàng năm của công ty này vào khoảng 1 tỷ USD. DeJoria đã rất thông minh lấy tiền từ khoản đầu tư đó để đồng sáng lập thương hiệu rượu tequila Patron.


Lời khuyên hay nhất của ông: Hãy tìm cách mua được quyền chọn bán.

Ông sẽ đầu tư một triệu USD vào đâu: 25% vào vàng, 25% vào bạc, 25% vào các cổ phiếu blue-chip có cổ tức trên NYSE và 25% vào các cổ phiếu blue-chip có cổ tức tại châu Á và châu Âu.”

Tin ngoài lề:Thẩm mỹ viện là chỉ số kinh tế tốt nhất. Thông thường, khách hàng sẽ tới đó 6 tuần 1 lần, khi kinh tế đi xuống họ giảm xuống 8 tuần 1 lần. Khi kinh tế hồi phục trở lại, mọi thứ sẽ trở về như cũ.

8. Donald Trump

Mọi người đều biết về tỷ phú này: từ bất động sản đến TV, ông định biến họ “Donald” của mình thành một thương hiệu đồng nghĩa với “kinh doanh mọi thứ”. 


Lời khuyên hay nhất? “Bố tôi, ông Fred C. Trump, bảo tôi phải biết tường tận nhất có thể về những gì tôi đang làm. Ông đặt niềm tin ở những nơi ông có thẻ quan sát thấu đáo và cảnh giác trước những điểm mù.”
 
Ông sẽ đầu tư một triệu USD vào đâu: Cổ phần, trái phiếu doanh nghiệp, và nếu bạn biết rõ mình đang làm gì, hãy mua lại những ngôi nhà bị ngân hàng tịch thu và yêu cầu được cấp vốn dài hạn với mức lãi suất tốt.

Tin ngoài lề:Khoản đầu tư tốt nhất của tỷ phú Trump là mua lại tòa nhà số 40 Wall Street, còn khoản đầu tư tệ nhất là một chiếc du thuyền.
9. Alisher Usmanov

Usmanov là đầu sỏ trong các đầu sỏ chính trị Nga. Ông điều hành Gazprominvestholding, một công ty đầu tư của hãng dầu khí độc quyền của nhà nước. Ông có 45% cổ phần trong Mettalloinvest, hãng khai thác quặng sắt lớn nhất nước Nga.



Khi mua cổ phiếu: “Trước tiên tôi tin vào chính bản năng của mình, vào kinh nghiệm mà tôi có được sau nhiều năm và vào cảm giác về thời điểm chính xác nên mua cổ phiếu là lúc nào. Trực giác – đó là cách mọi người vẫn gọi.”
 
Về tiền tệ:“Nếu các lãnh đạo châu Âu không có một quyết định rõ ràng về việc thoát khỏi khủng hoảng thế nào, thì khả năng rất cao chúng ta sẽ được chứng kiến nhiều quốc gia thành viên phá sản. Đồng euro sẽ bị tổn hại nhiều nhất. Tuy nhiên bản thân điều này lại không hoàn toàn xấu đối với nền kinh tế châu Âu, khi những trụ cột như nước Đức sẽ nhận được sự ủng hộ đối với việc xuất khẩu.”

Tin ngoài lề:Ông là một nhà đầu tư tại Groupon và Facebook. Ông cũng sở hữu 29% cổ phần tại đội bóng Arsenal cùng một thành viên khác.

10. Joe Jamail

Mọi người gọi Jamail là “Vua gây sự”. Sở dĩ có cái tên này vì ông từng đại diện cho Penzoil trong một vụ kiện chống lại Texaco năm 1985. Chỉ riêng phiên tòa sơ thẩm đã mang lại cho ông 335 triệu USD. Giờ đây, ở tuổi 86, ông tham gia vào các vụ kiện liên quan đến thương tích cá nhân và các hành động phi pháp. Trong quãng đời sự nghiệp của mình, ông kiếm được khoảng 13 tỷ USD.


Lời khuyên đầu tư hay nhất của ông:“Bố tôi bảo rằng: ‘Đừng mua bất cứ thứ cổ phiếu đáng nguyền rủa nào, hiểu không?’ Ông có một chuỗi cửa hàng tạp phẩm. Ông thích tiền mặt.”
 
Dù vậy, nếu có mua cổ phiếu thì…“Tôi thường không đầu tư nhiều vào trị trường một cách trực tiếp. Tôi luôn nhìn vào tỷ suất lợi nhuận thay vì nhìn vào thu nhập, bởi tiền thì tôi có quá thừa từ văn phòng luật của mình rồi. Hầu hết tôi đầu tư vào trái phiếu.”

Tin ngoài lề: Khoản đầu tư tốt nhất của ông là một tấm bằng luật sư, và tệ nhất là cổ phiếu của hãng hàng không. Lời khuyên của ông lúc này là: Nếu bạn có 1 triệu USD, thì tốt nhất hãy giấu nó dưới gầm giường.
 
Theo TTVN/BusinessInsider

Xem thêm:

Khoa học làm giàu

Kiên định và thành công!

9 điểm khác biệt của người thành đạt 

Đặc điểm của những người thành đạt (P.3)

Người Thành Công vs. Kẻ Thất Bại (P.3)

Người Thành Công vs. Kẻ Thất Bại (P.2)

Người Thành Công vs. Kẻ Thất Bại (P.1)

Học cách nghĩ của các thiên tài

Napoleon Hill: Người thành công, kẻ thất bại ... Tại sao?

Rất thành công và thành công là cả một sự khác biệt lớn (Phần cuối)

Cách tư duy của những người thành đạt

 

Bạn có thể xem thêm nếu bạn muốn:

Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2011

Bí Quyết Đầu Tư Thành Công của Jim Rogers

James Beeland Rogers, Jr. là một nhà đầu tư gốc Mỹ. Ông bắt đầu kinh doanh từ khi lên 5 bằng việc bán đậu phọng. Rogers tốt nghiệp Yale University và có một bằng BA về triết học, chính trị và kinh tế học ở Oxford University.

Rogers trở thành một huyền thoại Wall Street khi ông cùng George Soros lập quỹ Founded The Quantum Fund.

Sau sự nghiệp làm một quản lý quỹ hedge fund, ông hiện thỉnh thoảng dạy tài chính ở Columbia University, và bình luận trên CNBC Cable Network.

Transcript của cuộc phỏng vấn Jim Rogers năm 2009 được thực hiện bởi tờ Financial Times sẽ tiết lộ vài điều về bí quyết đầu tư thành công của ông.

Bí quyết thành công của ông là gì?

Bởi vì tôi không thông minh hơn hầu hết mọi người, nên tôi sẵn sàng làm việc chăm chỉ hơn hầu hết mọi người. Tôi luôn chuẩn bị để kiểm tra những tri thức thông thường. Nếu tất cả mọi người nghĩ ra một hướng, đó có thể là sai lầm. Nếu bạn chỉ được ra rằng điều đó là sai, bạn rất có thể kiếm được rất nhiều tiền.

Chiến lược đầu tư cơ bản của ông là gì?

Mua thấp bán cao. Tôi cố gắng tìm những thứ rất rẻ, ở nơi đang có chuyển biến tích cực. Sau đó tôi làm đủ bài tập ở nhà để chắc chắn rằng tôi đã đúng. Nó phải rẻ vì nếu tôi sai thì tôi sẽ không mất nhiều tiền.

Mỗi khi tôi mắc sai lầm, thường là vì tôi không làm đủ bài tập.

Đừng có coi thường giá trị của việc thẩm định due dilingence. Trong thập niên 1060, General Motors là công ty thành công nhất thế giới. Một ngày nọ, một chuyên viên phân tích của GM tới ban giám đốc với thông điệp "Người Nhật đang tới".

Họ phớt lờ anh ta. Những nhà đầu tư mà làm bài tập về nhà đã bán cổ phiếu GM và thay vào đó mua cổ phiếu Toyota.

Tôi hiện không mua cổ phiếu nào. Nếu có thứ nào đang bị định giá thấp thì đó hàng hóa cơ bản và một vài đồng tiền.

Picasso hay Art Deco có thể là một khoản đầu tư không?

Tôi đang ở trong một giai đoạn mà tôi không thấy hứng thú sở hữu hay chất đống những thứ đó.

Người ta nên bỏ tiền vào đâu trong suy giảm kinh tế?

Chỉ nên đầu tư vào những thứ mà bạn có biết vài điều về chúng. Sai lầm phần lớn mọi người phạm phải là họ nghe theo những mách nước sốt dẻo, hoặc hành động theo những thứ họ đọc trên những tạp chí.

Hầu hết mọi người đều biết rất nhiều về một thứ gì đó, vì vậy họ chỉ nên bám lấy những gì họ biết và mua những khoản đầu tư trong lĩnh vực đó. Đó là cách bạn làm giàu.

Bạn không thể làm giàu bằng cách đầu tư vào những thứ bạn chẳng biết gì.

Theo taichinhdautu

Xem thêm:

Những nhà đầu tư vĩ đại nhất thế giới: William J. O'Neil

Nhà quản lý tiền số một thế giới: Peter Lynch

Top 10 nhà đầu tư xuất sắc nhất trong lịch sử tài chính

William J. ONeil và nguyên tắc đầu tư CANSLIM

Warrent Buffet: 'Hãy tham lam khi mọi người sợ hãi'

Bí quyết đầu tư chứng khoán: Linh cảm của Soros

2 nguyên tắc đầu tư của 2 huyền thoại đầu tư: Buffett và Soros

Nicolas Darvas: Nhà kinh doanh chứng khoán kỳ tài

 

Bạn có thể xem thêm nếu bạn muốn:

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2011

William J. ONeil và nguyên tắc đầu tư CANSLIM


William J. ONeil là một mẫu nhà đầu tư chứng khoán thành công tại Mỹ. Khởi nghiệp bằng nghề kế toán viên, ông nhanh chóng bị cuốn vào cơn sốt cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, để rồi với những công thức đầu tư của riêng mình, ông đã trở thành một nhà “phù thuỷ” tại Wall Street khi thu về hàng triệu USD lợi nhuận mỗi năm từ cổ phiếu. Hiện William là chủ tịch kiêm giám đốc điều hành hãng nghiên cứu đầu tư William J. ONeil & Company do chính ông thành lập.

300 USD là khoản tiền đầu tiên William “rót” vào thị trường chứng khoán với cổ phiếu của Procter & Gamble khi còn phục vụ trong Không lực hoàng gia. Có trong tay tấm bằng cử nhân tài chính của Đại học Southern Methodist, William khởi động sự nghiệp đầu tư của mình trên cương vị một nhà môi giới chứng khoán tại Los Angeles. Biết kinh nghiệm còn ít ỏi, William đã dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu về thành công của các “bậc tiền bối” trên thị trường chứng khoán. Và rồi, nỗ lực của ông đã được đền đáp. William nghiên cứu và đúc kết được 7 yếu tố cần thiết để nhận dạng những cổ phiếu hiện còn ít được giới đầu tư chú ý nhưng lại chính là những tài sản sinh lời lớn trong tương lai. Bảy yếu tố đó được biết đến với cái tên CAN SLIM.

William tâm sự: “Trên thị trường chứng khoán có đến hàng chục nghìn cổ phiếu niêm yết nên nhiều nhà đầu tư đôi khi rất lúng túng trong việc lựa chọn đối tượng để đầu tư. Vấn đề quan trọng đối với họ là “chọn mặt gửi vàng”, nghĩa là phải tìm ra một số loại cổ phiếu thực sự có khả năng sinh lời để đầu tư.

Nhận định của William hoàn toàn phù hợp với một thực tế hiện nay là rất nhiều nhà đầu tư không biết các công ty được niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán đang hoạt động như thế nào và đầu tư vào cổ phiếu của các công ty nào sẽ có lãi? Dưới tác động của “hiệu ứng đám đông”, họ bắt chước nhau, cùng đổ xô đi mua những cổ phiếu đang tăng giá. Nhiều người mua cổ phiếu rồi mà vẫn chưa có trong tay những tài liệu và phương pháp cần thiết để tìm hiểu về mức độ sinh lời của cổ phiếu đó.

Là cha đẻ của phương pháp phân tích và lựa chọn cổ phiếu hiệu quả CAN SLIM, William J. ONeil đã mang lại tốc độ tăng trưởng bình quân 40%/năm cho các tài khoản đầu tư cá nhân được ông tư vấn. Nhiều chuyên gia đánh giá đây là một trong những phương pháp hiệu quả nhất trong vô vàn các công cụ phân tích chứng khoán hiện nay. “CAN SLIM thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa phương pháp phân tích cơ bản với phương pháp phân tích kỹ thuật đầu tư chứng khoán”- John Neff, một cây đại thụ của phố Wall, cho biết.

CAN SLIM là tập hợp bảy chữ cái đầu tiên của bảy yếu tố mà theo William là rất hiệu quả khi đánh giá cổ phiếu:

C: Current Quaterly Earnings Per Share (lãi ròng trên mỗi cổ phiếu của quý gần nhất)

William nhận định rằng, hầu hết các cổ phiếu tốt đều có sự gia tăng lợi nhuận so với cùng quý năm trước đó và tỷ lệ tăng càng cao thì chứng tỏ cổ phiếu càng có nhiều triển vọng. Theo ông, các nhà đầu tư trước khi bỏ tiền ra mua cổ phiếu cần xem xét tới sự gia tăng mạnh mẽ lợi nhuận của cổ phiếu đó, cụ thể là mức tăng trưởng của lãi ròng trên mỗi cổ phiếu trong 3 tháng gần nhất.

Nhưng phải tìm hiểu sự gia tăng lợi nhuận này ở đâu và như thế nào? William cho rằng nhà đầu tư có thể nghiên cứu các báo cáo tài chính có kiểm toán của công ty niêm yết, cùng với việc thăm dò các các kênh thông tin khác như báo chí, người quen… Điều quan trọng là các nhà đầu tư cần coi trọng độ tin cậy và tính đồng nhất của thông tin, chẳng hạn có thể có điều gì đó không đúng, nếu doanh thu của công ty tăng 20%, trong khi lãi ròng chỉ tăng 5%.

A: Annual Earnings Increases (sự gia tăng lãi ròng hàng năm)

Theo ONeil, cổ phiếu tốt là cổ phiếu có mức gia tăng lợi nhuận đều đặn trong vòng 5 năm trước đó. Các nhà đầu tư cần đặc biệt lưu ý tới các cổ phiếu có mức gia tăng lợi nhuận hàng năm ổn định và đạt trên 25%, tuy nhiên nên chú ý tới chu kỳ kinh doanh của từng ngành, từng công ty. Theo ONeil, tiêu chí này có thể giúp bạn loại bỏ khoảng 80% các cổ phiếu tồi.

Để có được sự chính xác về mức gia tăng lợi nhuận, nhà đầu tư cần nghiên cứu tất cả các thông tin liên quan đến công ty mà họ muốn đầu tư. Các thông tin này bao gồm lịch sử và đặc điểm của công ty, tình hình tài chính, các chi tiết của đợt phát hành cổ phiếu và tổ chức bảo lãnh phát hành cổ phiếu. Nhà đầu tư có thể tìm các thông tin này trong Bản thông cáo phát hành, trong Báo cáo tài chính của công ty hoặc từ các công ty dịch vụ tư vấn đầu tư. Các quyết định đầu tư chỉ nên đưa ra khi bạn đã có đủ cơ sở thông tin về cổ phiếu cũng như về mức tăng trưởng lãi ròng hàng năm.

N: New Products, New Management, New Highs (sản phẩm mới, sự quản lý mới, mức giá trần mới)

Những nghiên cứu của William chỉ ra rằng giá cổ phiếu tăng sẽ bắt nguồn từ một số nhân tố nội tại nào đó. Những nhân tố này thường là sản phẩm mới của công ty, ban giám đốc mới, phương thức quản lý mới hay mức giá trần mới của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

Do vậy, sẽ không bao giờ thừa nếu các nhà đầu tư quan tâm đến những nhân tố nội tại này. Nếu xét thấy những nhân tố này có sự ổn định, không có biểu hiện đột biến theo chiều hướng xấu, thì đó sẽ là một cổ phiếu có nhiều triển vọng tăng trưởng trên thị trường chứng khoán.

S: Supply and Demand (nguồn cung và cầu)

Trong kinh doanh, quy luật cung cầu luôn có ảnh hưởng rất lớn đến giá thành sản phẩm, và đầu tư chứng khoán cũng không phải là một ngoại lệ. Giá cổ phiếu cũng chịu tác động từ quy luật cung cầu. William cho rằng cổ phiếu của các công ty đại chúng, có quy mô lớn, sản phẩm chất lượng không phải lúc nào cũng đáng để mua, bởi lượng cầu của những cổ phiếu này khá lớn, trong khi nguồn cung lại ít nên giá thường bị đẩy lên cao giả tạo, không phản ánh đúng giá trị thực tế của cổ phiếu cũng như rất khó sinh lợi nhuận lớn.

Chính những cổ phiếu có số lượng lưu hành thấp trên thị trường mới có nhiều triển vọng và có khả năng tăng giá hơn so với các cổ phiếu có số lượng lưu hành lớn. Từ đó suy ra, cổ phiếu được các nhà quản trị hàng đầu nắm giữ với tỷ lệ lớn thường là những cổ phiếu có độ an toàn cao. William đặc biệt lưu ý tới các cổ phiếu được công ty mua lại và cổ phiếu của các công ty có tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn tự có vừa phải, bởi theo ông thì tỷ lệ này càng cao bao nhiêu công ty sẽ càng phải đương đầu với áp lực trả lãi trong tương lai nhiều bấy nhiêu. Các nhà đầu tư nên so sánh tỷ số này ở công ty mình dự định đầu tư với tỷ số nợ bình quân ở các công ty trong cùng ngành, đồng thời phân tích thêm khả năng thanh toán để có đánh giá xác thực hơn về mức độ nợ của công ty.

L: Leader and Laggard (cổ phiếu đầu bảng và cổ phiếu tụt hậu)

Theo ONeil, nhà đầu tư trên thị trường chỉ nên mua 2 hay 3 cổ phiếu tốt nhất trong nhóm những cổ phiếu đầu bảng hiện tại, còn lại nên dành tiền cho những cổ phiếu có khả năng sinh lời trong tương lai. Ðặc biệt, các nhà đầu tư cần tránh mua những cổ phiếu có mức tăng trưởng cao nhưng không bền vững, chẳng hạn như cổ phiếu lên giá theo trào lưu, theo sự kiện nổi bật… bởi vì các cổ phiếu này được đánh giá là những cổ phiếu tụt hậu, không sớm thì muộn cũng mất giá.

I: Institutional Sponsorship (sự ủng hộ của các định chế tài chính và đầu tư)

Định chế tài chính đầu tư ở đây thường là các cơ quan chức năng, các cơ quan chính phủ chuyên về tài chính đầu tư. Các cơ quan này có thể nắm giữ một số lượng cổ phiếu nhất định của các công ty nào đó, nhờ vậy mà công ty sẽ có sự ủng hộ và trợ giúp mạnh mẽ từ những cơ quan này, một điều kiện vô cùng thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, khiến giá cổ phiếu tăng mạnh. Tuy nhiên, một số lượng quá lớn các định chế tài chính đầu tư nắm giữ cổ phiếu lại trở thành yếu tố bất lợi, vì điều đó đồng nghĩa với việc nguồn cung sẽ hạn chế bởi các cơ quan ít khi muốn bán từng phần cổ phiếu của mình, đẩy tính thanh khoản của cổ phiếu xuống thấp.

M: Market Direction (định hướng thị trường)

Cho dù bạn hoàn toàn chính xác khi nhận định về cả 6 tiêu chí kể trên, nhưng đến tiêu chí định hướng thị trường bạn mắc phải sai lầm thì sẽ có đến 5 trong số 7 cổ phiếu bạn mua sẽ mất giá và khiến bạn thua lỗ. Yếu tố thị trường là rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá cổ phiếu. Khi hàng loạt các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường bị mất giá, thì giá cổ phiếu của công ty mà bạn lựa chọn chắc chắn cũng sẽ sụt giảm theo. Ngược lại, nếu giá cổ phiếu của các công ty này tăng theo sự phát triển của thị trường thì cổ phiếu bạn mua vào cũng được “ăn theo” những chỉ số tích cực đó. Do đó, William nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc nghiên cứu các đồ thị biến động giá chứng khoán theo ngày, theo tuần và theo tháng trước mỗi quyết định đầu tư cổ phiếu.

Một trong những thành công lớn nhất của William là đầu tư vào cổ phiếu của hãng dược phẩm Syntex. Đây là hành động táo bạo và liều lĩnh, theo đánh giá của các nhà đầu tư chuyên nghiệp lúc bấy giờ, bởi Syntex là hãng sản xuất thuốc tránh thai đầu tiên trên thế giới. Nhưng rồi kết quả đã chứng minh quyết định của William là đúng. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Syntex đã công bố doanh thu hàng quý tăng trưởng trên 300% và cổ phiếu của Syntex từ chỗ còn “ẩn danh” với mức giá 100 USD/cổ phiếu đã trở thành cổ phiếu tăng trưởng mạnh mẽ với mức giá 550 USD/cổ phiếu trong vòng chưa đầy sáu tháng. Chính nhờ khoản lợi nhuận kếch sù từ Syntex mà William đã có tiền để thành lập công ty William J. ONeil & Company của riêng mình.

Goerge Soros, một trong những nhà đầu tư lớn nhất tại phố Wall, đúc kết rằng: “Không có lĩnh vực nào đem lại lợi nhuận nhanh và lớn bằng đầu tư chứng khoán”. Có khá nhiều người xem việc đầu tư chứng khoán là cuộc chơi ngẫu hứng với hy vọng sẽ kiếm được nhiều tiền một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, lĩnh vực đầu tư đầy hấp dẫn này dường như không có chỗ cho những quyết định theo cảm tính. Đối với William ONeil cũng như nhiều “cây đại thụ” khác tại phố Wall, các quyết định lựa chọn cổ phiếu cần được dựa trên sự phân tích và phối kết hợp giữa các yếu tố định lượng và định tính. Chìa khoá phân tích trong đầu tư cổ phiếu là tìm ra những cổ phiếu có tiềm năng tăng trưởng lớn nhất trong thời điểm bạn mua chúng. Nói cách khác, bạn phải có kỹ năng phán đoán, xem xét và phân tích vấn đề cùng với việc hoạch định một kế hoạch đầu tư thích hợp để xác định thời điểm mua vào những cổ phiếu mạnh và bán đi những cổ phiếu yếu.

Theo saga/Global-investor
Xem thêm:

Những nhà đầu tư vĩ đại nhất thế giới: William J. O'Neil

Những Nguyên Tắc Kinh Doanh Cổ phiếu của William J. O’Neil

Nicolas Darvas: Nhà kinh doanh chứng khoán kỳ tài

Nhà quản lý tiền số một thế giới: Peter Lynch

Top 10 nhà đầu tư xuất sắc nhất trong lịch sử tài chính

 

Bạn có thể xem thêm nếu bạn muốn:

Những lời thông thái của Warren Buffet

“Quy luật 1: Không bao giờ làm mất tiền. Quy luật 2: Không bao giờ quên quy luật 1.” – Warren Buffet

Bí quyết vĩ đại nhất để làm giàu là dùng tiền để sinh ra tiền, với số vốn ban đầu càng lớn càng tốt. Thử lấy một ví dụ minh họa: $100.000 với lãi gộp 15% trong vòng 20 năm sẽ đạt tới mức $1.636.653 vào năm thứ 20, tức là số tiền lời của bạn là $1.536.653. Nhưng giả sử bạn bị mất $90.000 trong số tiền đầu tư ban đầu trước khi bắt tay vào kinh doanh và chỉ còn $10.000  để đầu tư. Kết quả đầu tư của bạn lúc đó chỉ đạt $163.665 vào năm thứ 20, tương đương phần lợi nhuận là $153.665 mà thôi. Một con số thật nhỏ nhoi nếu so với con số ở trên. Số tiền ban đầu bị mất càng lớn, thì khả năng sinh lợi của bạn càng bị ảnh hưởng trong tương lai. Warren không bao giờ quên quy luật này. Chính vì vậy ông vẫn tiếp tục lái chiếc xe VW Beetle cũ mèm ngay cả sau khi ông đã trở thành triệu phú.

còn nữa ...
Trích từ cuốn "Đạo của Warren Buffet"

Warrent Buffet: 'Hãy tham lam khi mọi người sợ hãi'

Nhà đầu tư cá nhân có lý do để không sao chép các giao dịch của Warrent Buffet, nhưng nhiều bài học có thể được rút ra từ những quyết định gần đây của vị tỷ phú được mệnh danh là Nhà tiên tri của Ohama.



Hãy tham lam khi mọi người sợ hãi

Đây có lẽ là châm ngôn nổi tiếng nhất của Warrent Buffet: "Hãy biết sợ khi người khác đang tham lam và tham lam khi mọi người đang sợ hãi". Đang có quá nhiều dấu hiệu cho nhà đầu tư đang sợ hãi, và mọi người đều cố rút khỏi thị trường.

Trái lại, Buffet lại bắt đồng tiền của ông làm việc.

Điều đó không có nghĩa thị trường sẽ đảo chiều trong nay mai. Quan điểm của Buffet, hiện tại không phải là lúc rút vốn khỏi chứng khoán. Thực tế, đây là cơ hội để tìm kiếm cổ phiếu tốt với giá thấp.

Đặc biệt là cơ hội từ các tập đoàn hàng đầu của các ngành công nghiệp. Chỉ trong vòng hai tuần, Buffer đã mua vào lần lượt 4,7 tỷ đôla cổ phiếu của Constellation Energy, 3 tỷ đôla cổ phiếu ưu đãi của General Electric. Bên cạnh, hai đại gia trong lĩnh vực điện và công nghiệp nặng, Buffet còn gom vào 5 tỷ đôla cổ phiếu ưu đãi, với tỷ lệ cổ tức lên tới 10%, của đại gia tài chính Goldman Sachs

Không nên do dự vì những sai lầm trong quá khứ

Buffet đầu tư vào Goldman Sachs đã gây ngạc nhiên cho khá nhiều người. Những thương vụ đầu tư trước đó vào cổ phiếu tài chính của ông đã không đạt được thành công như mong đợi.

Vào năm 1987, Buffet mua lại cổ phần của Ngân hàng Đầu tư Salomon. Tuy nhiên, hãng này sau đó đã suýt sụp đổ do những scandal liên quan đến trái phiếu. Sự việc trên khiến ông buộc phải đóng vai trò chủ tịch lâm thời của hãng. Dù cuối cùng khoản đầu tư này vẫn mang lợi nhuận, khi Salomon được bán với giá khá hời, nhưng có thể nói không ngoa rằng "cuộc phiêu lưu" với tập đoàn tài chính trên là khó khăn và lâu dài hơn so với dự tính của Buffet.

Dẫu sao, nhà đầu tư lão luyện Buffet hiểu rằng bất kể các rủi ro sẵn có, ngân hàng đầu tư sẽ là một công việc kinh doanh hấp dẫn nếu được quản lý một cách đúng đắn. Goldman Sachs nằm trong số ít các ngân hàng đầu tư hàng đầu, có tầm hưởng lớn đến khối tài chính, không phải là một lựa chọn tồi.

Bài học dành cho các nhà đầu tư cá nhân là dù cổ phiếu tài chính, hay nhiều nhóm khác tại phố Wall, rớt giá thê thảm, không có nghĩa bạn nên quay lưng lại với cổ phiếu tài chính. Ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn, vẫn có những cổ phiếu tốt đáng để mua vào.

Bên cạnh đó, Buffet không phải lúc nào cũng đúng. Có khá nhiều giao dịch của ông là không chính xác, tuy nhiên ông luôn biết cách cắt lỗ sớm và để lợi nhuận của mình sinh sôi.

Warrent Buffet là một tỷ phú có tác phong giản dị, trong bức thư gửi tác giả của bức ký họa trên, ông nói
Warrent Buffet là một tỷ phú có tác phong giản dị, và hài hước. Trong bức thư gửi tác giả của bức ký họa trên, ông nói rằng hình ảnh trong bức tranh "bảnh" hơn ông hàng ngày, nhưng rất giống những gì ông mặc trong văn phòng. Ảnh: ajmitchellart.typepad.com.

Đừng "phải lòng" bất kỳ cổ phiếu nào

Buffet nổi tiếng với tuyên bố, thích mua và nắm giữ cổ phiếu mãi mãi. Tuy nhiên, người giàu nhất thế giới (tính tới tháng 3/2008) luôn sẵn sàng bán ra nếu cảm thấy thị trường đi vào xu hướng giảm. Năm ngoái, ngay khi giá dầu tiếp cận mức 100 đôla một thùng, Buffet đã rút tiền khỏi cổ phiếu của PetroChina.

Lý do của quyết định trên rất đơn giản. Sau khi lên giá gấp 5 lần thời điểm Buffet mua vào, giá cổ phiếu của PetroChina đã hết hấp dẫn. Kể từ khi Buffet thanh khoản, cổ phiếu của PetroChina đã mất giá một nửa.
Tương tự, Buffet đã đưa ra một trong những quyết định sáng suốt nhất của mình khi quyết định bán cổ phần của Freddie Mac, chứng khoán từng được tập đoàn Berkshire Hathaway của ông nắm giữ dài hạn, vào năm 2000. 

Quyết định của "Nhà tiên tri vùng Omaha" (biệt danh của Warrent Buffet) dựa trên kinh nghiệm không mấy dễ chịu mà ông thu được trong những năm cuối thế kỷ 20, khi bong bóng chứng khoán nổ ra. Vào năm 2003, ông đã từng thừa nhận "Tôi đã phạm sai lầm lớn khi không bán nhiều cổ phần trong giai đoạn cuộc khủng hoảng dotcom".

Tiền mặt là vua

Trong nhiều trường hợp khi mọi người đua nhau đổ tiền vào thị trường tài chính, Buffet vẫn điều hành Berkshire theo phương thức khá thận trọng, nắm giữ nhiều tiền mặt. Chiến thuật trên cho phép ông đạt được những hợp đồng "cả đời mới có một lần", như trường hợp của Constellation Energy. 

Ngay khi cổ phiếu của Tập đoàn Điện lực hàng đầu này rơi từ 60 đôla xuống 26,5 đôla, Buffet đã mua vào một lượng lớn cổ phiếu. Kết quả là chỉ với 5 tỷ đôla, ông đã sở hữu một công ty hàng năm sản sinh lợi nhuận 1 tỷ đôla.

Thế nên, ngay cả trong thời điểm thích hợp để gom cổ phiếu, Buffet vẫn cho rằng sẽ khôn ngoan hơn nếu có một khoản tiền mặt dự trữ. Bên cạnh đó, không nên đầu tư vào cổ phiếu mà bạn không hoàn toàn tự tin.

Theo vnexpress

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2011

Những nhà đầu tư vĩ đại nhất thế giới: William J. O'Neil


William_J_ONeil.gifWilliam J. O'Neil

Sinh năm 1933 tại Oklahoma City, Oklahoma

Công ty:
    * Hayden, Stone & Company
    * William O'Neil & Company, Inc.
    * O'Neil Data Systems, Inc.
    * Investor's Business Daily

Thành tích nổi bật: Bill O'Neil là một nhà môi giới chứng khoán hàng đầu, một nhà đầu tư cổ phiếu theo chiến lược tăng trưởng, CANSLIM, tác giả và là người sáng lập ra tạp chí tài chính Investor's Business Daily, là một địch thủ đáng gờm của tờ Nhật báo phố Wall.

Tiểu sử cá nhân:

Bill O'Neil học chuyên ngành quản trị kinh doanh tại đại học Southern Methodist University, nhận bằng cử nhân năm 1955. Sau khi rời quân ngũ năm 1958, ông khởi nghiệp với vị trí một nhân viên môi giới chứng khoán cho công ty Hayden, Stone & Company và phát triển một chiến lược đầu tư (CANSLIM), chiến lược đã giúp ông trở thành nhân viên môi giới xuất sắc nhất của công ty này.

Những thành công trong công việc môi giới cũng như đầu tư tài chính đã đưa ông đến quyết  định thành lập một công ty môi giới, William O'Neil & Co., Inc, năm 1963. Ở độ tuổi 30, O'Neil trở thành người trẻ nhất từng mua một chỗ trong sàn giao dịch chứng khoán New York (NYSE).

Năm 1983, O'Neil lập ra tờ nhật báo tài chính quốc gia với tên gọi là Investor's Daily, sau này trở thành tờ Investor's Business Daily vào năm 1991. Hiện nay, ông vẫn là CEO của William O'Neil & Co., là chủ tịch và chủ bút của tờ Investor's Business Daily, ngoài ra còn thường xuyên viết và giảng bài về các chủ đề liên quan đến đầu tư trên khắp nước Mỹ.

Phong cách đầu tư

O'Neil kết hợp giữa các chiến lược định tính và định lượng trong triết lý đầu tư hướng kết quả của mình. Nói ngắn gọn, kiểu đầu tư của ông là chỉ tìm kiếm những cổ phiếu tăng trưởng có tiềm năng tăng giá nhanh nhất kể từ thời điểm mua vào.

Về cơ bản, phương châm của Bill O'Neil là "mua con mạnh, bán con yếu". Tiêu chí của ông trong việc xác định cổ phiếu sắp sửa "thăng thiên" được tóm tắt trong cụm từ viết tắt từ những chữ cái đầu tiên CANSLIM:

C - Current quarterly earnings per share: lợi nhuận trên đầu cổ phiếu của quý này phải tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước (tối thiểu là 25%).

A - Annual earnings: lợi nhuận năm tăng với tốc độ tăng trưởng ghép tối thiểu là 25% trong vòng 5 năm qua(P/E không quan trọng, với những cổ phiếu này có thể vào khoàng 25 - 40).

N – New products, new management, and new highs: sản phẩm mới, đội ngũ quản lý mới, giá đạt những mốc cao mới. Đó là những cổ phiếu đáng quan tâm.

S – Supply and demand: cung và cầu, càng có ít cổ phiếu trên thị trường, thì sức mua sẽ càng đẩy giá lên cao hơn. Nên tìm những cổ phiếu chỉ có số lượng lưu hành khoảng 10 -12 triệu.

L – Leaders and laggards: những cổ phiếu dẫn đầu và những cổ phiếu ì ạch, giữ lại những cổ phiếu vượt trội so với thị trường và đẩy những cổ phiếu của các công ty hoạt động kém đi.

I – Institutional ownership: ủng hộ các công ty có sự đầu tư của các nhà đầu tư có tổ chức.

M – Market direction: theo sát chiều hướng biến động của thị trường

Tác phẩm:

     " How To Make Money In Stocks" (1988).
     "24 Essential Lessons For Investment Success"  (1999).
     "The Successful Investor" (2003).

Trích dẫn:

"Khi mà thị trườg có xu hướng đi theo hướng ngược lại với suy nghĩ của đa số mọi người thì tôi có thể nói, 95% những người mà bạn có thể nghe được trên truyền hình đang đưa ra những ý kiến cá nhân. Và các ý kiến cá nhân thì luôn là ... vô dụng còn thị trường thì đáng tin cậy hơn nhiều."

"Toàn bộ bí mật của chuyện thắng thua trên thị trường chứng khoán chỉ đơn giản nằm ở chỗ anh thua lỗ ít nhất có thể khi anh không đúng."

"Những cổ phiếu giá có vẻ cao và rủi ro đối với phần đông mọi người thường lại tăng cao hơn, còn những cổ phiếu giá có vẻ thấp thường lại hạ thấp hơn."

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2011

Phương thức đầu tư giá trị của Benjamin Graham

Nhà đầu tư giá trị (value investor) được định nghĩa một cách nôm na là những người tìm kiếm cổ phiếu giá hời. Hời ở đây có nghĩa là thị trường định giá cổ phiếu thấp hơn giá trị của nó. Có nhiều cách để tìm cổ phiếu hời. Cách thứ nhất là dùng những tiêu chuẩn để chọn lọc. Cổ phiếu nào qua được màng lọc này là cổ phiếu đáng để đầu tư. Chiến lược này vì thế được gọi là chiến lược đầu tư giá trị bằng cách chọn lọc thụ động (passive screening value investing). Cách thứ hai là chiến lược đầu tư giá trị nội tại (intrinsic value investing), nhà đầu tư mua vào cổ phiếu khi thị giá thấp hơn giá trị nội tại do họ (hay tư vấn của họ) ước tính. Cách thứ ba là đầu tư vào những cổ phiếu mà hầu như không ai dòm ngó đến vì kết quả kinh doanh kém, vì giá quá thấp. Đây là chiến lược đầu tư giá trị - đối nghịch (contrarian value investing). Cách thứ tư là cách của các nhà đầu tư chủ động (activist value investing). Họ đầu tư vào những cổ phiếu có tiềm năng nhưng có giá trị thấp do việc quản lý, điều hành của công ty yếu. Sau khi đầu tư, họ sẽ thay đổi cách quản lý, bởi họ có vốn đủ lớn để ảnh hưởng đến việc điều hành và quản trị của công ty. 

Chiến lược đầu tư giá trị Benjamin Graham, người thành công trong nhiều vai trò như nhà phân tích tài chính, nhà đầu tư, giảng viên, là đồng tác giả cuốn sách Security Analysis (phân tích chứng khoán). Đây là cuốn sách đặt nền tảng cho trường phái đầu tư giá trị và là sách gối đầu giường cho những nhà đầu tư dài hạn.

Trong cuốn sách này, Benjamin Graham đã đưa ra 10 tiêu chuẩn để chọn cổ phiếu:

1 - Tỷ số lợi nhuận/thị giá (E/P) cao gấp đôi lãi suất trái phiếu xếp hạng AAA (AAA là hạng mức tín dụng cao nhất dành cho trái phiếu của các công ty).
2 - P/E của cổ phiếu thấp hơn hoặc bằng 40% so với P/E của toàn thị trường.
3 - Tỷ suất cổ tức/giá của cổ phiếu (dividend yield) lớn hơn 2/3 của lãi suất trái phiếu xếp hạng AAA.
4 - Giá trị vốn hóa của công ty nhỏ hơn 2/3 giá trị sổ sách của tài sản hữu hình.
5 - Giá trị vốn hóa của công ty nhỏ hơn 2/3 giá trị tài sản lưu động ròng.
6 - Tỷ số nợ/vốn chủ sở hữu theo giá trị sổ sách nhỏ hơn 1.
7 - Tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn ít nhất 2 lần.
8 - Toàn bộ nợ nhỏ hơn 2 lần giá trị tài sản lưu động ròng.
9 - Tỷ suất lợi nhuận trên cổ phiếu (EPS) tăng trưởng 7%/năm trở lên trong vòng 10 năm qua.
10 - Công ty có sự tăng trưởng lợi nhuận hàng năm ít nhất 7 lần trong vòng 10 năm qua.

Cổ phiếu nào vượt qua 10 điều kiện sàng lọc trên, theo Benjamin Graham, là những cơ hội đầu tư giá trị tuyệt vời. Nhà nghiên cứu Henry Oppenheimer đã phân tích kết quả của những cổ phiếu đạt 10 tiêu chuẩn của Benjamin Graham trong giai đoạn 1974 - 1981, kết quả là tỷ suất lợi nhuận của những cổ phiếu này cao gấp nhiều lần tỷ suất lợi nhuận của những cổ phiếu khác trên thị trường. Một số người sử dụng 10 tiêu chuẩn này nhưng nội dung có khác đi đôi chút nhằm phù hợp với hoàn cảnh thị trường hay theo ngành đặc thù. Chúng ta cũng có thể làm tương tự như vậy để áp dụng tại thị trường Việt Nam.

Ngoài 10 tiêu chuẩn chọn lọc trên, Benjamin Graham còn có 8 phương châm về đầu tư giá trị và một công thức tính giá trị cổ phiếu mang dấu ấn riêng của ông. Tác giả Janet Lowe, trong cuốn sách viết về tiểu sử của Benjamin Graham, đã tổng kết 8 phương châm như sau:

1 - Hãy là một nhà đầu tư, đừng là một nhà đầu cơ. Benjamin Graham định nghĩa nhà đầu tư là người mua và sở hữu cổ phiếu dài hạn, trong khi nhà đầu cơ tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn

2 - Quan trọng nhất là mua với giá bao nhiêu. Mua cổ phiếu của một công ty tốt nhất thị trường về hoạt động, về các chỉ số tài chính vẫn có thể là một đầu tư sai hoặc không hiệu quả nếu chúng ta mua với giá quá cao.

3 - Truy tìm những cơ hội giá hời. Thị trường sẽ luôn có lỗi trong việc định giá cổ phiếu.

4 - Luôn thận trọng với những con số tài chính do công ty cung cấp. Thỉnh thoảng vẫn có những công ty cố tình không đạo đức.

5 - Đa dạng hoá đầu tư. Đừng quá tập trung vào một số ít cổ phiếu.

6 - Hãy thực hiện quyền cổ đông của mình. Nhiều nhà đầu tư đã không thực hiện quyền cổ đông của mình mà bỏ ngỏ công ty cho các nhà điều hành. Nhà điều hành đôi khi hành động theo lợi ích của họ, hay lợi ích của một nhóm cổ đông nào đó, mà không hoạt động vì lợi ích của cả công ty.

7 - Hãy kiên nhẫn. Phương châm này củng cố phương châm 1.

8 - Phải có tính kỷ luật. Chỉ mua cổ phiếu khi thị giá thấp hơn giá trị được xác định theo công thức sau: Giá trị = EPS x (2 x tốc độ tăng trưởng năm + 8,5) x Lãi suất TPCP/lãi suất trái phiếu AAA. Ví dụ: Một cổ phiếu có EPS là 3 USD, tăng trưởng 10% năm, trong khi đó lãi suất trái phiếu chính phủ là 5% và lãi suất trái phiếu của công ty xếp hạng tín dụng AAA là 6%. Giá trị của cổ phiếu này sẽ là: Giá trị = 3 x (2 x 10 + 8,5) x 5/6 = 71,25 USD.

Theo Benjamin Graham, chúng ta chỉ nên mua cổ phiếu này khi thị giá thấp hơn 71,25 USD. Lưu ý: nếu áp dụng trên TTCK Việt Nam, chúng ta có thể tạm giả sử rằng, lãi suất trái phiếu công ty xếp hạng AAA sẽ cao hơn 1,5% so với lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm (đây là gợi ý của riêng tác giả). Nghĩa là, nếu lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm là 8% thì lãi suất trái phiếu AAA có thể tạm ấn định ở mức 9,5%. Về tỷ số 8,5, chúng ta cũng có thể thay đổi cho phù hợp. Nhà đầu tư thận trọng có thể dùng 8,5, nhưng nhà đầu tư không ngại rủi ro có thể áp dụng ở mức 9, tối đa là 9,5.

Theo moigioichungkhoan

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2011

Bí quyết đầu tư chứng khoán: Linh cảm của Soros

Sinh trưởng ở Hungary, mang dòng máu Do Thái và là con của một tù binh chiến tranh, George Soros chạy sang Anh lánh nạn phát xít và vào học tại Học viện Kinh tế London.
 
Sau khi tốt nghiệp, Soros xin được một việc làm trong khu tài chính London, kiếm được 5000 USD rồi sang New York.

Vào lúc đó, nhà đầu tư Mỹ ít chú ý đến thị trường châu Âu, trong khi Soros biết rõ về nó. Ông thấy rằng hãng bảo hiểm Allianz của Đức có giá trị hơn nhiều so với mức mọi người nghĩ. Ông viết một bản kiến nghị mua. Hai khách hàng của công ty môi giới nơi ông làm việc ở Wall Street tỏ ý quan tâm.

Tuy vậy, ban giám đốc của Allianz nổi giận vì bản kiến nghị của Soros như chứng tỏ rằng họ chẳng đánh giá đúng được giá trị tài sản riêng của mình. Họ viết một lá thư dài phản bác lại nhận định của Soros, nhưng rốt cuộc Soros đúng. Khách hàng của ông mua cổ phiếu của Allianz và thu lợi lớn.

Chiến thắng này làm tiếng tăm của Soros nổi lên. Ông thành lập quỹ đầu tư của mình năm 1969, nhưng sau khi đã trở nên giàu có, ông lại tập trung vào việc gây quỹ ở Hungary cho các mục tiêu dân chủ và xã hội.

Khi nghiên cứu tư tưởng của Soros, cần nhớ Soros là một người sống sót trong bàn tay của phát xít và là con của một tù binh. Vì vậy, Soros dường như mạo hiểm hơn Warren Buffett. Không phải ngẫu nhiên mà Soros sẵn sàng đánh bạc, lăn vào các cơn xáo động, “giết” đối thủ, và rút lui. Phương châm đối mặt với rủi ro cao này cũng có nghĩa là Soros từng bị thua lỗ lớn nhiều. Điều này trái ngược với phương châm của Buffett là giảm thiểu thua lỗ về vốn.

Chiến lược của Soros cũng phản ánh các ý tưởng tâm lý học và xã hội học của nơi ông tốt nghiệp, Học viện Kinh tế London. Ông cho rằng điều trọng yếu là không đánh giá giá trị của cổ phiếu hay hàng hóa, mà đánh giá các quan niệm về một tài sản và nhận ra được thời điểm khi tài sản đó và các quan niệm thay đổi.

Ông cũng cho rằng thị trường giúp định hình giá trị và quan niệm. Giá trị không phải là một cái gì đó mà một kế toán viên lành nghề trong một công ty có thể xác định được, mà là một thực thể thay đổi, linh động hơn nhiều.

Tóm tắt lại tư tưởng của mình, Soros tin rằng có 6 giai đoạn trong quá trình phát triển của một trạng thái đầu tư.

Giai đoạn thứ nhất là một xu hướng chưa được nhận ra trên thị trường.

Giai đoạn hai là khi xu hướng trở nên rõ nét hơn. Sự sụt giá mạnh của American Express năm 1982 từ 62 USD xuống 35 USD là một ví dụ điển hình của chuyện này. Thị trường trong trạng thái lo sợ làm trầm trọng thêm xu hướng giảm giá.

Giai đoạn thứ ba là một cái test (phép thử) thành công trên thị trường. Đó có thể là một sự kiện tương tự đã xảy ra trước, với kết cục khẳng định thêm xu hướng quan sát được.

Giai đoạn thứ tư là sự phân hóa ngày càng lớn giữa thực tại và quan niệm. Ví dụ, với những người đã chót “ôm” cổ phiếu đang có chiều hướng mất giá, họ thường tự trấn an bằng cách tìm kiếm những thông tin để củng cố quan niệm của mình (rằng cổ phiếu đang giữ sẽ lên giá).

Cao trào là giai đoạn thứ năm, ví dụ, là những ngày “đen tối” - xảy ra hoảng loạn với cao trào bán tháo trên thị trường, và là thời cơ vàng của những nhà đầu cơ tấn công thị trường như Soros trong cuộc khủng hoảng tỷ giá bảng Anh năm 1992.

Giai đoạn cuối cùng được Soros gọi là “hình phản chiếu ngược qua gương”, khi mà xu hướng thị trường quay ngược trở lại và giá cả phục hồi.

Như vậy, trung tâm trong nguyên tắc của Soros là sự khác biệt giữa hình ảnh và thực tại. Sự khác biệt lớn giữa Soros và Buffett là ở chỗ Buffett, theo đúng nguyên tắc của Graham trước đây 40 năm, tính toán - hay vẫn nói rằng ông tính toán - trên cơ sở các giá trị ẩn tàng của các tài sản, còn Soros thì đúng hơn là một nhà buôn bằng trực quan, linh cảm.

Theo doanhnhan

Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2011

2 nguyên tắc đầu tư của 2 huyền thoại đầu tư: Buffett và Soros

Hai nhà đầu tư nổi tiếng nhất thế giới Warren Buffett và George Soros có nhiều chiến lược đầu tư khác nhau, nhưng ở họ có chung 2 nguyên tắc, giúp đảm bảo lợi nhuận cho những khoản đầu tư. 

Tác giả chuyên viết sách về đầu tư tài chính Mark Tier, đồng thời là một nhà đầu tư có tiếng tại Hong Kong, đã rút ra nhận xét này. Ông cho rằng, những nguyên lý cơ bản này ai cũng có thể hiểu và áp dụng, nhưng không phải nhà đầu tư nào cũng luôn sáng suốt để thực hiện. Vì thế, số tỷ phú đầu tư mới đếm trên đầu ngón tay.

Nguyên tắc đầu tiên trong đầu tư là phải bảo toàn vốn.

Vì thế hãy tránh xa những cổ phiếu có nguy cơ rủi ro cao. Nhà đầu tư nên rót vốn vào những trường hợp rủi ro được đánh giá thấp hơn mức trung bình trên thị trường. 

Giữ cho các khoản phí giao dịch và thuế ở mức thấp cũng là một nguyên tắc. Qua thời gian, đồng vốn ở những cổ phiếu tốt sẽ sinh lời, và lượng vốn càng được duy trì ổn định, lợi nhuận càng có thể tăng cao.
Cả Warren Buffett và George Soros đều không thích liên tục đa dạng hóa danh mục đầu tư và rải tiền từ hết doanh nghiệp này đến công ty kia để phân tán rủi ro, mà chỉ tập trung vào những doanh nghiệp thực sự có tiềm năng. Cùng lúc, họ chỉ đầu tư vào những vị thế giao dịch mà họ thực sự hiểu biết và liên tục tìm kiếm các lựa chọn mới. 

Một khi đã tìm được các lựa chọn như vậy, thông thường là tài sản bị đánh giá thấp hơn giá trị thực, họ sẽ mua đến hết khả năng nhằm tối đa hóa lợi nhuận về sau. Họ cũng giữ kín thông tin về việc đang làm và rút kinh nghiệm từ những sai lầm trong quá khứ, thay vì lặp lại các sai lầm đó. 

Thứ hai, nói "không" với các khoản nợ

Những nhà đầu tư thành công thường là những người có ý định đầu tư lâu dài và chuyên tâm vào những cổ phiếu đã chọn. Họ dần có thói quen bỏ ra lượng tiền ít hơn vốn đang có để đầu tư và tránh xa việc vay nợ. Đầu tư một cách căn cơ sẽ tạo ra lợi nhuận trong dài hạn, trong khi vay nợ để đầu tư mang lại kết quả ngược lại. 

Nói như vậy không có nghĩa những nhà đầu tư huyền thoại không bao giờ dùng chiến thuật đòn cân (leverage) nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Nhưng đây chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ quá trình đầu tư của họ. Mặt khác, các nhà đầu tư này luôn tuân thủ các quy định tự đề ra rất nghiêm ngặt, như việc thoát khỏi thị trường ở một mức giá được đặt ra ngay từ khi mua cổ phiếu. 

Theo vnexpress/Ameinfo

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2011

7 sai lầm chết người trong đầu tư

Hầu hết các nhà đầu tư đều phải lãnh hậu quả do đặt niềm tin sai lầm vào con đường dẫn đến những thương vụ thành công.

Có 7 sai lầm thường gặp nhất và chúng được gọi là “sai lầm chết người” trong lĩnh vực đầu tư. Trên con đường thành công của các nhà đầu tư bậc thầy như Warren BuffettGeorge Soros không bao giờ xuất hiện những sai lầm này. Nếu muốn loại bỏ nó, trước tiên chúng ta cần xét xem chúng sai ở điểm nào.

Sai lầm thứ nhất: Tin rằng việc dự đoán động thái kế tiếp của thị trường chắc chắn sẽ mang về những khoản lợi nhuận khổng lồ.

Thực tế là các nhà đầu tư, kể cả những người thành công nhất, cũng không hề giỏi hơn bạn trong việc dự đoán thị trường.

Chắc hẳn bạn còn nhớ thời điểm một tháng trước vụ sụp đổ thị trường chứng khoán New York vào tháng 10 năm 1987, ảnh của George Soros đã xuất hiện trên bìa tạp chí Fortune với thông điệp sau: “Việc các loại cổ phiếu của Mỹ liên tục tăng giá và vượt ra khỏi những ước tính cơ bản về giá trị không có nghĩa là sau đó chúng phải tụt dốc nhanh chóng. Thị trường được định giá quá cao không có nghĩa là không bền vững. Nếu muốn biết cổ phiếu của Mỹ có thể được định giá cao đến mức nào, bạn hãy nhìn vào nước Nhật”.

Trong khi vẫn đang nói về tình hình tăng giá các loại chứng khoán của Mỹ, ông lại linh cảm về một sự sụp đổ sắp xảy ra… ở Nhật. Sau đó, vào ngày 14/10/1987, ông còn nhắc lại quan điểm này trên tờ Financial Times.

Chỉ một tuần sau thôi, Quỹ Quantum của Soros bị thiệt hại hơn 350 triệu đôla khi thị trường chứng khoán của Mỹ (chứ không phải của Nhật) sụp đổ. Lợi nhuận cả năm đã lặng lẽ ra đi chỉ trong vài ngày. Qua sự việc này, Soros đã thừa nhận: “Thành công về tài chính của tôi đối lập hoàn toàn với khả năng của tôi trong việc dự đoán tình hình”.

Còn Buffett thì sao? Ông hoàn toàn không quan tâm đến việc thị trường sẽ đi về đâu và cũng chẳng có chút hứng thú nào với các dự báo. Đối với ông thì việc “dự báo trước có thể tiết lộ nhiều điều về người dự báo, chứ không cho biết gì về tương lai sắp tới”.

Các nhà đầu tư thành công không bao giờ quyết định bỏ vốn nếu chỉ dựa vào những thông tin dự báo về các động thái kế tiếp của thị trường. Trên thực tế, Buffett và Soros là những người đầu tiên khẳng định rằng nếu họ phụ thuộc vào các dự báo về thị trường, thì chắc chắn là họ đã phá sản từ lâu rồi.

Không ít người cho rằng việc dự báo chẳng qua chỉ là trò kiếm cơm của mấy tờ báo về đầu tư nhằm tiếp thị cho các quỹ tương hỗ, và chúng không thể mang đến thành công cho các vụ đầu tư.

Sai lầm thứ 2: Đặt trọn niềm tin vào các “chuyên gia tư vấn” do tuân theo suy nghĩ: “Nếu tôi không thể dự đoán được thị trường thì sẽ có người làm được điều đó, và tôi chỉ cần tìm cho ra người này”.

Thực tế là nếu thật sự bạn có thể dự đoán tương lai, liệu bạn có leo lên nóc nhà và hét toáng lên cho mọi người biết về khả năng kỳ diệu đó không? Hay bạn sẽ giữ kín thông tin đó để rồi mở một dịch vụ môi giới nhằm kiếm được một số tiền kếch xù từ những gì mình biết được?

Khi đưa ra dự đoán về “một vụ sụp đổ sắp xảy ra trên thị trường chứng khoán”, Elaine Garzarelli cũng chỉ là một trong số hàng ngàn chuyên gia xử lý số liệu ở New York . Điều đáng nói là dự báo này được đưa ra vào ngày 12 tháng 10 năm 1987, chỉ một tuần trước “Ngày thứ hai đen tối” - ngày mà chỉ số của Sàn Giao dịch Chứng khoán New York giảm hơn 22%.

Thế là chỉ trong phút chốc, Elaine Garzarelli trở thành một nhân vật nổi tiếng và được nhắc đến liên tục trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Chỉ trong vài năm, bà đã có được một gia tài lớn nhờ tiếng tăm của mình.

Phải chăng Elaine Garzarelli đã làm giàu bằng cách thực hiện các thương vụ đầu tư theo đúng như những gì bà đã khuyên người khác? Không phải đâu. Sau sự kiện kể trên, bà trở thành một trong những chuyên gia tư vấn có mức lương cao nhất nước Mỹ (ước đoán khoảng 1.5 đến 2 triệu đôla một năm). Tiền cứ thế đổ về Quỹ tương hỗ mà bà là một trong những người tham gia đồng sáng lập và chưa đầy một năm, tổng số tiền đã lên đến con số 700 triệu đôla. Mức quản lý phí 3%, tức 21 triệu đôla mỗi năm, sau khi chia lại cho anh em nhà Shearson Lehman – những người đồng sáng lập và các cộng sự, cũng giúp bà thu về một khoản tiền không nhỏ. Ngoài ra, năm 1996, bà còn phát hành một bản tin đầu tư và ngay lập tức có hơn 82.000 người đăng ký đặt mua dài hạn.

Vậy là những lợi ích kinh doanh từ địa vị của một chuyên gia tư vấn đã giúp chính Elaine Garzarelli cũng như anh em nhà Shearson làm giàu, chứ không hề giúp gì nhiều cho những người làm theo lời khuyên của bà.
Đến năm 1994, các cổ đông đã bỏ phiếu đồng ý giải thể Quỹ tương hỗ của bà với lý do hiệu quả hoạt động của quỹ thấp đến mức không thể chấp nhận được. Doanh thu trung bình trong suốt thời gian quỹ hoạt động chỉ đạt 4,7% mỗi năm, so với con số 5,8% của S&P 500.

17 năm sau khi lọt vào tâm điểm chú ý của giới đầu tư, Elaine Garzarelli vẫn duy trì được sự nổi tiếng của mình, thậm chí ngay cả khi quỹ tương hỗ của bà đã ngừng hoạt động, bản tin của bà không còn ăn khách nữa và những dự đoán của bà đã không còn giá trị.

Chẳng hạn vào ngày 21/7/1996, khi chỉ số Dow Jones đang ở mức 5.452, bà lại tiên đoán nó có thể nhanh chóng tăng lên đến 6400. Vậy mà chỉ hai ngày sau, bà lại tuyên bố những lời hoàn toàn trái ngược: “Thị trường chứng khoán có thể rớt giá xuống từ 15% đến 25%”.

Đó chỉ là 2 trong số 14 lời dự đoán công khai của bà từ năm 1987 đến năm 1996 được các tờ Wall Street Journal, Business Week và The New York Times ghi chép lại. Trong số 14 dự đoán đó, chỉ có 5 dự đoán là chính xác mà thôi.

5/14 - tỷ lệ thành công của Elaine Garzarelli là 36%. Nếu thế thì bạn cũng có thể làm tốt hơn và kiếm được nhiều tiền hơn chỉ bằng cách tung một đồng xu. Ít ra thì trong trường hợp đó, tỷ lệ thành công của bạn sẽ là 50%. Và Elaine Garzarelli chỉ là một trong số hàng loạt những chuyên gia phân tích thị trường tại Wall Street - đến rồi lại đi. Bạn còn nhớ Joe Granville không? Vào đầu thập niên 1980, ông từng là người rất được báo giới yêu mến. Chỉ sau khi chỉ số Dow Jones ở vào khoảng 800 điểm năm 1982, và ông khuyên mọi người nên bán bớt cổ phiếu đi, thiện cảm đó mới thay đổi.

Năm 1982 là năm đánh dấu sự khởi sắc và tăng giá đều đặn của thị trường chứng khoán kéo dài suốt nhiều năm ở thập niên 1980. Tuy nhiên, Granville vẫn tiếp tục khuyến cáo mọi người hãy nhanh chóng bán bớt cổ phiếu. Đến khi chỉ số tăng lên đến 1.200, Granville phải rút lui để nhường chỗ cho Robert Prechter – người đã tiên đoán chính xác đà đi lên của thị trường trong thời kỳ này.

Thế nhưng sau vụ sụp đổ năm 1987, thị trường đã chững lại và các chuyên gia lại dự đoán rằng chỉ số Dow Jones sẽ ở vào khoảng 400 điểm vào đầu thập niên 1990.

Sự bùng nổ của lĩnh vực thương mại điện tử vào thập niên 1990 đã làm xuất hiện hàng loạt “nhà tiên tri” trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Tuy nhiên, hầu hết trong số họ đã không còn được nhắc đến sau khi NASDAQ – sàn giao dịch chứng khoán của các công ty thương mại điện tử – bắt đầu tụt dốc vào tháng 3/2000.

7-sai-lam-trong-kinh-doanhNếu thật sự ai đó có thể dự đoán chính xác và nhất quán về thị trường, thì có lẽ anh ta (hoặc cô ta) đã thoát khỏi sự săn đuổi gắt gao của giới truyền thông trên thế giới. Một nhà hiền triết đã rất đúng khi nói: “Rất khó dự đoán, đặc biệt là khi điều dự đoán đó liên quan đến tương lai”.

Những chuyên gia tư vấn trên các phương tiện truyền thông kiếm tiền thông qua các buổi nói chuyện về những vụ đầu tư, bán lời khuyên của họ, hay nhờ vào phí dịch vụ quản lý tiền bạc cho khách hàng. Nhưng như John Train đã đặt vấn đề trong cuốn sách The Midas Touch (Cái chạm tay hóa vàng) thì “người khám phá ra cách biến chì thành vàng chưa chắc có thể nói cho bạn bí quyết để làm ra được 100 đôla mỗi năm”.

Đó chính là lý do tại sao Buffett, Soros và những nhà đầu tư bậc thầy khác biết biến các vụ đầu tư thành tiền bạc, nhưng hiếm khi họ nói về những việc mình đang làm hoặc về những điều họ đang suy nghĩ về thị trường. Thậm chí, họ còn rất hiếm khi nói cho các nhà đầu tư của mình biết về những dự định và hành động của họ đối với số tiền của các nhà đầu tư đó.

Sai lầm thứ 3: Tin rằng “thông tin nội gián” sẽ đem lại nhiều cơ hội thành công nhất.

Thực tế là: Cho đến nay, Warren Buffett được xem là nhà đầu tư giàu nhất thế giới. Các bí quyết đầu tư của ông thường được công bố trong các bản báo cáo hàng năm của công ty. Bất cứ nhà đầu tư nào cũng có thể tiếp cận và tìm hiểu những bản báo cáo đó để tự giải đáp thắc mắc về thành công của ông.

George Soros từng được mệnh danh là “Người phá sập ngân hàng Anh” khi ông giành được chiến thắng trong vụ đầu tư trị giá 10 tỷ đôla vào đồng bảng Anh.

Thật ra không phải chỉ có mình ông biết điều đó, và ông cũng không phải là người duy nhất thu lãi lớn trong vụ đầu tư này. Bất cứ nhà đầu tư nào biết xem xét và phân tích vấn đề đều sẽ nhận ra những dấu hiệu chứng tỏ đồng bảng Anh sắp mất giá. Hàng trăm, nếu không muốn nói là hàng ngàn doanh nhân khác cũng có thể kiếm được món tiền lớn như thế khi đồng bảng Anh thật sự mất giá so với đồng đôla. Thế nhưng chỉ có Soros biết nắm bắt cơ hội này và biến cơ hội đó thành 2 tỷ đôla lợi nhuận.

Dựa vào danh tiếng và uy tín sẵn có mà hiện nay cả Buffet và Soros đều dễ dàng tiếp cận với những người có địa vị cao trong giới tài chính, kinh doanh và cả các nhân vật quan trọng trong xã hội. Tuy vậy, khi mới bước chân vào lĩnh vực đầu tư, họ chỉ là những người bình thường và không nhận được sự bất kỳ sự đón tiếp đặc biệt nào. Mặt khác, tiền lãi đầu tư của cả Buffett và Soros vào thời điểm khi họ còn chưa được nhiều người biết đến lại cao hơn hiện nay. Vì thế, việc trông chờ vào nguồn thông tin nội gián dưới bất cứ hình thức nào đều không giúp ích gì nhiều cho các nhà đầu tư.

Buffett cũng nói: “Với một triệu đôla và đầy đủ những thông tin nội gián cần thiết, bạn có thể trở nên khánh kiệt chỉ trong vòng một năm”.

Sai lầm thứ tư: Đa dạng hóa danh mục đầu tư.

Thực tế là: Có thể nói rằng khối tài sản khổng lồ mà Warren Buffett đang sở hữu hiện nay bắt nguồn từ việc xác định một vài công ty có tiềm năng, rồi chỉ tập trung đầu tư vào những công ty ấy mà thôi.

Theo George Soros, điều quan trọng không phải là việc bạn hiểu đúng hay sai về thị trường, mà chính là số tiền bạn có được khi thực hiện suôn sẻ một thương vụ, và số tiền bạn mất đi khi tính toán sai. Nguồn gốc thành công của Soros cũng giống như Buffett, nghĩa là lợi nhuận thu được từ những vụ đầu tư sinh lời sẽ bù đắp số tiền bị thất thoát trong các vụ đầu tư khác.

Trong khi đó, sự đa dạng hóa lại là một hành động trái ngược hoàn toàn, bởi vì việc có nhiều cổ phần nhỏ, cho dù tỷ lệ lãi suất lớn, thì tổng số vốn của bạn cũng chỉ có thể thay đổi rất ít.

Tất cả những nhà đầu tư thành công lớn đều sẽ bảo với bạn rằng đa dạng hóa danh mục đầu tư là trò chơi dành cho những kẻ tầm thường và nhút nhát. Nhưng chắc chắn đây lại không phải là thông điệp mà bạn có thể nghe được từ các chuyên gia tư vấn tài chính của bạn.

Sai lầm thứ năm: Tin rằng phải chấp nhận rủi ro lớn mới thu được nhiều lợi nhuận.

Thực tế là: Giống như các doanh nhân vừa khởi nghiệp, những nhà đầu tư thành công thường có tâm lý e ngại rủi ro, vì thế họ luôn cố gắng làm đủ mọi cách để hạn chế rủi ro và giảm thiểu thất thoát.

Tại một hội thảo về vấn đề quản lý được tổ chức cách đây vài năm, các học giả luân phiên nhau lên trình bày công trình nghiên cứu của mình về “cá tính của những người đang khởi nghiệp”. Những bài phát biểu chứa đựng khá nhiều quan điểm bất đồng với nhau, chỉ ngoại trừ một điều: những người đang khởi nghiệp thường chấp nhận rủi ro, và trên thực tế, đa số họ đều ưa thích mạo hiểm.

Cuối buổi hội thảo, một doanh nhân ở hàng ghế khán giả đứng dậy và nói rằng anh ta vô cùng ngạc nhiên trước những gì mình vừa nghe được. Anh nói, là một người mới khởi nghiệp, anh luôn tìm cách tránh xa mọi rủi ro. Anh cũng có quen biết nhiều doanh nhân thành công khác và bảo rằng thật là khó mà tìm được những người thận trọng hơn họ.

Những doanh nhân khởi nghiệp thành công là những người chống lại các quyết định mang tính rủi ro, và các nhà đầu tư thành công cũng vậy. Biết phòng tránh rủi ro là điều kiện cần thiết để tích lũy và nhân thêm của cải. Lĩnh vực đầu tư không có chỗ cho ý tưởng hoang đường này của các học giả. Thực tế đã chứng minh rằng nếu bạn chấp nhận rủi ro lớn, thì nhiều khả năng bạn cũng đang tạo ra nguy cơ nhận lãnh những tổn thất khổng lồ.

Cũng giống như các doanh nhân lúc khởi nghiệp, những nhà đầu tư thành công hiểu rất rõ rằng mất tiền bao giờ cũng dễ hơn việc kiếm được tiền. Đó là lý do tại sao họ lại chú trọng việc phòng tránh rủi ro hơn là săn đuổi lợi nhuận.

Sai lầm thứ 6: Đặt trọn niềm tin vào “Hệ thống đánh giá”, nghĩa là cho rằng phải dựa vào một số phương pháp để phân tích chi tiết hay sơ bộ các dữ liệu để đảm bảo lợi nhuận đầu tư.

Thực tế đây là một hệ quả tất yếu của việc tin vào “các chuyên gia tư vấn”. Nếu nhà đầu tư có thể thực hành theo hệ thống phân tích của chuyên gia tư vấn, thì chắc hẳn anh ta sẽ thu được nhiều tiền như chuyên gia này đã nói.

Căn nguyên của việc đặt niềm tin vào “chuyên gia tư vấn” và “hệ thống phân tích” đều giống nhau ở chỗ nhà đầu tư luôn mong muốn có một điều gì đó chắc chắn.

Warren Buffett từng trả lời câu hỏi liên quan đến một trong những cuốn sách viết về ông như sau: “Các nhà đầu tư luôn tin tưởng vào hệ thống phân tích bởi vì họ đang đi tìm một công thức để thành công”. Họ hy vọng khi tìm ra công thức đúng, khi đó tất cả những gì họ cần làm chỉ là cài đặt nó vào máy tính và theo dõi số tiền sinh sôi nảy nở từ các vụ đầu tư.

Sai lầm thứ 7: Tin rằng bạn hoàn toàn biết rõ tương lai sẽ ra sao, và chắc chắn rằng thị trường sẽ phải tiến triển đúng như bạn dự đoán.

Thực tế đây là một đặc điểm thường gặp ở những người ham mê đầu tư. Năm 1929, hầu như mọi người đều đồng ý với tuyên bố của Irving Fisher rằng “các cổ phiếu đã đạt đến trạng thái bình ổn cao một cách lâu dài”, vậy mà chỉ một vài tuần sau họ đã phải chứng kiến cảnh hỗn loạn khi thị trường chứng khoán sụp đổ. Khi giá vàng tăng vọt vào thập niên 1970, người ta đã dễ dàng tin rằng tình trạng lạm phát phi mã là điều không thể tránh khỏi. Còn khi giá trị của Yahoo, Amazon.com, eBay, và hàng trăm website khác tăng lên gần như mỗi ngày, thì thật khó để tranh cãi với câu thần chú mà Wall Street đưa ra vào thập niên 1990: “Lợi nhuận (trong việc đầu tư vào các công ty thương mại điện tử) không còn là vấn đề chính yếu nữa”.
Đây là một biến thể từ “sai lầm chết người” thứ nhất trong hoạt động đầu tư, vốn cho rằng bạn phải có khả năng dự đoán tương lai, song những ảnh hưởng của nó còn mạnh mẽ và đôi lúc bi thảm hơn nhiều.

Một khi nhà đầu tư tin rằng muốn có lợi nhuận thì phải có khả năng dự đoán tương lai, anh ta sẽ cố tìm kiếm các phương pháp để có thể dự đoán “đúng”. Nhà đầu tư nào bị rơi vào “sai lầm chết người” thứ bảy trong đầu tư sẽ nghĩ rằng anh ta gần như nắm chắc được tương lai và đã biết trước tương lai sẽ mang lại cho anh ta những gì. Vì vậy, cuối cùng khi nỗi đam mê (hay niềm tin thiếu căn cứ?) không còn nữa, anh ta sẽ phải chứng kiến phần lớn vốn liếng của mình tan thành mây khói, và thậm chí anh ta còn có thể mất luôn cả nhà cửa lẫn tài sản của mình.

Trong bảy “sai lầm chết người” này, thì việc thâm nhập thị trường với một niềm tin võ đoán là điều nguy hiểm nhất đối với số vốn của bạn.

Trích cuốn "Bí quyết đầu tư và kinh doanh chứng khoán của Warren Buffett và George Soros" do Công ty First News phát hành.

Theo Vnexpress