Thứ Ba, 9 tháng 3, 2010

CHỮ TU TRONG ĐẠO PHẬT

Chắc ai cũng hiểu rằng, từ khi mới lọt lòng ra cho đến khi hơi thở cuối cùng, trong đời thường hưởng được mấy lần vui. Cơn vui vừa thoáng qua, cơn buồn lại kéo đến. Đã đành sanh, già, đau, chết là bốn đại hoạn, không ai tránh khỏi, mà những nổi đói nghèo áp bức, oán thù gặp gỡ, ân ái xa lìa, hoàn cảnh lôi kéo cũng đủ làm cho chúng sanh đau khổ vô cùng. Nước mắt ngập tràn cả đại thiên thế giới, mà vẫn còn dâng lên mãi nếu lòng tham lam dục vọng nơi mỗi cá nhân cũng như đoàn thể-không được vùi dập vào phần nào; hành vi xấu xa độc ác, ích kỷ hại người không được sang bằng và tiêu diệt do lòng từ bi rộng lớn biết nghĩ đến mình, đến người theo công lý và chính đạo. Chúng ta chỉ ngó ngay vào cảnh tượng ngày nay cùng thấy rõ đó là biển nước mắt đau thương bởi cơn cuồng vọng của loài người gây tạo. Thế nên chúng ta tin chắc rằng tất cả đau khổ chỉ có một con đường ra là mọi người biết nhìn nhau bằng cặp mắt từ bi, hay nói một cách khác là người biết tu theo đạo chính đáng giác ngộ.
Xưa nay các bậc thánh nhân, các vị đã giác ngộ như chư Phật, Bồ tát, không vị nào mà không trãi qua con đường ấy; cho đến khi dạy người, dạy đời cũng chú trọng ở điều đó. Vậy bất luận người nào ở trong xã hội cũng cần lấy tu làm gốc, nếu không tự mình đã hư hỏng, mình đã làm tổn hại cho mình, thì mong giúp ích cho ai nửa?

Tượng phật nào cổ nhất Việt Nam?

Xuất hiện tại Pháp vào năm 2005 trong một triển lãm cổ vật Đông Nam Á và được phía Pháp mua bảo hiểm với giá 5 triệu USD, tượng Phật Đồng Dương trở thành một trong những bức tượng giá trị nhất của cổ vật Việt Nam. Hiện, bức tượng Phật Đồng Dương này đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (TP HCM) để công chúng chiêm ngưỡng...
Một ngày đầu tháng 2/2010, ngoài việc được chiêm ngưỡng bức tượng Phật hiếm có, tôi còn được Tiến sĩ (TS) Bá Trung Phụ, Trưởng phòng Trưng bày Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - TP HCM cho biết rất nhiều thông tin thú vị về bức tượng bằng đồng có một không hai này.
Pho tượng Phật Đồng Dương được phát hiện tại khu vực Đồng Dương (Quảng Nam), tượng Phật Thích Ca Mâu Ni cao 1m22, pho tượng có niên đại thế kỷ thứ III, được xác định là tượng Phật của người Chăm Pa cổ, tượng tạc theo tư thế đứng đang thuyết pháp. Tượng Phật được các nghệ nhân khắc họa với khuôn mặt phúc hậu, đôi mắt sáng đang nhìn vào cõi xa xăm, muốn giải thoát con người khỏi dục vọng trần thế, với một tay tư thế chuyển pháp luân trong dáng điệu bắt ấn, một tay cầm cà sa phủ kín một vai, đôi chân đứng trên bệ sen.
Theo TS Bá Trung Phụ: Phật giáo du nhập vào Chăm Pa từ những năm trước Công nguyên qua con đường thương mại, đầu tiên phải nói đến người Ấn Độ. Vào những thế kỷ trước và sau Công nguyên, các thương gia Ấn Độ vượt biển sang buôn bán ở các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Chăm Pa. Đứng trước một khu vực giàu có về vàng, trầm hương và các hương liệu khác đã hấp dẫn các tàu buôn và thương nhân Ấn Độ.

Tiến sĩ Bá Trung Phụ và bức tượng Phật Đồng Dương.
Ngoài việc buôn bán trao đổi sản phẩm, còn có việc truyền đạo  qua các tăng lữ Bà La Môn và các phật tử, thầy tu. Qua các di tích khảo cổ và các bia ký, vào khoảng giữa đầu Công nguyên, chắc chắn đã có cuộc giao lưu văn hóa thương mại giữa người Ấn Độ và cư dân Chăm Pa.

Thứ Sáu, 5 tháng 3, 2010

TRĂNG NGHẸN

Mẹ sinh tôi vào một đêm rằm mưa gió ngày xưa,
Lúc chào đời đã lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn.
Vùng tản cư hồi nầy ruộng hoang nhà trống,
Rước được bà mụ vườn, ngoại cực trần thân.

Tôi lớn trong quê mùa như cây tạp vườn hoang,
Bảy tuổi biết leo lưng trâu, không từng ngồi xe đạp.
Không biết lời bải buôi để mua lòng người khác,
Nên thua thiệt cả đời vì không thể dối lừa ai.
Ngơ ngác buổi ra thành, trước cuộc sống đua chen,
Mười năm sau chưa gội rửa cho mình thành dân chợ.
Lớp phèn hết bám chân, nhưng chất chân quê vẫn còn đó,
Tôi tranh thủ những tháng hè, thích về lại thăm quê.
Bè bạn theo đuôi trâu một thời, mơ ước nhìn tôi,
Tưởng tôi thoát kiếp ngài, nhởn nhơ hóa bướm.
Tôi nhìn vẻ hồn nhiên của đám bạn xưa thèm quá,
Cộng một chút phù hoa đâu thêm lớn tâm hồn.
Mỗi lần về quê bè bạn cũ lại vắng hơn,
Gái mười bảy đã lấy chồng, trai hai mươi đòi vợ.
Cô bạn xưa nách con ngang nhà mua chịu rượu,
Đôi mắt ướt một thời bẽn lẽn ngó bàn chân.
Xóm bên sông nhiều cô gái rời quê,
Về thăm nhà xênh xang lụa là hàng hiệu.
Vài căn nhà xây, đổi đời nhờ những đồng tiền báo hiếu,
Khởi sắc một vùng quê sao nghe có chút bùi ngùi.
Đồng bằng quê hương tôi nhiều cái nhất ngậm ngùi:
Sản lượng lúa nhiều, vùng cá ba sa lớn nhất,
Đầu tư văn hóa thấp và khó nghèo cũng nhất,
Và cũng dẫn đầu, những cô gái lấy chồng xa.
Chập tối buồn ra nhìn bến nước cô đơn,
Vầng trăng vừa lên đã bị mây mưa vần vũ.
Tôi chợt nhớ lần lỗi hẹn đầu đời, trăng cũ,
Vầng trăng nghẹn hoài, chưa tỏa sáng một vùng quê. 
Hoài Tường Phong
-------------------------------------------
Ghi chú :
TRĂNG NGHẸN là bài thơ của Hoài Tường Phong vừa đoạt giải Nhất cuộc thi thơ đồng bằng sông Cửu Long do các Hội Văn học - Nghệ thuật trong khu vực nầy liên kết tổ chức, tỉnh Cần Thơ đăng cai. Nhưng một sự cố lạ lùng chưa từng có đã xảy ra: Nhà thơ Phạm Sĩ Sáu, trưởng Ban Giám khảo cho hay, một số cơ quan "có thẩm quyền" ở thành phố Cần Thơ (thực chất là không có thẩm quyền) đã yêu cầu Ban Giám khảo chọn lại bài khác để trao giải Nhất, vì bài nầy u ám quá.

Hình ảnh đón xá lợi Phật từ Ấn Độ về chùa Bái Đính

Hình ảnh do VnExpress ghi lại:


Đoàn cung nghinh xá lợi Phật lễ dưới chân gốc cây bồ đề tại Bồ Đề Đạo tràng ở Ấn Độ.
Theo sách sử, đây chính là nơi Thái tử Tất đạt đa hóa Đức Phật.
Các nhà sư rước ngọc xá lợi Phật.
Sau chuyến bay kéo dài chừng 3 giờ, chiều 3/2, đoàn đã về Việt Nam...

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2010

Tiểu ngạ quỷ bên cầu Nại Hà

Truyện ngắn của Trần Long ( Trung Quốc)
Trang Hạ dịch


Ai cũng nói hễ chết không còn vương vấn.
Bao nhiêu chuyện đời vẫn kể đấy thôi.
Không mất không hết. Không tử không sinh...

Tôi là một ngạ quỷ.
Tôi là một tiểu ngạ quỷ lắm chuyện ở dưới Âm ty, hầu hạ dưới quyền Ty chủ cõi Luân hồi.
Chúng tôi được coi là loài ti tiện nhất thấp bé nhất trong cõi đất trời, chỉ sống trong địa ngục tăm tối, đời đời kiếp kiếp.
Công việc của tôi là đi tuần bên cầu qua (sông Lú), một việc nhàn hạ, bởi ngoài những bóng hồn lẻ quỷ đói đôi khi đi qua, thì không có gì xảy ra, sẽ chẳng có gì xảy ra.
Tôi thường đờ đẫn ngồi bên cầu Nại Hà, đờ đẫn nhìn những hồn phách cô đơn, lẻ loi bay qua.
Ngày ngày, tháng tháng, năm năm, ngày nối ngày, năm lại năm.
Một ngày, Ty chủ cõi Luân hồi gọi tôi tới, nói tôi đã trung thành canh giữ, bởi tôi đã đi tuần cầu Nại Hà suốt 300 năm, chưa hề xảy ra sai sót. Bởi vậy nên cho tôi làm sứ giả đi câu hồn, cho tôi cơ hội lên chốn nhân gian.
Cõi người thật sự rất tươi đẹp, thứ gì cũng có, so với chốn địa ngục tối đen u ám này thật như một giấc mộng. Nhưng chỉ tiếc mỗi lần tôi đi lên cõi nhân gian đều là nửa đêm, mà đều là đi lấy hồn phách con người.
Thời gian lâu dần, tôi biết loại người như tôi, à không, phải nói là loài quỷ như tôi, làm loài người sợ hãi đau khổ nhất, bởi hễ chúng tôi xuất hiện, có nghĩa là một cuộc đời người kết thúc.

VÕ BÙA (Thần Quyền)




Võ Bùa hồi đó.



Lúc còn trẻ, con trai đa số thích học võ,
gần nhà có võ đường Hàn Lâm, dạy thái cực đạo, xích tới nữa có võ đường Lý Huỳnh Yến là lò của Lý Huỳnh,
vô hẻm thì có thiếu lâm bát quái quyền lò con, còn ra chợ lớn thì lò võ tàu, võ
ta vô số..., nhiều tới nổi đêm nào cũng thách đấu ở sân tỉnh vỏ Q5 tới tới u
đầu sức trán...
Lúc còn trẻ con trai ai cũng hào khí, 1 ,2 miếng lận lưng, chiều chiều
đứng dợt để lấy le con gái, ai thì không biết chớ mình lúc đó là vậy.


Lúc còn trẻ con trai hay tò mò tọc mạch, cái gì đã nghe thì muốn biết,
biết rồi muốn thử, thôi thì võ tay, võ ta, võ tàu... rồi tới võ Bùa...
   




Lúc tìm sinh kế ngoài đời, tình cờ có quen một anh thương binh nặng ký,
thấy giữa ngực anh có vết hỏm lớn cở nắm tay, hỏi thì anh nói:







 - Hồi
đó nhậu vô hứng chí căng đài với Mỷ đen ở đường Trần Quang Khải, bị nó tặng cho
kỷ niệm trước khi về xứ, kể cũng lạ, gãy xương hủm vào mà không chết, mình liền
ghẹo ảnh:







- Anh cũng có nghề Bình Định, sao không trả
miếng lại cho nó làm kỷ niệm? 







-Trời, nhờ thần quyền đỡ
lưng mà anh mới còn tới giờ đó em.







-Thần quyền là võ gì hả anh?

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2010

BÁT QUÁI TRẠCH ĐỒ

Sau đây là đồ Bát quái để coi phương hướng, phòng trang (phòng ốc), bếp núc và cửa nẻo. Tám đồ này chỉ rõ nhà trạch nào hạp tuổi nào, cũng có thể coi người mạng gì (Càn hay Khảm …) phương nào tốt, phương nào xấu. Vòng trong là 8 tượng Bát quái, vòng 2 là 8 phương, vòng 3 là 24 sơn để bếp, vòng 4 là 24 sơn để cửa.
Khi tìm phương hướng phải dùng La bàn mới đúng được. Cây kim La bàn lúc nào cũng chỉ hướng Chánh Bắc, đuôi kim là Chánh Nam. Nếu ta đứng nhìn theo hướng cây kim của La bàn chỉ, thì trước mặt là Chánh Bắc, sau lưng là Chánh Nam, bên tay mặt là Chánh Đông, bên tay trái là Chánh Tây.
Trong La bàn người ta chỉ về bốn phương chánh, thường dùng những chữ viết tắc này: N=Bắc=North; S=Nam=South; E=Đông=East; W=Tây=West.
Khi muốn tìm phương tùy theo chủ nhà mạng gì: Càn hay Khảm … để chọn đồ Bát quái ở sau, rồi lấy La bàn đặt lên giữa đồ Bát quái đó, xây cái La bàn sao cho cây kim của La bàn chỉ đúng chữ N trong La bàn và xây bảng đồ Bát quái cho phương Bắc đúng chỗ cây kim La bàn. Bấy giờ mới tìm phương tốt xấu.
Nên biết các tượng Bát quái trong 8 đồ Bát quái ở sau đều xây đầu vào trong đuôi trở ra ngoài (thượng hào bên trong, hạ hào bên ngoài).


TRẠCH CÀN TU TẠO
CÀN phối với ĐOÀI tuy được SANH KHÍ nhưng kỵ nhau chớ dùng