Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2012

THỬ VÉN MÀN HUYỀN THOẠI AN DƯƠNG VƯƠNG

KS. PHAN DUY KHA
Cổ Loa thành ốc khác thường
Ngàn năm dấu tích chiến trường còn đây.
(Ca dao cổ)
Cũng như thời đại các vua Hùng, triều đại An Dương Vương được lịch sử ghi lại chủ yếu dựa vào truyền thuyết. Khác với thời các vua Hùng, các truyền thuyết về An Dương Vương xoay quanh một “thực thể” có thật – thành Cổ Loa. Người ta có thể thêu dệt nên huyền thoại nhưng không thể “bịa” ra cả một tòa thành. Thành Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội) là chứng tích vật chất hùng hồn của triều đại An Dương Vương. Tương truyền Cổ Loa có chín vòng thành, nay còn lại dấu tích ba vòng. Thành nội hình chữ nhật, có chu vi l,6Km, cao 5m, mặt thành rộng l0m, chân thành từ 20 – 30m. Thành giữa hình đa giác, có chu vi 6,5km, cao 6 – 12m. Thành ngoại có chu vi 8km, cao trung bình 4 -5m (trải hơn 2.200 năm bị nắng mưa bào mòn và con người tàn phá mà thành còn như thế, chắc rằng khi mới xây dựng, thành rất hùng vĩ!). Nơi đây, Thục An Dương Vương và triều đình của ông trị vì quốc gia được 50 năm (257 – 208 trước Công nguyên)(1).

Bùa ngải trên đất Lào

Chưa một chính thể nào hợp pháp hóa Khoóng-đì (bùa ngải) và khoóng-hặc-sá (vật phòng thân), nhưng không vì thế mà hai môn nầy bị giảm giá trị đối với dân Lào - tất cả, bất luận bộ tộc và giai tầng xã hội. Hầu như không người Lào nào không giữ một vài món bửu bối phòng thân tục gọi Khoóng-hặc-sá cũng như không ai ở Lào mà không từng nghe nói tới Khoóng-đì, còn được gọi là Vicha Akhom (vi-sa a-khôm).

Khoóng-hặc-sá là gì ?


- Khoóng-hặc-sá hay Vật Phòng Thân là tên gọi chung cho các lọai Kà-thá (bửu bối) do các sư Lào làm ra với mục đích duy nhất và đầy thiện ý là giúp các tín hữu trong việc phòng thân, tự vệ ; hòan tòan không thể dùng Khoóng-hặc-sá để tấn công hay làm hại người khác.


Kà-thá có nhiều hình dạng khác nhau:


A. Một miếng vải màu vàng nghệ có ghi vài bí ngữ và ẩn số hay vẽ hình kỷ hà khó hiểu.

Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

Thực hư giếng thần xứ Mường và khúc gỗ 'trấn' long mạch

Từ lâu lắm rồi, người bản Khộp xã Ngọc Lâu (Lạc Sơn, Hòa Bình) đã thấy giếng thần ngự ngay đầu bản. Và dưới đáy của giếng thần là khúc gỗ kỳ lạ cũng không biết có tự bao giờ. Nếu vớt khúc gỗ ấy lên, cả bản Khộp sẽ không còn một giọt nước.
Giếng không bao giờ cạn

Ông Bùi Văn Chấn, Chủ tịch UBND xã Ngọc Lâu tự hào: “Xã miền núi chúng tôi có cái giếng thần nghìn tuổi. Dù trời có hạn thì đồng ruộng cũng không sợ hết nước”. Nói xong, ông dẫn chúng tôi đến bản Khộp cao chót vót trên đỉnh núi để mục sở thị giếng thần kỳ lạ này.

Quan sát kỹ, đó là một mó nước đã được xây dựng lại, bốn bên được đổ bằng bê tông vuông vức. Ông Bùi Văn Huy, Trưởng ban Văn hóa xã Ngọc Lâu cho hay: “Trước đây, giếng thần là một mó nước tự nhiên. Vì sợ bị mai một nên chúng tôi cho xây dựng tường bao để bảo vệ. Tuy nhiên, tính linh thiêng và mực nước trong giếng vẫn không hề thay đổi”. Lạ cái, trải qua nhiều mùa khô hạn, nhưng nước giếng chưa bao giờ vơi cạn dù cho cả làng có múc đổ đi hay dùng máy bơm ra ngoài.

VỀ TẤM BIA THỜI TÙY (601) MỚI PHÁT HIỆN Ở CHÙA GIÀN – HUỆ TRẠCH TỰ

Nguyễn Quang Hà[1]
Chùa xã Trí Quả (Huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) tên chữ là “Huệ Trạch tự”, hay còn có tên Nôm là chùa Giàn - Một trong Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Điện, Pháp Lôi, Pháp Vũ) trong tín ngưỡng thờ tự ở vùng Dâu. Hiện nay  các vị trong làng kể lại về lai lịch của chùa: Vào thời Trần, con trai của Đức vua Trần Hưng Đạo là Trần Hồng khi đánh giặc Mông Nguyên được Phật độ cho nên đã đánh thắng giặc do đó ban cho tên chùa là “Huệ Trạch tự) (惠澤寺). Chùa trước đây có gác chuông cổ nhưng đã bị phá đi để làm cầu. Trong chùa còn một chiếc chuông đồng niên đại thời Lê, trên 4 núm có khắc “Huệ Trạch tự chung” (惠澤寺鍾). Ngoài sân, trước tòa Tam bảo hiện còn tấm bia 4 mặt, mặt chính trên trán bia ghi: “Huệ Trạch tự”(惠澤寺), mặt thứ tư phần niên đại ghi: Chính Hòa nhị thập niên (1700) nội dung về việc cúng tiền xây gác chuông và cúng ruộng vào chùa. Ở gian phải của tòa Tam bảo còn một cây hương, trên đó có khắc tên người cung tiến. Chùa còn giữ được hai sắc phong. Đạo sắc thứ nhất phần niên đại ghi 25 tháng 7 năm Khải Định 9 (1924). Nội dung ban tặng: (…)“Diệu Cảm Nhiên Phù, Chương Hiển Đôn Ngưng, Dực Bảo Trung Hưng Thành Hoàng Linh Ứng Tôn Thần”(耀感然孚章顯敦凝翊保中興城皇靈應尊神). Sắc thứ 2 cũng có cùng ngày tháng năm với Đạo sắc trên với đối tượng được ban là: (…)

Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

THỬ GIẢI MÃ TRUYỀN THUYẾT THÁNH GIÓNG

KS. PHAN DUY KHA
Cậu bé Gióng lên ba tuổi bỗng trở nên to lớn dị kỳ, cưỡi ngựa sắt, mặc giáp sắt, đội nón sắt, cầm gậy sắt. Đánh đuổi giặc Ân xâm lược. Giặc tan, Gióng một mình một ngựa lên núi Sóc Sơn, bay về trời. Câu chuyện trên đã bị phủ một lớp sương mù huyền thoại dày đặc, nhưng nếu dùng nhãn quan ngày nay, chúng ta vẫn có thể thấy được cốt lõi của sự thật lịch sử…
Thánh Gióng, người anh hùng của nhân dân.
Theo truyền thuyết thì Thánh Gióng thuộc về đời Hùng Vương thứ 6. Cũng như nhiều truyền thuyết khác, chúng ta không thể xác định được thật chính xác niên đại, nhưng có thể ước đoán mốc thời gian của câu chuyện vào khoảng thế kỷ VI – V trước Công nguyên (tr. CN), tức là sau khi triều Hùng ra đời khoảng trên 100 năm. Niên đại này nếu đem đối chiếu với niên đại khảo cổ học là hoàn toàn phù hợp. Truyền thuyết Thánh Gióng ở vào sơ kỳ thời đại đồ sắt (lúc đó sắt được coi là vật liệu lý tưởng), cách ngày nay vào khoảng 2.500 năm.
Gióng là con một bà mẹ nghèo ở miền quê, không biết bố là ai (sau này người ta thần thoại hóa bằng chi tiết bà mẹ giẫm vào dấu chân khổng lồ mà thụ thai – một chi tiết có ở nhiều câu chuyện cổ về các nhân vật thần kỳ). Vì không chồng mà chửa, người mẹ ấy đã phải chịu bao tủi nhục cay đắng: bà đã bị đuổi ra khỏi làng, lên rừng Trại Nón (nay là Phù Dực) đề sinh ra Gióng; bà đã phải bắt ốc, mò cua để nuôi con. Chi tiết đó vẫn còn lại trong truyền thuyết: khi bà đẻ Gióng, trời bỗng cho nhiều cua, ốc và nhiều cá để bà lấy sữa nuôi con. Là một người mẹ nghèo khổ, sinh ra Gióng trong điều kiện như vậy, bà bị mọi người hắt hủi (sau này trong lễ hội; làng xưa kia đã đuổi mẹ Gióng không được làm chủ hội – đây cũng là một hình thức xử lý của tâm thức dân gian đối với thái độ xử không công bằng với mẹ Gióng trước đây). Gióng lớn lên bằng cơm, cà những thức ăn bình dân của quê hương và uống nước sông quê” Một bữa ăn của Gióng: Bảy nong cơm, ba nong cà. Uống một hơi nước, cạn đà khúc sông.

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2012

ĐÂU LÀ QUỐC ĐÔ ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT ?

KS. PHAN DUY KHA
Núi Hồng Lĩnh (tức Ngàn Hống) là một trong những danh sơn của đất nước được chọn khắc vào “cửu đỉnh” (9 chiếc đỉnh bằng đồng đặt ở sân Thế Miếu, kinh đô Huế). Núi nằm giữa ba huyện Nghi Xuân, Đức Thọ, Can Lộc của tỉnh Hà Tĩnh. Tương truyền núi có 99 đỉnh, đỉnh cao nhất 676m. Theo Ngọc phả Hùng Vương thì chính ở phía Tây – Nam dãy núi này, ngày xưa là đô thành của Kinh Dương Vương.
Vị trí đó đã được Ngọc phả xác định tương đối cụ thể: ở chân núi Thiên Tượng thuộc làng Bình Lãng (tên cổ là Kẻ Vọt) và ở tả hữu Thiên Lộc, nội ngoại Thiên Lộc (thuộc hai xã Thiên Lộc và Phúc Lộc, huyện Can Lộc ngày nay). Đây là một vùng đất cổ. Theo một cuốn địa phương chí thì ở vùng Can Lộc này 2/3 số làng cổ có tên nôm là Kẻ, ví dụ: Kẻ Vọt (Bình Lãng), Kẻ Treo (Đậu Liêu), Kẻ Cài (Thanh Lộc), Kẻ Lù (Hồng Lộc), Kẻ Chòi (Tân Lộc)… Những làng này đều nằm ở phía Tây – Nam Ngàn Hống, trùm lên vị trí kinh đô xưa.
… Không phải ngẫu nhiên mà những người lập Ngọc phả lại ghi nhận nơi đây là quốc đô đầu tiên của ngươi Việt. Chúng ta biết rằng, ngay kinh đô Văn Lang của các vua Hùng, ngày nay chúng ta vẫn chưa xác định được vị trí cụ thể, thì việc một kinh đô có trước thời kỳ Hùng Vương hàng ngàn năm, lại được xác định một cách cụ thể như thế chứng tỏ rằng nó đã từng tồn tại lâu dài và để lại những dấu ấn đặc biệt.

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012

BÀN VỀ GIAI THOẠI CỘT ĐỒNG MÃ VIỆN

Tôn Thất Thọ
Lịch Đạo Nguyên (466 hoặc 472-527) khi biên soạn Thủy kinh chú sớ đã chú thêm:
“Theo Cựu đường chí, Mã Viện đi đánh dân Man Lâm Ấp, đến quận Nhật Nam, lại đi về phía nam hơn 400 dặm là đến nước Lâm Ấp, lại đi về phía nam hơn 2.000 dặm, có nước di Tây Hồ. Viện trồng hai cột đồng ở biên giới phía nam quận Tượng Lâm, phân ranh giới với nước di Tây Hồ để ghi lại đức tốt của nhà Hán”. (Thủy kinh chú sớ, Sđd, tr.395)
Ở nước ta, các sử thần ở các triều đại đã chép về chuyện cột đồng đó như sau:
- Trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Cương mục):
“Năm Quý Mão (43 sau CN). Tháng Giêng, mùa Xuân, Trưng Trắc cùng em gái là Nhị cự chiến với quân Hán. Hai bà bị thua và mất – Trưng Vương cùng em gái là Trưng Nhị cự chiến với quân Hán, quân vỡ, thế cô, đều bị thất trận chết. Mã Viện đuổi đánh tàn quân của hai bà là bọn Đô Dương, đến huyện Cư Phong thì hàng phục được họ. Mã Viện lập cột đồng để ghi đại giới tận cùng của nhà Hán. Khi Mã Viện về rồi, người trong nước thương nhớ Trưng Vương, lập đền thờ bà”. (Cương mục, Sđd, tr.109).