Thứ Sáu, 19 tháng 11, 2010

Bài trí hoa theo thuyết phong thủy

TTO - Hoa tươi không chỉ giúp không gian sống của bạn trở nên sinh động mà với mỗi loại hoa, từng màu sắc theo thuyết phong thủy lại có những ý nghĩa và mục đích khác nhau.
Chọn các loại hoa tươi và bền sẽ mang lại sức sống cho ngôi nhà - Ảnh: H.TR.
Theo thuyết phong thủy, tất cả các loại hoa tươi và cây cảnh nói chung khi được trưng bày trong nhà đều mang lại cho gia chủ sinh khí, sức khỏe, sự thịnh vượng, năng lượng sống.
Tuy nhiên, nguyên tắc đầu tiên khi trưng bày trong nhà là nên chọn những bông hoa tươi tắn, tràn đầy sức sống. Vì vậy bạn cần phải thường xuyên thay hoa để đạt được mục đích này hoặc dành thời gian để chăm sóc, cắt tỉa, nhất là những bình hoa cắm trong phòng khách. Ngược lại những bông hoa tàn úa, héo, rơi rụng sẽ mang đến những điều kém may mắn cho chủ nhân.
Đặc biệt không nên để hoa khô trong nhà vì nó là điềm báo hiệu những điều rủi ro có thể xảy đến với gia đình bạn, tuy thế bạn cũng có thể lựa chọn hoa giả để trang trí cho không gian sống vì nó cũng rất có lợi theo thuyết phong thủy, sẽ mang lại may mắn.

Thứ Năm, 18 tháng 11, 2010

Phát hiện la bàn ngà voi 100 tuổi

- Sở VHTT&DL Hà Tĩnh vừa phát hiện một chiếc la bàn bát quái cổ, bằng ngà voi được chế tác chạm khắc rất tinh xảo. Điều thú vị là cho tới nay chiếc la bàn này vẫn đang hoạt động bình thường.
 
Sáng 18/11, trao đổi với VietNamNet, ông Hồ Bách Khoa, Phó phòng Quản lý di sản (SVHTT&DL) Hà Tĩnh cho biết, chiếc la bàn này được ông Võ Đình Thi – Trưởng phòng nghiệp vụ Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh phát hiện trong một lần đi sưu tập hiện vật.

Ông Khoa cho biết, chiếc la bàn bát quái này có niên đại khoảng trên 100 năm tuổi, nó được làm từ thời Nguyễn, vào khoảng cuối thế kỷ XIX. Đây là một chiếc la bàn dùng để xác định phương vị tìm thế đất làm nhà ở, mạch nước để lập cư hay nơi táng mộ với kỳ vọng phát lộc, phát tài và thường được gọi là la bàn phong thủy hay là la bàn bát quái.
Chiếc la bàn vừa được tìm thấy. Ảnh: Bách Khoa


Theo mô tả, chiếc la bàn này có hình vuông, mỗi cạnh dài 6cm, dày 2cm được làm bằng ngà voi có chế tác, chạm khắc rất tinh xảo. Tâm la bàn hình tròn, các chi tiết như kim, phuơng vị, nắp kính còn nguyên vẹn, bao quanh tâm là gờ nổi con lươn bằng đồng đỏ.

Tiếp đến là 5 vòng tròn đồng tâm, vòng trong cùng có biểu tượng của 8 cung của bát quái – 8 phương vị chính (càn, cấn, khảm, chấn, khôn, đoài, ly, tốn). Vòng 2 có các điểm chấm. Vòng 3 có 25 ký tự biểu hiện 10 can (giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, tý) và 12 chi ( tý, sửu, dần, mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi). Vòng 4 có 72 ký tự; vòng 5 khắc họa 12 con giáp; ngoài cùng là vòng đôi giới hạn điểm cuối mặt chính; 4 góc la bàn chạm họa tiết trang trí và 4 cạnh được bao bởi các ô chữ S lồng nhau.

Thứ Ba, 16 tháng 11, 2010

Hồ Quí Ly và Mạc Đăng Dung

Trong một thời gian cách nhau hơn một thế kỷ, nước ta đã có hai trường hợp cướp ngôi. Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần năm 1400, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê năm 1527. Hai trường hợp khởi đầu trong một kịch bản tương đối giống nhau: một dòng họ hư đốn làm cho đất nước suy đồi, rồi một đại thần phế bỏ vua, tự lập lên ngôi. Trong cả hai trường hợp, vị vua cũ bị giết hại. Trong cả hai trường hợp, các triều thần của dòng vua cũ được mời ở lại giúp vua mới. Nhưng kết quả đã khác nhau, và sự phán xét của lịch sử đã rất lạ lùng.
Hồ Quí Ly là một đại thần bất lực, bên trong làm cho đất nước suy đồi, bên ngoài thì không giữ được bờ cõi. Quân Chiêm Thành ra vào cướp phá như chỗ không người, kinh đô mấy lần bị rơi vào tay quân địch, Hồ Quí Ly chỉ biết dắt vua bỏ chạy. Chẳng có công lao gì với đất nước nhưng Hồ Quí Ly cũng đã trấn áp được vua Trần rồi cướp ngôi. Hồ Quí Ly cũng tỏ ra đặc biệt bội bạc với đất nước Việt nam đã cho ông ta tất cả, ông ta vẫn tự coi là người Tàu dù tổ tiên đã lập nghiệp tại Việt nam từ bốn đời. Cướp được ngôi vua, Hồ Quí Ly, trước đó mang họ Lê theo bố nuôi, đã lấy lại họ Hồ theo họ cũ của mình và đổi tên nước ta từ Đại Việt thành Đại Ngu theo tên cố quốc của mình, rồi thi hành một chính sách cướp bóc ra mặt đối với dân chúng. Nguyên Trãi kể tội Hồ Quí Ly: Vừa qua nhà Hồ vì chính sách phiền hà làm cho lòng người oán giận. Kết quả là Hồ Quí Ly làm mất nước, nước ta lại rơi vào vòng Bắc thuộc sau gần năm trăm năm độc lập. Tội của Hồ Quí Ly đối với Việt nam thực là lớn. Thế nhưng xem ra Hồ Quí Ly chỉ bị lên án vừa phải thôi, không những thế còn được khen là con người lỗi lạc, một trí tuệ siêu việt và sáng tạo.

Thứ Sáu, 12 tháng 11, 2010

Mạc Đăng Dung & Vương triều nhà Mạc...

Trong các bộ chính sử của nhà nước quân chủ Việt Nam, kể từ “Đại Việt sử ký toàn thư” đời Lê - Trịnh đến “Việt sử thông giám cương mục” đời Nguyễn, cũng như trong quan niệm chính thống của các sử gia đương thời, có ba triều đại bị đặt ra ngoài lề của dòng chính sử, bị coi là “nhuận triều” hay “nguỵ triều” chỉ vì lẽ “cướp ngôi vua, giết vua thì danh không chính, ngôn không thuận, vì lẽ nghịch mà lấy được nước, nên không chép là chính thống”. Đó là các triều: nhuận Hồ, nguỵ Mạc và nguỵ Tây Sơn.

Thành nhà Mạc ở Lạng Sơn
Với quan điểm của sử học hiện đại, trong nhiều năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, chuyên khảo, với cách nhìn mới đã làm rõ được các mặt tiến bộ và hạn chế của các triều đại đó. Nhờ vậy đã có nhiều ý kiến tôn vinh nhà Tây Sơn như là một cuộc cách mạng, một đỉnh cao vinh quang của truyền thống chiến thắng giặc ngoại xâm, trong đó Quang Trung - Nguyễn Huệ được coi là biểu tượng của người anh hùng dân tộc. Hay như nhà Hồ, tuy ngắn ngủi nhưng đã được coi là một vương triều chứa đựng nhiều yếu tố cải cách tiến bộ nhằm giải quyết khủng hoảng trầm trọng làm tàn lụi nhà Trần. Mặc dù đã bị thất bại trước cuộc xâm lược của giặc Minh, nhưng nhà Hồ và Hồ Quý Ly vẫn được nhắc đến như một nhà cải cách, đáng được tiếp tục nghiên cứu.
Đối với nhà Mạc và Mạc Đăng Dung, dưới ngòi bút của các sử gia phong kiến, tư sản thì thật tồi tệ. Các bộ chính sử của các triều đại sau vẫn miệt thị, lên án Mạc Đăng Dung đủ điều, nhất là tội chuyên quyền, cướp ngôi vua và đầu hàng giặc Minh. Triều Mạc được xếp vào nguỵ triều. Lê Quý Đôn, trong một vài tác phẩm của mình, hoặc xem nhà Mạc không tồn tại (Kiến Văn tiểu lục), hoặc xếp vào hàng nghịch thần (Đại Việt thông sử). Bộ sách mang tính chất Bách khoa của Phan Huy Chú - Lịch triều Hiến chương loại chí - sau này cũng chỉ bàn tới nhà Mạc như một dị biệt... Quan điểm ấy còn kéo dài hơn nữa trong cả thời cận và hiện đại qua các tác phẩm của Trần Trọng Kim (Việt Nam sử lược), Phan Xuân Hoà (Lịch sử Việt Nam)... và cho tới cả bộ Lịch sử Việt Nam tập I do Uỷ ban KHXH Việt Nam chủ trì biên soạn xuất bản lần đầu năm 1971, tái bản năm 1976 vẫn coi nhà Mạc là một tập đoàn quân phiệt vì lợi ích của dòng họ mà cướp quyền, đoạt ngôi... và họ Mạc tự chuốc lấy sự phẫn nộ của nhân dân...

Lưu Văn Khuê với tiểu thuyết lịch sử “Mạc Đăng Dung”

Tác giả Lưu Văn Khuê - hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng - đã có gần 30 năm cầm bút sáng tác truyện cho thiếu nhi, với những cuốn truyện vừa Hành tinh màu da cam (NXB Kim Đồng - 1991) - tác phẩm đoạt Giải thưởng của Trung ương Đoàn và Hội Nhà văn Việt Nam, Có một mùa bóng đá (NXB Kim Đồng - 1990) mới đây được Hãng phim Giải Phóng dựng thành phim U14 đội bóng trong mơ. Lưu Văn Khuê còn có một loạt tác phẩm về đề tài lịch sử và đề tài cách mạng. Mới đây, anh được NXB Hải Phòng cho ra mắt bạn đọc liền 2 tiểu thuyết. Tiểu thuyết Một thời vệ quốcviết về những năm tháng của đất nước trong thời kì "ngàn cân treo sợi tóc". Tác giả dựa trên tư liệu lịch sử về những sự kiện diễn ra ở Hải Phòng từ sau Cách mạng tháng Tám đến ngày nổ ra “Sự kiện Hải Phòng”, ngày đánh dầu cho thành phố Cảng mở đầu ở Miền Bắc bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp. Còn tiểu thuyết lịch sử Mạc Đăng Dung viết về thân thế và sự nghiệp một danh tướng đã lập lên vương triều Mạc cùng những thăng trần của đất nước ta trong thế kỉ XVI.
Trong nền văn học Việt Nam, mảng thể loại tiểu thuyết lịch sử không mạnh. Suốt cả thời kỳ phong kiến cho đến những năm Pháp thuộc, chỉ thấy nhắc đến những tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái và Trùng Quang tâm sửcủa Phan Bội Châu. Sau này, trong nền văn học Việt Nam hiện đại, vẫn rất ít người viết tiểu thuyết lịch sử, vì nó ít được chú ý, nên cũng rất ít tác phẩm có thể để lại dư âm lâu dài. Trong tình hình đó, có được một cuốn tiểu thuyết lịch sử như tác phẩm Mạc Đăng Dung (NXB Hải Phòng - 2007) của nhà văn Lưu Văn Khuê thì thật là đáng quý và đáng đọc.

Để dễ tiếp cận với nội dung cuốn tiểu thuyết Mạc Đăng Dung của Lưu Văn Khuê cũng như những cuốn tiểu thuyết lịch sử của các tác giả khác, xin trước hết được lạm bàn đôi chút về thể loại văn học lịch sử này. Trên thế giới tồn tại nhiều trường phái, cũng là do có những quan niệm khác nhau về tiểu thuyết lịch sử, về cách viết truyện lịch sử. Tuy nhiên, vẫn có thể qui vào 2 quan niệm bao trùm. Thứ nhất là tôn trọng sự kiện lịch sử, từ đó hư cấu. Thứ hai là không coi trọng sự thật lịch sử, coi lịch sử chỉ là cái cớ. Có thể xếp hầu hết các tiểu thuyết lịch sử cổ điển của Trung Quốc vào trường phái thứ nhất, dẫu tỉ lệ sự thật lịch sử và hư cấu đậm nhạt khác nhau, nhưng phần sự thật không bao giờ quá ít. Tiểu thuyết lịch sử Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung theo tỉ lệ “bảy thực ba hư” như chính tác giả tuyên bố. Còn tác phẩm Thuỷ hử của Ngô Thừa Ân thì phần hư cấu nhiều hơn, có lẽ là “ba thực bảy hư”. Đấy cũng là trường hợp tiểu thuyết Pie Đại đế của nhà văn Nga Alecxei Tolstoi. Có người coi cuốn Pie Đại đế thuộc loại tiểu thuyết tôn trọng sự thật lịch sử, còn tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa thì thuộc loại tiểu thuyết viết theo nhãn quan chính trị chính thống của thời đại mà tác giả đang sống. ở đây, cần nói một cách sòng phẳng là, dù có tôn trọng sự kiện lịch sử đến mấy, nhà văn nếu không bị chi phối bởi nhãn quan chính trị chính thống của thời đại thì cũng theo quan điểm của chính mình, nên không thể nói những nhà tiểu thuyết theo trường phái này là hoàn toàn tôn trọng lịch sử. Bởi chính các nhà viết sử – những người cần tôn trọng lịch sử hơn ai hết cũng vậy và nhiều khi còn bị phụ thuộc vào những gì có khi chính họ không muốn. Nói về thể loại văn học lịch sử, ở Trung Quốc và cả ở nước ta ngày trước, còn có các thể ký, truyện, chí. Đọc những cuốn Sử ký của Tư Mã Thiên hay cuốn Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, sẽ thấy nhiều chỗ có sức hấp dẫn của tác phẩm văn học và có cảm tưởng như được đọc những trang tiểu thuyết. Điển hình cho trường phái tiểu thuyết lịch sử thứ hai đã nói ở trên, là nhà văn Pháp Alexandre Dumas (cha) với những tác phẩm Ba chàng ngự lâm pháo thủ, Hoàng hậu Margo... Dumas từng nói: "Lịch sử là cái đinh, ở đó tôi treo móc những bức tranh của tôi". “Đi quá” hơn nữa là lối viết dựa vào các sự kiện lịch sử, nhưng làm nó biến dạng hẳn đi, đó là các tiểu thuyết dã sử, tiểu thuyết kiếm hiệp,... Với quan điểm như Dumas và các nhà viết truyện kiếm hiệp, có lẽ không nên xếp tác phẩm của họ vào loại tiểu thuyết lịch sử, vì cái gọi là lịch sử trong đó không thể tin cậy, với những người ít hiểu biết, thứ “lịch sử” đó thậm chí còn làm nguy hại tới nhận thức của họ. Như vậy, chỉ nên coi những truyện thuộc loại coi trọng sự thật lịch sử là tiểu thuyết lịch sử đích thực, bởi ở đó, nhà văn tái tạo lịch sử và chân dung nhân vật vốn đã định hình một cách trung thực theo quan điểm lịch sử và cái nhìn tiên tiến, sự hư cấu nghệ thuật không thể đi quá giới hạn cho phép.

Tảng đá thèm ăn thịt và giếng nước lúc cạn lúc đầy

Các thầy mo ở Hòa Bình thường nói: “Nhất thiêng đền Lu, thứ hai Bục Cả, thứ ba Khụ Khêng”. Khụ Khêng - Đình Khêng ở Mường Khêng (huyện Lạc Sơn) thờ ông Chưởng Tín, bà Triệu Ân. Theo tín ngưỡng dân gian của người Mường đây là nơi thu nạp hồn, vía các loại ma chết non, chết đột tử, chết vì dao kiếm.
 
Dạ Há được người dân đặt tên cho hòn đá tự nhiên, cao chừng 1 m, chân đế đường kính khoảng 1m nằm ngay ở chân núi. Còn trong các câu chuyện dân gian Mường thì Dạ Há là con vật ác, con vật này thường ăn thịt người. Tượng Dạ Há ở phía Đông Nam so với nhà đình, ngay cạnh sân đình. Người Mường thường cúng bằng cách vần tượng Dạ Há vào ngày mở hội.


Ông Bùi Văn Nhưởng, người Mường xóm Mận năm nay đã gần 80 tuổi, sống ở xã Văn Sơn (Lạc Sơn) kể ba năm làm hội một lần trên núi Khêng vào tháng rằm tháng hai lúc trăng non: Hội vui lắm, mổ một trâu, một lợn cả làng lên núi ăn trong hai ngày hai đêm. Trước hội là lễ múc nước cho vua ở giếng tại ruộng Tình Khêng. Bình thường mùa hạn giếng này không hề có nước, chỉ có một lỗ nhỏ như lỗ cua. Bố tôi sai tôi đi lấy đất để be xung quanh cái lỗ đấy lên, tôi bảo: “Có quái gì nước mà be hở bố?”. Bố tôi lừ mắt bảo: “Cứ ra mà làm”. Ban ngày tôi ra đắp, be giếng tử tế. Mười hai giờ đêm hôm đó, bố tôi bảo ra lấy nước về đóng rượu cần cho vua uống, tôi cãi, ban ngày ra be bờ giếng có nước đâu, bố tôi bảo cứ ra mà lấy. Ra đến nơi, kỳ lạ thay nước đầy và trong vắt, mát lắm…


Hòn Dạ Há xưa kia có chiếc lưỡi bằng đá to bằng cái dép tông, về sau bị người nào nghịch ngợm lấy mất. Trước hội, dân làng treo tảng thịt lợn vào cổ tảng đá, lấy bốn cái đòn buộc bằng chão chòng vào. Nhà thầy cúng sau khi gieo quẻ âm dương, ông Dạ Há muốn quay hướng nào đông, tây, nam, bắc thì quẻ phải một sấp một ngửa. Gieo quẻ xong ông thầy cúng khấn: “Hôm nay ông muốn đi ăn hướng nào?”. Bốn thanh niên khỏe cầm đòn xoay hòn đá. Mồm Dạ Há quay hướng nào thì hướng đó người hay bị ốm đau, chăn nuôi súc vật, trồng trọt hay bị dịch bệnh.

Lời nguyền khủng khiếp của hang Nủa ở Thanh Hóa

Kể từ khi tìm thấy những cổ vật trong hang, cũng là lúc xuất hiện rất nhiều tin đồn khủng khiếp về những lời nguyền. Không chỉ với mỗi dân bản mà còn cả với những người ở xa chưa biết đã có hành động xâm phạm đến hang Nủa. Người thì đang đêm bị ma dựng cả giường, người thì chết bất đắc kỳ tử, người thì trở nên lẩn thẩn, nhất là những kẻ đào trộm cổ vật đi bán kiếm lời (!?). Có một điểm chung nhất, nếu như còn sống sót thì cũng phải mang hương hoa đến trước hang cầu khấn tạ tội với thần linh và không một ai dám quay lại cái hang huyền bí đó lần thứ hai.
Phát điên vì sợ


Hoàng và mấy anh thanh niên đang chờ sẵn trên miệng hang, thấy mọi người ngoi lên, anh ta hỏi: "Nhà báo thu hoạch được nhiều không? Tôi đang chờ để đưa nhà báo tới một nhân chứng sống đây". Sau đó Hoàng dẫn chúng tôi đến một ngôi nhà sàn khuất phía sau bản. Đó là nhà của một người đàn ông tên Khánh. Quây quần bên bữa cơm trưa với những mòn ăn quen thuộc của người Thái, khi nhắc đến câu chuyện trong hang Nủa, ông Khánh vẫn nhớ rõ từng chi tiết.


Trước đây, ông Khánh là một người "vô thần vô thánh", không tin vào những chuyện tâm linh. Hồi trước ông sinh sống bằng nghề buôn bán cổ vật, "đến mộ cổ còn dám giữa đêm lén lút đào phá tìm kiếm cổ vật". Thế nhưng, khi ngồi với chúng tôi kể về những chuyện ở hang Nủa, trên mặt ông còn thể hiện nét kinh hãi. Trước khi kể chuyện, ông Khánh vạch cho chúng tôi xem một vết cháy sém to tướng trên đùi -dấu tích khiến ông kinh hoàng sau lần "dại dội" vào hang Nủa tìm cổ vật. (?!)
Ông Khánh đang kể lại chuyện lần vào hang Nủa. 


Rồi ông Khánh kể: Mấy năm trước, khi biết tin đã có người phát hiện có dấu tích người cổ thời trước sinh sống trong hang Nủa và đào được một ít tiền vàng, ông cũng chuẩn bị cơm nắm quyết tâm săn lùng cổ vật. Lặn lội mấy ngày trong hang, lần mò đến những bãi đất trống bên dòng sông ngầm, hì hục mãi ông Khánh cũng đào được một cái bình sứ nhỏ có hoa văn rất lạ, cộng với mấy cái đĩa bát cổ. Hơi thất vọng vì không đào được vàng, nhưng nghĩ mấy thứ này bán cho dân buôn đồ cổ cũng được khối tiền nên ông hí hửng ra về.


"Đến ngay chỗ cây cột đá và bệ rồng, bỗng dưng tôi nghe một tiếng gầm, không rõ là của con vật gì, nháo nhác nhìn xung quanh, tôi thấy ngay trên bãi cát chỗ hồ nước xuất hiện một vết chân trâu cực lớn, rồi một luồng gió cực mạnh ào ào thổi đến. Ngay lúc ấy, cây đèn măng - xông tôi mang theo bỗng phát nổ, cháy sém hết quần áo, tôi đau quá nằm ngất không biết gì nữa" -ông Khánh nhớ như in phút giây hãi hùng.


Không biết bao lâu mới tỉnh lại, thần hồn nát thần tính, ông Khánh vội tìm vào chỗ đào đất cũ trả lại những cổ vật ấy, rồi nhanh chóng tìm đường thoát ra ngoài. Sau lần ấy, không biết sợ quá hay bị điều gì mà một thời gian sau ông trở nên điên điên khùng khùng, lơ nga lơ ngơ, không biết gì suốt mấy tháng trời. Gia đình hoảng hồn nhờ thầy mo cúng bái trong hang suốt cả tuần, cộng với điều trị trên bệnh viện, mãi về sau mới trở lại bình thường. Tuy nhiên, thi thoảng nổi bệnh, ông lại kêu rú ầm ĩ, bỏ đi khắp nơi báo hại gia đình đi tìm nháo nhác.