Thứ Ba, 5 tháng 10, 2010

Báu Vật Chùa Miên-Phần 3

Một hôm, trong lúc đang ngồi bù khú thì Lạc “mả” đến, y ghé tai ĐHC thì thầm “tối nay Đại ca T.B xuống đây, hẹn gặp tại Long Xuyên có việc gấp lắm, nhà bác nhất định phải đến đó”. Lạc “mả” đi rồi, trong lúc say sưa, bất ngờ anh Năm Ai nói “cái tay hồi nãy đến tìm anh thường hay đi chung với một nhà sư trẻ người Miên, sao lúc này chỉ còn đi một mình ?” – “Bộ y hay đi chung với nhà sư lắm hả ?” – “Hầu như mỗi ngày, trước đây có lần tôi còn chở nhà sư đi vòng vòng khắp Long Xuyên, Chợ Mới, Tri Tôn…..nghe ông ta kể là đi tìm “hia” gì đó…”. Qua lời anh Năm Ai kể thì ra Lạc “mả” còn giấu rất nhiều chuyện, y đã từng gặp Mười Hổ, thậm chí còn dắt nhà sư người Miên đến gặp Mười Hổ….. ĐHC đã lờ mờ nhận ra kẻ đã ra tay giết nhà sư này….Bỗng nghe anh Năm Ai nói tiếp “nhà sư trẻ rất tội nghiệp, ông ta không có một xu trong túi, vừa đi tìm “hia”, vừa phải làm thuê để sống. Có lần chở ông ta đi tìm “hia”, ông ta không có tiền, đành phải chở không, tôi còn mời ông ta vào quán, ăn bún, uống nước”. Anh Năm Ai tuy nghèo nhưng quả là người rất tốt, anh Năm Ai lại nói “có lần nhà sư nói “hia” của ông ta trước khi ra đi có để lại cho ông một cái khăn ấn phòng trừ tà gì đó…..Ông ta còn mang ra cho tôi xem, chiếc khăn màu đỏ, bên trong vẽ hình chi chít, thêu chỉ vàng rất đẹp”. ĐHC giật mình, nhớ lúc khâm liệm nhà sư đâu có thấy cái khăn ấn này…? – Vậy cái khăn đã đi đâu mất ?
Hiển nhiên Lạc “mả” tỏ ra sáng giá nhất trong vụ này. Tấm khăn ấn của người Miên nhiều khi được họ thêu viền bằng những sợi vàng thật nên nó có độ bền với thời gian rất lâu. Nhưng cái quý của nó là ở chỗ vị thầy phù phép vào có công năng như thế nào. Cái khả năng Lạc “mả” lấy chiếc khăn để đem bán cho…. Mười Hổ là rất nhiều. Y nổi tiếng là liều mạng, bất chấp hậu quả từ trước đến giờ. Phải rất cẩn thận với Mã Trường Lạc vì y sẽ mang ĐHC ra đánh ván cờ “thí chốt bắt xe” sắp tới.

Chủ Nhật, 3 tháng 10, 2010

Báu Vật Chùa Miên-Phần 2


Ở thế kỷ trước, An Giang có một nhân vật rất nổi tiếng ở vùng núi Cấm, đó là ông “Bảy Hổ”. Bảy Hổ là một pháp sư nổi tiếng “dao chém không đứt, đạn bắn không thủng, đi nhanh như chớp giật”. Lúc nhỏ anh ta chỉ là một thanh niên bình thường, nhưng rất đam mê võ thuật. Anh Bảy qua bên Miên tầm sư học đạo, sau vài năm đã trở thành cao thủ. Võ Miên nhìn chung cũng như tất cả các môn võ thuật khác, có đòn tay, đòn chân, đòn công, đòn thủ……Nhưng cái đặc biệt của võ Miên là cú đá bằng ống quyển. Dùng ống quyển có thể đá tan bia vỡ đá, gãy bứt ngang thân cây chuối lớn. Cao thủ võ Miên đá gãy xương sườn đối thủ là chuyện bình thường. Nếu dùng tay mà đỡ cú đá “ống quyển” thì gãy tay như bỡn. Học võ Miên xong, anh Bảy còn qua Thái lan học thêm võ Thái. Võ Thái Lan tương tự võ Miên nhưng chú trọng đánh cận chiến và cú đá đầu gối. Cú lên gối mạnh đến mức có thể làm chết cả một con trâu. Cao thủ võ Thái khi đánh thường “nhập nội”, dùng tay khóa đòn đối thủ, sau đó lên gối, chấn vào chớn thủy làm đối thủ vỡ tim,ná thở. Còn nếu bạt ngang vào be sườn sẽ làm giập gan, vỡ lách, gãy xương sườn. Lên gối trúng hạ bộ thì đối phương chết là cái chắc. Học xong võ Thái, anh Bảy còn qua Miến Điện,….tuy gần Miên, Thái nhưng võ Miến Điện lại khác hẳn, nhiều chỗ dị biệt hơn nhiều. Võ Miến chú trọng dùng đòn tay, cạnh bàn tay, mũi bàn tay. Có thể dùng mũi bàn tay đâm thủng thân cây cây chuối lớn. Lúc đánh thì xòe bàn tay như cánh quạt vậy. Lối đánh của võ Miến rất nhẹ nhàng, không ào ạt, bão táp nhưng độc hiểm vô cùng.
Sau khi gồm thâu tuyệt học, anh Bảy trở về đất Việt. Những tưởng sau bao nhiêu năm luyện tập sẽ trở thành cao thủ vô địch, nào ngờ trúng phải độc thủ của một pháp sư, biến thành dở điên dở dại….chỉ còn chờ chết. May được thầy Kheng-sivan thương tình cứu chữa mới sống lại. Anh Bảy theo thầy Kheng-sivan học nghề thuốc chữa bệnh, bùa chú, phép thuật hơn chín năm thì thành tài. Trong lúc học, cô con gái của thầy Kheng thấy anh Bảy đẹp trai, chịu thương chịu khó thì thầm thương trộm nhớ…..
Vùng Bảy núi lúc bấy giờ còn hoang sơ lắm, các cao nhân về đó quy ẩn rất nhiều. Bỏ biết bao nhiêu năm tầm sư học nghệ như vậy mà xem ra anh Bảy cũng còn quá nhiều đối thủ. Đúng là núi cao thì có núi cao hơn. Tham vọng của anh Bảy là phải vô địch thiên hạ….miễn là bằng bất cứ giá nào. Cuối cùng anh nghĩ phải luyện bằng được  bùa “Thiên Linh, Thiên Nhãn” thì mới mong đánh bại được tất cả cao thủ trong thiên hạ. Bùa “Thiên Linh, Thiên Nhãn” chính là tầm tối cao của Thiên Linh Cái. Một thứ bùa cực độc, cực ác, vì thế thầy Kheng-sivan đâu chịu dạy cho đệ tử. Anh Bảy đành phải giở đến chiêu mà thiên hạ thường vẫn làm nhưng vô cùng đắc dụng….đó là cô con gái rượu của thầy Kheng….

Thứ Bảy, 2 tháng 10, 2010

Nghệ thuật Hà Nội xưa

TTO - Tiếp theo chuyên đề Hà Nội 36 phố phường, Trẻ con Hà Nội xưa, Tuổi Trẻ Online tiếp tục giới thiệu đến bạn đọc những tấm ảnh với chủ đề Nghệ thuật Hà Nội xưa.
Các chuyên đề này được chọn lọc lại từ 2.000 bức ảnh Hà Nội xưa. Đây là bộ ảnh do nhà giáo lịch sử đã nghỉ hưu Đoàn Thịnh và người con trai là kiến trúc sư Đoàn Bắc sưu tầm, thực sự là một món quà ý nghĩa cho thủ đô trong dịp Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long.


Gánh hát xẩm
Gánh hát xẩm
Gánh hát tuồng cổ (Hát bội)

Phan Vũ- nhà thơ “Em ơi! Hà Nội phố”

(VOV) - Tôi gặp Phan Vũ trong căn nhà nhỏ của ông ở thành phố Hồ Chí Minh. Ở tuổi 84, ông làm thơ, vẽ và viết báo.
Có lẽ người yêu Hà Nội nào cũng từng ngân nga giai điệu của ca khúc “Em ơi! Hà Nội – Phố” với những ca từ như thấm sâu vào máu thịt : “…Ta còn em cây bàng mồ côi mùa đông. Ta còn em nóc phố mồ côi mùa đông. Mảnh trăng mồ côi mùa đông…”. Thế nhưng, không phải ai cũng biết rõ về tác giả của những vần thơ đã được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc để làm nên một trong những ca khúc hay nhất về Hà Nội. 
Những câu thơ đầy nhạc cảm trong ca khúc “Em ơi! Hà Nội – Phố” được trích ra từ một trong những bài thơ hay nhất của Phan Vũ được viết thành trường ca gồm 23 đoạn. Bài thơ ra đời vào những ngày đêm Hà Nội bị đánh bom năm 1972, trong một căn gác nhỏ nơi nhà thơ sống ở phố hàng Bún. Bằng những cảm xúc khi ấy, ông đã viết nên những vần thơ bất hủ mà nhiều người cho rằng đến giờ chưa một bài thơ viết về Hà Nội nào sánh được.
Một điều thú vị nữa là bài thơ chưa bao giờ được in, cho đến tận năm ngoái (2008) , tập thơ Phan Vũ với bản gốc trường ca“Em ơi! Hà Nội – Phố” lần đầu tiên xuất bản. Đọc “Em ơi! Hà Nội – Phố” của Phan Vũ mà nghe dư âm xưa hiện về nơi phố cổ, một Hà Nội thanh bình êm ả những năm 60-70 của thế kỷ trước. Phan Vũ “vẽ” lại Hà Nội xưa, thời chiến tranh khắc nghiệt nhưng rất lãng mạn, hào hùng: 
 “Tiếng dương cầm trong căn nhà đổ “ .
Luôn thấp thoáng đâu đó là những hình bóng người con gái đẹp:
 “Ai đó chờ ai?

Tóc cắt ngang xõa xõa bờ vai….”  .
Từ hồi đó, thơ của ông đã đầy màu sắc, đọc từng câu mà hình như đang xem họa sỹ vẽ Hà Nội:
“….một màu xanh thời gian.

Một màu xám hư vô,

Chợt nhòe,

Chợt hiện…” 

“Nhợt nhạt vàng son”
một Hà Nội man mác lẫn hồn thơ mùa thu:
“ Ta còn em cô hàng hoa

Gánh mùa thu qua cổng chợ
Những chùm hoa tím

Ngát mùa thu… “
một Hà Nội lãng mạn phong cách riêng của Hà Nội…
"Ta còn em tà áo nhung huyết dụ.

Đất nghìn năm còn mãi dáng kiêu sa,

Phường cũ lưu danh người đẹp lụa.

Ngõ phố nào in dấu hài hoa…?"

Nhà thơ Phan Vũ
Nhà thơ, họa sĩ 84 tuổi đọc cho tôi nghe bài thơ- trường ca “ Em ơi Hà Nội phố”, chia sẻ với tôi những cảm xúc dường như vẫn còn tươi nguyên như ngày nào. Ông vẫn còn một kỳ vọng là được chính thức giới thiệu và tự mình đọc trường ca “Em ơi! Hà Nội – Phố” chính tại Hà Nội, cho những người Hà Nội...  * Thưa nhà thơ Phan Vũ, ông đã viết trường ca “Em ơi! Hà Nội – Phố”  như thế nào ? 
Phan Vũ: Mùa đông năm 1972, lúc ấy B52 đánh Hà Nội ác liệt. Trong những ngày đó, tôi sống ở Hà Nội. Hàng ngày, hay đi lang thang. Tôi thân với họa sĩ Bùi Xuân Phái, nên hay đi theo ông Phái. Ông vẽ phố, còn tôi nghĩ về phố. Nhiều khi đến đêm, lúc 1,2 giờ sáng ông Phái còn đem tranh đến nhà tôi treo.
Trường ca đó như một nhật ký bằng thơ. Bởi với những gì đã diễn ra hồi đó, một bài thơ không đủ chứa đựng được. Tôi viết trong khoảng 10 ngày. Nhà tôi ở phố Hàng Bún. Chiến tranh, người ta đi vắng hết. Bom đạn, cây cối nhà cửa đổ nát.
Căn nhà tôi ở là một nhà kiểu Pháp, của một trung tá Pháp, nhà có lò sưởi. Lúc đấy tôi đi lượm cây cối, những mảnh gỗ vỡ, rồi đêm nào cũng đốt lên, rồi thì làm thơ… 

Nơi Chiếu dời đô ban xuống

TTCT - Khởi đi từ Hoa Lư, Thiên đô chiếu của vua Lý Công Uẩn đã mở ra một Thăng Long văn hiến, hào hoa nay nghìn năm tuổi.
Trong lòng dân Hoa Lư ở lại vùng đất xưa - nơi vị hoàng đế đầu tiên của nước Việt chọn làm kinh đô, nghìn năm ấy vẫn đọng lại không ít nỗi niềm...
Đường làng, ngõ xóm ở thôn Tam Kỳ - Ảnh: Hà Châu
Dân về đám giỗ vua Đinh
Sáng 15-8 âm lịch (22-9-2010), tại khu di tích đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng (xã Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình) diễn ra một “buổi chầu” của rất nhiều đại thần cùng các nữ quan và cung tần. Với mâm lễ gồm xôi, thủ lợn, hương oản, hoa quả... các vị đại thần thành kính dâng lên vua Đinh những sản vật của quê hương, bày tỏ tấc lòng thành của con dân Cồ Việt quốc.
“Năm nào cũng vậy, đến ngày này chúng tôi đều làm giỗ tưởng nhớ ngài - một người con của đất Ninh Bình, cũng để tưởng nhớ đến kinh đô của nước Đại Cồ Việt - một phụ nữ trong vai nữ quan cho biết - Con dân của đất cố đô chưa khi nào nguôi nỗi nhớ về đức tiên hoàng đã có công dẹp loạn 12 sứ quân, xây dựng một kinh đô tráng lệ tại đất Trường Yên này”. Phía trước cổng đền, một công trường rộng lớn ngổn ngang chuẩn bị sân khấu cho nghi lễ rước Chiếu dời đô vào tối 30-9 và sáng 1-10.
Hòa trong đoàn người áo mão chỉnh tề dâng lễ có rất nhiều người dân trong vùng. Anh Nguyễn Văn Lịch, một người buôn bán nhỏ ở thôn Nam, nói: “Tôi xem tivi thì biết ở ngoài kia (Hà Nội) đang tổ chức kỷ niệm 1.000 năm vua Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư đến Thăng Long, còn ở đây hôm nay chúng tôi về giỗ vua Đinh, tưởng nhớ ông, không có ông thì không có Hoa Lư”.
Mâm cúng được dâng tại đền Đinh xong, những người tham dự sang chiêm bái ở đền thờ vua Lê và nhà bia tưởng niệm vua Lý Thái Tổ ở ngay bến sông Sào Khê - nơi vua Lý đã ban Chiếu dời đô rồi bước xuống thuyền rồng ngược dòng Sào Khê đến Hoàng Long, về Thăng Long dựng kinh đô mới.
Một ngôi nhà có tường rào đá ở thôn Tam Kỳ - Ảnh: Hà Châu
Cố đô, cầu cổ và chùa cổ
Hình như chưa ai đặt câu chuyện phố cổ tại Trường Yên, nhưng theo những người dân thì sau khi vua Lý đi, dân đã vào thành nội sinh sống. Đại Việt sử ký toàn thư kể lại sau khi vua dời đô ra Đại La thành thì: “Đổi châu Cổ Pháp gọi là phủ Thiên Đức, thành Hoa Lư gọi là phủ Trường Yên”.
Dân tràn vào thành nội sinh sống, nên phủ Trường Yên rất đông đúc từ thế kỷ 11. Xã Trường Yên nay còn các địa danh gắn với kinh thành: thôn Tây, thôn Nam, thôn Đông, thôn Tam Kỳ... Trải qua gần 1.000 năm nhưng may mắn chỉ chịu biến động về thời gian, ít chịu biến động về thiên tai, địch họa nên những nếp nhà xưa, những dòng họ vẫn sống tiếp nối từ đời này qua đời khác.
Dấu tích của người xưa còn lại nơi những cổng đá, bờ rào đá, vỉa hè đá, sân làm bằng đá nguyên khối mà không ai nhớ, không tài liệu nào ghi chép niên đại. Những đường xương cá, phố bàn cờ, những ngôi nhà san sát chứng tỏ sự thịnh vượng của một triều đại với những người dân Việt gốc của các dòng họ Nguyễn, Lê, Trần, Dương, Ngô...
Cột đá Nhất Trụ được Nam Việt Vương Đinh Liễn (con trai trưởng của Đinh Tiên Hoàng) cho làm để chép kinh và được đặt ở nhiều nơi, trong đó có cột đá lớn nhất để tại chùa Nhất Trụ nay vẫn còn. Sư thầy Thích Đàm An, trụ trì chùa Nhất Trụ, cho biết 30 năm trước khi thầy về đây trụ trì thì chiếc hồ lô trên đỉnh cùng đài sen bị vỡ vì những năm chiến tranh trước đó, nhưng chữ khắc trên cột đá Nhất Trụ vẫn còn đọc được (Bảo tàng tỉnh Ninh Bình đã in và dịch bản kinh này).
Từ bấy đến nay, thời gian đã khiến những hàng chữ trên cột bị mờ gần hết. Trong những lần khảo cổ cách đây không lâu, mấy chục cột đá chép kinh đã được tìm thấy ở rải rác những nơi khác trên đất Ninh Bình (hiện đều để trong bảo tàng tỉnh).
Di tích cố đô nay là chốn mưu sinh cho không ít dân Trường Yên, những nông dân xưa chỉ biết làm ruộng, nay vật đổi sao dời, khi 40% diện tích đất nông nghiệp ở đây đã chuyển đổi, họ bắt đầu làm nghề dịch vụ: xe ôm, bán hàng, thậm chí cho thuê trâu để khách du lịch chụp ảnh. Những lái xe ôm như anh Hội thường kiêm luôn hướng dẫn viên chở khách đến các địa điểm khác của khu cố cung, từ chùa Nhất Trụ sang Cầu Đông, Cầu Dền, đền thờ công chúa Phất Kim...
Hôm chúng tôi tới, khu du lịch vắng vẻ, những quả dứa nhỏ xíu của người bán hàng rong héo quắt do “ít khách du lịch nên không có người mua”. Bên cạnh mấy người bán hàng là một con trâu được đeo nơ đỏ trên đầu: “Trâu của vua Đinh đấy, 10.000 đồng/lần chụp ảnh”.
Anh Lịch, một lái xe ôm khác ở thôn Nam, khi chia tay đã nói: “Việc dời đô của vua Lý là hoàn toàn sáng suốt. Vì khi đặt kinh đô ở đây, vua Đinh đã đặt việc binh lên trên, lấy núi làm thành, lấy sông làm hào.
Trải qua mấy chục năm khẳng định chủ quyền, khi vua Lý tiếp nhận vương triều thì ông nhận thấy cần phải phát triển cả văn hóa, kinh tế và chính trị. Nếu vua Lý không dời đô thì sẽ có vua khác dời đô thôi. Nhưng dù nơi đây không còn là kinh đô nữa thì chúng tôi vẫn tự hào vì được sinh ra ở nơi vua đã sinh sống”.
Dâng cúng vua Đinh xong, dân sang chiêm bái ở đền thờ vua Lê - Ảnh: Hà Châu

Những cái tên làm nên hồn phố

TTCT - Đằng sau quyết định dời đô 1.000 năm trước của vua Lý Thái Tổ không chỉ là việc chuyển kinh thành từ một nơi chật hẹp, hiểm trở đến chốn “rồng cuộn, hổ ngồi, muôn đời là thắng địa”, mà còn là sự dịch chuyển của rất nhiều con người, số phận, thói quen, cả những địa danh...
Bia đá Đông Kiều tạc thẳng vào vách Núi Chợ đã bị nhà dân che lấp - Ảnh: Việt Dũng
Nghìn năm dâu bể qua đi, những tên người, những số phận đã chìm khuất, nhưng những địa danh như Ô Cầu Dền, Cầu Đông, chùa Nhất Trụ (Một Cột)... nay vẫn “tươi thắm”, vẫn thủy chung đứng đó trên đất Hoa Lư cố đô xưa.
Bà già đi chợ Cầu Đông...
Cầu Đông dù không còn bằng đá, nay vẫn bắc qua dòng Sào Khê, sách thời Nguyễn gọi là Long Giang, nhưng tấm bia tạc vào sườn núi đá hai chữ Đông Kiều lại “ẩn cư” cách đó chừng 70m. Anh Nguyễn Văn Khang, một người nghiên cứu lâu năm về Hoa Lư, năn nỉ mãi mới được cho mở cửa một căn nhà quanh năm đóng im ỉm, vòng ra sau nhà, leo lên sân thượng, sững sờ nhìn lên hai chữ Đông Kiều chân phương, rắn rỏi, sắc nét tạc trên vách đá như chưa hề có dấu vết thời gian.

Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2010

Báu Vật Chùa Miên-Phần 1

Những ngôi chùa Miên thường có rất nhiều báu vật. Ví như Chùa Tháp, Chùa Vàng, Chùa Bạc…..nổi tiếng vì hàng trăm tượng Phật bằng Vàng, bạc, kim cương, ngọc bích.v.v… Sự quý giá của các bảo vật đó được ca tụng trong hàng ngàn trang sách báo, các tour du lịch tham quan mang về cho đất nước sở tại hàng triệu triệu đô…..Thế nhưng, những ngôi chùa đó chưa bao giờ có được Báu vật phi thường…..

ĐHC còn nhớ lúc đó đang ở Miền Đông, trong một trang trại của Đại gia N.K. Trang trại của ông ta hầu như có tất cả, núi non, sông suối, rừng cây, chim thú quý như Công, Hạc, Trĩ sao, Hổ, Gấu, Hươu nai, Kỳ đà, Cá sấu….Ông ta còn xây cả một trạm thủy điện riêng để tự cung cấp điện cho trang trại. “Oách” như vậy chưa đủ, đại gia N.K còn xuống tận Miền Tây “rinh” nguyên một căn nhà cổ 3 gian cực to hàng trăm năm tuổi về “trồng” tại trang trại để lâu lâu tổ chức cúng giỗ ông bà cho thật trang trọng. Từ khi đại phát tài, đại gia N.K càng tin tưởng vào địa lý phong thủy, ông ta cùng ĐHC xuống Miền Tây cải táng các ngôi mộ của ông bà tổ tiên trong dòng họ, thu thập tất cả mang về trang trại, cho xây một khu lăng thật to, thật hoành tráng để “có ông bà bên cạnh phù hộ con cháu làm ăn phát đạt đời đời”. Đại gia N.K không ngần ngại chi hàng tỉ đồng để làm việc này và sau hơn một năm công việc đã gần như hoàn tất.
Hôm đó ĐHC đang ở trong ngôi nhà cổ 3 gian với những hoa văn được điêu khắc cực kỳ công phu sắc sảo, thiếp bằng vàng thật nên lâu ngày vẫn còn rực rỡ. Ngồi trên bộ “tràng kỷ” xưa còn hơn trái đất, ung dung uống ly nước dừa quê hương mát rượi thì Mã Trường Lạc ở đâu lù lù xuất hiện…
Mã Trường Lạc có cái tên cúng cơm rất đẹp nhưng giới “đào mồ cuốc mả” chỉ gọi y đơn giản là Lạc “mả”. Y dáng người thấp lùn, cái bụng tròn vo, tướng đi lặc lè. Điểm đại quý của y là cái đầu to, trên đó gắn cái mũi y như mũi kỳ lân, mắt rất sâu, hai hàng lông mày mọc rất dài, rất đậm. Lạc “mả” khá có tiếng trong giới buôn đồ cổ, nổi tiếng liều lĩnh, sẵn sàng đào trộm những ngôi mộ cổ nếu biết trong đó có đồ quý. Thành tích cộm nhất của y là dám vào một bảo tàng nổi tiếng cắt phăng cái đầu của một pho tượng quí để mang đi bán cho một thương gia người Thái. Y từng lên tận Sơn La, Lai Châu… qua tận Lào, Miên để tìm trống đồng cổ…. Có nhiều tiền, lại có cái tài ăn nói siêu hạng, y lấy được một cô hoa khôi người Tuyên Quang da trắng, chân dài, cao hơn y cả cái đầu. Sau này vì có xích mích gì đó với giang hồ đất Bắc nên y vọt vào Sài Gòn lấy thêm một cô vợ vừa trẻ, vừa đẹp, vừa nổi tiếng theo đúng típ “ăn 5 sao, ở 5 sao, lấy vợ siêu sao”. Được một thời gian thì tiền bạc hết nhẵn, lại đẻ thêm một đống nợ. Lạc “mả” đánh liều “khua môi múa mỏ” với đại ca T.B để người này đưa tiền cho y xuống đất An Giang tìm “cái cục nho nhỏ nhưng bán được hàng mấy triệu đô”.
Đại ca T.B là dân quận tư, giám đốc cả mấy công ty chuyên về xây dựng và san lấp mặt bằng, có xe ben, xe cuốc đủ cả. Nhưng nghề chính của ông ta là cho vay nặng lãi và đòi nợ mướn…Có trong tay những hợp đồng xây dựng và san lấp cỡ lớn, đại ca T.B mượn ngân hàng được tiền tỉ tỉ. Ông ta dùng tiền đó cho vay nóng và giúp giải ngân cho những công ty đang nợ để lấy hoa hồng. Tiền đẻ ra tiền, chẳng mấy chốc đại ca T.B trở thành đại gia T.B. Nhưng ông ta rất khôn ngoan, không bao giờ kinh doanh vũ trường và cờ bạc, mảnh đất độc quyền của “anh Năm”. Bất hợp pháp trong cái vỏ bọc vô cùng hợp pháp nên đại ca T.B ngày càng trở nên giàu có, đàn em theo về đông như kiến.
Đi lên đi xuống đất An Giang suốt mấy năm, tiêu hết “mấy cân thóc” của đại ca T.B mà chỉ mang về được mấy cục sắt gỉ, Lạc “mả” cảm thấy sắp bị chui xuống mả nên lo sốt vó…..
Lạc “mả” không đi một mình mà y dẫn theo một người, người này còn khá trẻ nhưng hình dung tiều tụy mà thần sắc lại rất u ám. Sau vài câu xã giao thông thường, Lạc “mả” đi ngay vào chuyện chính “nói thật với bác, nhà em xuống An Giang để tìm đồng đen cho đại ca T.B, nhưng chỉ toàn gặp quân lừa đảo với đồng đen giả” – “sao nghe đồn chú tìm được một pho tượng nữ thần đẹp lắm” – Lạc “mả” lật đật nói tiếp “chuyện này thật không dám giấu, tìm mãi không được đồng đen, em gặp một bọn ở Tri Tôn nói là trong lúc đào ao thấy một pho tượng đẹp lắm nên nghĩ là nếu mang pho tượng này về bán thì cũng gỡ gạc được chút đỉnh, có tiền trả cho đại ca T.B” – y ngừng lại, uống một hớp nước, thở phì phò rồi nói tiếp “bọn chúng dẫn em đến nơi, thấy pho tượng còn ngập dưới sình liền kêu một thằng nhảy xuống lấy búa đục một miếng ở bệ của pho tượng mang lên xem thì thấy đúng là mảnh gạch của Phù Nam, liền đưa cho tụi nó 2 cây vàng, móc pho tượng lên. Pho tượng dính sình đen thui, lật đật cho vào bao bố chở đi ngay vì sợ công an xã đến làm khó dễ. Không dè về đến khách sạn, mang ra rửa thì thấy chỉ có cái bệ là tụi nó lấy gạch Phù Nam dán lại, còn pho tượng thì bằng đất nung mới làm. Em tức quá đập bể pho tượng luôn…” ĐHC cười thầm “gian hùng như Lạc “mả” mà còn có lúc bị lừa, đúng là y bị con ma đồng đen nó ám nên mới thành ra như vậy”.
Lạc “mả” nói tiếp: “trong lúc đi lang thang ở Chợ Mới, vô tình gặp được người này, nói chuyện với anh ta thấy câu chuyện cũng có vẻ rất thật nên dẫn về đây xem nhà bác có giúp gì được không”. Xem ra Lạc “mả” cùng đường nên tìm cách lôi ĐHC vào, nếu may thì tìm được đồng đen cho y, còn không thì cũng có cái để nói với đại ca T.B hòng thoát nạn. Người mà Lạc “mả” dẫn tới không phải người Việt mà là một nhà sư người Cao Miên, anh ta khoảng 23 – 24 tuổi, gốc là người Việt nên nói được tiếng Việt lõm bõm. Theo như lời kể thì vào khoảng  năm 79, khi bộ đội Việt Nam tiến qua giải phóng Campuchia thoát khỏi bọn diệt chủng PônPốt thì có một số người đi theo sau, thừa khi nước đục thả câu …..Ngôi chùa của anh ta lúc đó chỉ còn có mỗi sư trụ trì cũng đã già lắm rồi. Chùa chỉ là một ngôi chùa nhỏ nên chẳng có cái gì quý cả, chỉ có một pho tượng Phật nhỏ bằng vàng. Sư trụ trì cất giữ rất kỹ nhưng không hiểu vì sao bọn người kia biết được, chúng tìm được pho tượng, bắn chết sư trụ trì, mang pho tượng chạy đi trước khi dân làng và bộ đội Việt nam kịp đến. Pho tượng được mua đi bán lại,…. cuối cùng lọt vào tay bà Chín V, một bà trùm buôn bán vàng ở Châu Đốc. Bà Chín V là người Việt gốc Miên, là một phật tử rất sùng đạo, bà hay qua lại bên Miên nên thấy pho tượng thì nhận ra đây chính là pho tượng bị cướp ở ngôi chùa nhỏ, liền mang qua Miên, cúng dường trả lại cho chùa. Các sư ở chùa nhận lại được pho tượng thì mừng lắm. Sau bao nhiêu năm lưu lạc pho tượng linh thiêng lại trở về nơi đất Phật. Đúng là có Phật Tổ phù hộ. Nào ngờ Hia (Sư huynh) xem kỹ lại thì nói pho tượng tuy là đúng nhưng cái ruột bên trong đã bị mất rồi. Hia không chịu nói đó là cái gì, mà nói cần phải qua Việt Nam để tìm lại vật đó. Hia không biết nói tiếng Việt nên dẫn anh ta theo. Hai nguời nhờ một “Pi-âm”(cảnh sát Miên) dẫn đường qua Việt Nam. Sau đó lên Châu Đốc tìm bà Chín V nhưng bà ta đã đi Trung Quốc, phải mấy tháng nữa mới về. Hia (Sư huynh) nói anh ta tạm ở lại nhà bà Chín V, Hia đi khoảng vài ngày sẽ về, anh ta chờ mãi, chờ mãi….cả mấy tháng trời mà Hia cũng không về. Anh ta quyết định ra đi tìm Hia (Sư huynh), lang thang khắp nơi, hết vùng Châu Đốc,Tịnh Biên, Tri Tôn, Bảy núi….rồi tới Chợ Mới, Phú Tân, Tân Châu, Bác Đai,…. qua tận Hồng Ngự, Sa Đéc .v.v….cả hơn hai năm nay mà cũng chẳng tìm thấy Hia đâu, muốn trình báo công an Việt Nam thì lại sợ không ai tin, sẽ bị trục xuất về nước vì lúc qua hai người đi theo đường của những người đi buôn nên chẳng có giấy tờ gì. Lạc “mả” nói “nhà sư này kể rằng Hia của anh ta võ nghệ, pháp thuật rất cao, tại sao lại biến mất như vậy mà không nhắn nhủ gì lại ? Anh ta nhớ lúc còn nhỏ, thấy pho tượng có oai lực phi thường, những người bị trúng phải tà ma, bùa ngải mê man gì thì chỉ cần đến gần pho tượng là hết liền. Pho tượng để trong chùa thì không bao giờ có ma quỷ, âm hồn, chuột bọ, rắn rít dám bén mảng tới. Nhiều tay tà sư bùa ngải cao thâm thấy pho tượng thì rất sợ hãi, cao bay xa chạy.
Lạc “mả” nghi ngờ cái “cục nhưn” của pho tượng chính là đồng đen nên mới dẫn nhà sư theo. Y nói “Theo nhà em biết thì đồng đen khắc tà rất mạnh nên người xưa mới cho vào bên trong ruột tượng Phật, người nào bị trúng phải tà khí, bùa ngải, ma nhập v.v…chỉ cần đứng cạnh là hết liền chứ chưa cần phải cúng kiếng gì cả - đồng đen cứng vô cùng, lửa đến gần nó thì dạt ra, dùng búa tạ đập nó cũng không để lại dấu vết, nó chỉ to bằng đầu ngón tay cái nhưng nặng đến hàng mấy ký lô. Người xưa cho vào trong ruột tượng, pho tượng nhiều khi lại sơn đen nên nhiều người không biết nói là tượng đồng đen chứ thực ra chỉ có viên đồng đen nhỏ bên trong ruột thôi, nó cứng phi thường như vậy nên không thể khắc, đúc gì được”. Lạc “mả” kết luận nếu câu chuyện của nhà sư là thật thì có thể truy theo tung tích những kẻ cướp tượng ngày xưa biết đâu có thể tìm ra nó.
ĐHC không mặn mà gì cái chuyện đi tìm đồng đen ở An Giang của Lạc “mả”, chuyện này thật quá nguy hiểm. Vùng đất này rất nhiều pháp sư bùa ngải người Việt hoặc người Miên thuộc hàng cao thủ, lỡ gây thù chuốc oán với họ thì kể như tàn đời. Còn giáo phái Hòa Hảo có những vùng thuộc lãnh địa riêng của họ, người ngoài bất khả xâm phạm…. Các băng buôn lậu hàng hóa, vàng, vũ khí, ma túy đang hoành hành ở An Giang. Do đó công an hình sự và bộ đội biên phòng cũng càn quét rất rát, đi xuống vào thời điểm này e rằng “ An Giang đi dễ khó về”.
Tuy nhiên một sự việc bất ngờ ngoài ý muốn đã làm thay đổi mọi sự. Thấy nhà sư người Miên thần sắc rất u ám nên ĐHC khuyên anh ở đây nghỉ ngơi một thời gian. Dẫn anh ta đi xem trang trại, anh tỏ ra rất thích thú nhưng không nói gì nhiều. Được khoảng ba ngày thì chiều hôm đó, sau khi tắm xong, nhà sư lên tấm phản nằm rồi anh ta không bao giờ tỉnh dậy nữa. Cái chết đột tử của nhà sư người Miên đúng là một tai họa, anh ta chẳng có giấy tờ gì trong người, chỉ biết anh ta tên là Chau-Bona-Rutsa ….Ngôi chùa anh ta ở thuộc tỉnh Tà-keo. Đồ đạc của anh để lại cũng chỉ mấy bộ đồ cũ, bình bát và một cái xà-rông. May mà Đại gia N.K “tiền nhiều như nước trong nguồn chảy ra” lo liệu nên sau hơn một tháng mọi việc cũng êm xuôi, tạm thời chôn nhà sư trong trang trại, bao giờ tìm được ngôi chùa sẽ cải táng sau.
Cái chết kỳ bí của  nhà sư người Miên cần phải để tâm suy nghĩ, lúc chết miệng anh ta hơi rỉ nước đen, lòng bàn tay, bàn chân có ánh xanh xanh…..Khi ĐHC nói với Lạc “mả” rằng nhà sư bị trúng phải ngải độc mà chết thì thấy Lạc “mả” “mặt xanh nhớt như tàu lá chuối”, rõ ràng y có chuyện còn giấu, quan hệ của y và nhà sư không hẳn giản đơn như vậy. Nhưng nhà sư chết rồi, anh ta không thể nói ra được nữa. Bị trúng ngải độc thường là phải chết liền, nhà sư này còn sống được thêm cả năm mười ngày nữa chứng tỏ kẻ ra tay pháp thuật phải rất cao cường, đã đạt đến trình độ muốn người ta chết lúc nào là chết lúc đó. Phen này Lạc “mả” cõng rắn về nhà, không đi với y về An Giang thì cũng không được.

Chiều hôm đó, sau khi uống tuần rượu tạm biệt Đại gia N.K, ĐHC và Lạc “mả” lên đường. Đại gia N.K rất nhiệt tình, cho tài xế lấy “con” Camry đời mới đưa ĐHC và Lạc “mả” xuống An Giang. Trên đường đi, xe ghé ngang qua Sài Gòn hoa lệ, đường phố thật đông đúc và náo nhiệt, đến nhà hàng Bát Đạt tại Chợ Lớn vào khoảng 8h tối, ăn món “Súp bát bửu” để phục hồi khí lực. Từ khi nghe lý do cái chết của nhà sư, thần sắc Lạc “mả” xem ra “xuống màu” trông thấy. Y đi đứng nói năng không còn tự tin như trước, hai con mắt lúc nào cũng dáo dác, ngó trước ngó sau. Ngồi ăn tối mà Lạc “mả” cứ suy nghĩ đâu đâu, không còn họat bát như trước.
Đến bắc Vàm Cống thì đã hơn 2h sáng. Trên chuyến phà chỉ có xe của ĐHC và một vài người buôn gánh bán bưng nữa. Đêm trên dòng sông Hậu thật thanh bình, phẳng lặng. Làn gió thổi nhẹ nhàng, mát rượi, sóng nước lăn tăn gợi nhớ về những ngày quá khứ...
Còn nữa
(Đại Hồng Cát- Nguồn: hoangthantai.com)